Trang

▼

Kinh tế gia cười

▼

Kinh tế - Xã hội - Môi trường

▼

26.7.21

John Maynard Keynes: điều khác thường ở một nhà kinh tế là ông đã không nghĩ rằng mọi người đều rất duy lý

JOHN MAYNARD KEYNES: ĐIỀU KHÁC THƯỜNG Ở MỘT NHÀ KINH TẾ LÀ ÔNG ĐÃ KHÔNG NGHĨ RẰNG MỌI NGƯỜI ĐỀU RẤT DUY LÝ

Eugenio Proto

John Maynard Keynes là một trong những Người khổng lồ của Kinh tế học hiện đại (Nguồn: Alamy)

Khi mọi người nghĩ tới John Maynard Keynes, người đã qua đời cách đây 75 năm vào ngày 21 tháng 4, họ có thể nghĩ đến những ý tưởng của ông về mức cầu kinh tế và việc chính phủ cần phải chi tiêu như thế nào để vượt qua được thời kỳ suy thoái. 

Kinh tế gia nổi tiếng nhất nước Anh được biết đến nhiều nhất với tư cách là công chức và cố vấn Bộ Tài chính một thời, người sở hữu những tư tưởng đã thống trị chính sách kinh tế trong những thập niên giữa thế kỷ 20. Ông qua đời khi mới chỉ 62 tuổi sau khi lãnh đạo các cuộc đàm phán cam go và kéo dài liên tục trong nhiều năm cho Vương quốc Anh về hệ thống tài chính quốc tế thời hậu chiến và hiệp định cho vay Mỹ Ănglê .

Nhưng với tư cách là một nhà kinh tế học hành vi, tôi muốn tập trung vào một khía cạnh khác, ít được biết đến hơn trong di sản của Keynes. Quan điểm của ông về điều mà ông gọi là “những bản năng động vật”, hay sự lạc quan của con người, đại diện cho một bộ phận quan trọng trong kinh tế học hành vi ngày nay. Quan điểm này cũng tạo tiền đề cho những ý tưởng nổi tiếng sau này của Keynes và ẩn chứa nhiều gợi ý quan trọng cho các chính phủ trong nỗ lực phục hồi kinh tế từ đại dịch COVID-19.

Mức cầu và những bản năng động vật

Đầu tiên, cần phải trình bày sơ lược về đóng góp chính của Keynes đối với lý thuyết kinh tế vĩ mô. Ông đã thách thức quan điểm chính thống tân cổ điển trong thời đại của mình cho rằng một nền kinh tế phó mặc cho chính nó tự vận hành sẽ tự động đạt được toàn dụng lao động trong ngắn hạn đến trung hạn.

Khi các nhà kinh tế học tân cổ điển tin rằng cung quyết định cầu, thì Keynes nói rằng ngược lại. Thay vì để giá cả và tiền lương điều chỉnh giảm nhanh chóng trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khiến cho cầu nhanh chóng thích ứng với cung, Keynes lại cho rằng thị trường không đủ hoàn hảo để đạt được điều này – trước hết là đối với lao động, vì cắt giảm tiền lương của người lao động trong thời điểm mọi thứ ngày càng khó khăn là việc đặc biệt phiền não đối với các công ty.

Đài tưởng niệm tại 46 Gordon Square,
London, Christian Luts , CC BY-SA

Thay vào đó, cầu có khả năng bị duy trì ở mức thấp và nền kinh tế có thể trải qua giai đoạn thất nghiệp kéo dài. Keynes cho rằng, để đưa nền kinh tế tiến tới toàn dụng lao động, nhà nước phải can thiệp.

Keynes lập luận rằng dự kiến của mọi người góp phần giữ cho nhu cầu ở mức thấp, và chính lúc này quan điểm của ông về sự lạc quan được ứng dụng. Người tiêu dùng sẽ giảm việc mua sắm và các doanh nghiệp sẽ đầu tư ít hơn nếu họ trông đợi rằng nền kinh tế sẽ suy thoái trong một tương lai có thể dự đoán được.

Với một sự thay đổi triệt để so với quan điểm của hầu hết các nhà kinh tế học vào thời điểm đó và trong nhiều thập kỷ về sau, Keynes cho rằng những kỳ vọng này ở con người không hoàn toàn dựa trên lý trí, mà về cơ bản lại dựa vào tâm lý của họ, hoặc họ đang cảm thấy lạc quan đến mức nào. Như ông đã giải thích trong cuốn sách lừng danh nhất của ông , Lý thuyết tổng quát về việc làm, tiền lãi và tiền tệ [The General Theory of Employment, Interest and Money] (1936):

Có lẽ đối với các quyết định của chúng ta nhằm thực hiện điều gì đó có tính xây dựng thì hệ quả đầy đủ của chúng sẽ trải dài trên nhiều ngày sau này chỉ có thể được coi là kết quả của những bản năng động vật – của một sự thôi thúc tự phát để hành động hơn là không hành động, và không phải kết quả của phép tính trung bình có trọng số bao gồm các lợi ích định lượng nhân với các xác suất định lượng.

Cũng từ lập luận này, Keynes nhận thấy chi tiêu của chính phủ không chỉ quan trọng trong việc hỗ trợ sự tiêu thụ của người tiêu dùng và doanh nghiệp, mà còn nhằm khích lệ các cá nhân để niềm tin của họ vào nền kinh tế luôn được duy trì ở mức cao, tránh tạo ra một sự sụp đổ trong kỳ vọng của họ.

Kết luận này phụ thuộc vào quan điểm về quá trình ra quyết định của con người gần giống với quan điểm của các nhà kinh tế học hành vi ngày nay (Keynes rất có thể đã ảnh hưởng đến một trong những văn bản mấu chốt trong lĩnh vực kinh tế học hành vi, dù cho điều này chưa bao giờ được thừa nhận một cách rõ ràng). Hành vi của con người không hề - hoặc không chỉ - là kết quả của sự tính toán dựa trên lý trí bằng cách sử dụng thông tin đã có sẵn, mà còn bị tác động bởi nhiều thứ khác như những xúc cảm, những nhận thức sai lầm và những qui tắc thường nghiệm (rules of thumb).    


The General Theory of
Employment, Interest and Money

David Ricardo (1772-1823) 

Rốt cuộc, trong một thế giới nơi mọi người hoàn toàn duy lý, việc tăng chi tiêu của chính phủ sẽ đem lại hiệu quả kém hơn nhiều. Mọi người sẽ nhận ra chính phủ của họ đang mắc nợ nhiều hơn để tăng chi tiêu công và họ sẽ lường trước được việc thuế rất có thể sẽ tăng trong tương lai để bù đắp chi phí. Thay vì đi ra ngoài và chi tiêu bất kỳ khoản tiền nào họ nhận được từ sự hào phóng của chính phủ, họ sẽ tiết kiệm số tiền đó để trả cho các khoản thuế trong tương lai (còn được gọi là tương đương Ricardo).

Điều đáng lưu ý, Keynes lại quan tâm đến hiệu quả về mặt kinh tế của các khoản chi tiêu công vào những thứ như những cây cầu hoặc những tuyến đường sắt, hơn là quan tâm tới lợi ích công cộng mà chúng cung cấp. Nếu cần thiết, lấy danh nghĩa khơi lên ngọn lửa nhu cầu và kỳ vọng của người dân, “Chính phủ nên trả tiền cho người dân trong việc tự đi đào những cái hố trên mặt đất và rồi trả tiền cho việc lấp chúng lại”.

Kỷ nguyên COVID

Những ý kiến của Keynes về tình trạng đình đốn và nạn thất nghiệp đã được hun đúc suốt thời kỳ đại suy thoái của những năm 1930. Quan sát tình trạng chen chúc nhau thất nghiệp trên đường phố có lẽ là một nguồn cảm hứng quan trọng, và các khuyến nghị của ông đã sớm được áp dụng bởi khắp các chính phủ trên toàn thế giới.

Tầm ảnh hưởng của ông suy giảm trong những năm 1970, giai đoạn khi các nền kinh tế phải đối mặt với những thách thức rất khác nhau dưới dạng tăng trưởng thấp và lạm phát cao (tình trạng đình đốn và lạm phát được biết đến kể từ đó). Các nhà kinh tế thường nghĩ rằng tăng cường chi tiêu công sẽ chỉ gây ra sự gia tăng tình trạng lạm phát, do đó các chính phủ đã tìm kiếm những lời giải khác, chẳng hạn như giải phóng năng lực kinh doanh thông qua sự bãi bỏ quy định và sự kiểm soát nguồn cung tiền.

Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà các quan điểm của Keynes một lần nữa được quan tâm trở lại trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2007 đến 2009, khi chính phủ các nước thất bại trong việc giải cứu nền kinh tế thế giới khỏi hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính.

Thủ tướng Đảng Bảo thủ Rishi Sunak đã gây ra những sự ồn ào về việc tăng thuế. Mark Thomas / Alamy

Nhìn nhận về thời đại COVID, Keynes chắc chắn sẽ cảm thấy hài lòng khi chứng kiến những biện pháp can thiệp mạnh mẽ của các chính phủ hầu hết trên toàn thế giới nhằm duy trì tiêu dùng và tình trạng việc làm. Nhưng niềm vui sẽ giảm đi phần nào khi ông biết đến các cuộc thảo luận xung quanh việc cắt giảm thâm hụt đang bắt đầu diễn ra trong chính phủ Vương quốc Anh và giữa các nghị sĩ đảng Bảo thủ.

Keynes sẽ cảm thấy rằng những cuộc thảo luận này rồi sẽ suy sụp những kỳ vọng, khiến cho sự phục hồi kinh tế thậm chí còn khó khăn hơn. Mặc dù có thể ông sẽ đồng ý rằng các chính phủ phải giải quyết các khoản thâm hụt của họ vào thời điểm thích hợp, Keynes cũng sẽ hối thúc họ tránh các cuộc thảo luận như vậy cho đến khi đại dịch và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế đi đến hồi kết.

Giới thiệu tác giả

Eugenio Proto

Eugenio Proto

Eugenio Proto nhận danh hiệu Giáo sư Alec Cairncross thuộc ngành Kinh tế Ứng dụng và Kinh trắc học tại Trường Kinh doanh Adam Smith, Đại học Glasgow, và là Nghiên cứu viên của các tổ chức CEPR, IZA, CESifo. Ông lấy bằng Tiến sĩ Kinh tế tại Trung tâm nghiên cứu ECARES, thuộc Đại học ULB (ở Bruxelles, vương quốc Bỉ) vào năm 2004. Trước đây, ông là Trợ lý Giáo sư và Phó Giáo sư Kinh tế tại Đại học Warwick, và là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Bristol. Các mối quan tâm nghiên cứu của ông bao gồm từ Kinh tế học hành vi đến Kinh tế học phát triển, áp dụng các khái niệm của Tâm lý học và gần đây là của phân tích văn bản vào Kinh tế học . Ông đã đăng bài trên  các tạp chí kinh tế tổng quát hàng đầu như: Journal of Political Economy, Review of Economic Studies, Review of Economics và Statistics and Economic Journal ; trong một số tạp chí chuyên ngành hàng đầu và một vài tạp chí khoa học phổ thông quan trọng. Các công trình của ông đã được đăng trong các ấn phẩm của The Economist, tờ Washington Post, The Times, Guardian, Independent, Newsweek, Le Monde, Frankfurter Allgemeine, và trong hàng loạt các tờ báo và tạp chí quan trọng khác. Ông hiện là biên tập viên học thuật của Tạp chí Plos One và là phó tổng biên tập của tạp chí Journal of Economic Behavior and Organization

Uông Sĩ Vinh dịch

Nguồn: John Maynard Keynes: unusually for an economist, he did not think people were very rational, The Conversation, 21 tháng 4 năm 2021