9.11.16

Phỏng vấn Franco Modigliani

Franco Modigliani (1918-2003)

PHỎNG VẤN FRANCO MODIGLIANI (1918-2003)

Brian Snowdon và Howard R. Vane
Franco Modigliani hiện nay là Institute Professor Emeritus of Economics and Finance tại Masachusetts of Institute Technology. Ông được biết đến nhiều hơn nhờ những đóng góp có ảnh hưởng sâu xa về lí thuyết kinh tế vĩ mô và lí thuyết tiền tệ. Năm 1985, ông được giả Nobel về kinh tế nhờ “những phân tích tiên phong về tiêu dùng và những thị trường tài chính”.
Chúng tôi phỏng vấn Giáo sư Modigliani tại văn phòng của ông ở MIT ngày 31 tháng mười 1997.
Thông tin căn bản
Khi chưa tốt nghiệp, giáo sư là một sinh viên luật. Vì sao giáo sư chuyển sang học kinh tế?
Như tôi kể lại trong bản tự truyện hiện tôi đang viết, đó chẳng qua chủ yếu là do tình cờ. Bố tôi, một bác sĩ nhi khoa nổi tiếng, chết rất trẻ và ai cũng chờ đợi là tôi sẽ nối nghiệp cha. Mặc dù mẹ tôi mong đợi là tôi sẽ trở thành bác sĩ nhưng khi tôi đi ghi tên học y tôi nhận ra là mình không chịu nổi nhìn thấy máu (Cười). Do đó tôi quyết định rằng đi học để thành bác sĩ không phải là một ý kiến tốt. Tôi nhớ lại một tình tiết liên quan đến bố tôi, một người có óc khôi hài. Ông thường kể cho tôi rằng họ của chúng tôi, Modigliani, bắt nguồn từ một thành phố có tên là Modigliani, nằm trên Bologna, và biểu tượng của thành phố là một một con lợn cái cho heo con bú, được ông coi là thể hiện một hoạt động kinh tế có ích (Cười). Như thế tôi quyết định học thử kinh tế. Tôi thật sự ghi tên học luật vì lúc bấy giờ đại học Roma không có khoa kinh tế, mà chỉ có trường kinh doanh. Như vậy tôi học luật và năm thứ hai có một cuộc thi toàn quốc, thật ra là một loạt thi tuyển do các sinh viên đại học phát động, trong đó có môn kinh tế. Tôi tham gia vì tôi thừa thải thời gian để tiêu phí. Học luật không đòi hỏi nhiều cố gắng, điều bạn cần là học gạo nhồi vào đầu tháng cuối trước khi thi nên tôi tham gia kì thi tuyển. Hơn nữa, do tôi cần tiền nên tôi dịch những bài báo tiếng Đức cho một thư viện, thư viện của Hội thương mại, và tất cả những bài này đều liên quan đến việc kiểm soát giá cả vì lúc đó đây là vấn đề lớn ở Đức. Chủ đề của cuộc thi tuyển năm đó là việc kiểm soát giá cả, nên lúc bấy giờ tôi đã là một chuyên gia trên lĩnh vực này (Cười). Tôi đoạt giải nhất và mọi người đều nói “tốt, hiển nhiên là anh có triển vọng về kinh tế”. Đó là một bài viết lí thú, trong nghĩa là những điều chủ yếu tôi nói đều bất lợi cho việc kiểm soát giá cả. Dưới chủ nghĩa phát xít, coi như bạn phải nói rằng kiểm soát giá cả là một điều kì diệu. Quan điểm của tôi là khá thông minh vì tôi nói rằng kiểm soát giá cả quả thật là một điều tốt nếu việc này mô phỏng giống cơ chế thị trường (Cười).
Print Friendly and PDF

6.11.16

Chủ nghĩa tư bản phải tiến hóa để giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu



Chủ nghĩa tư bản phải tiến hóa để giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu
Thời gian cho tư duy mới. (man in woods via http://www.shutterstock.com)
Có hai thái cực trong cuộc tranh luận về vai trò của chủ nghĩa tư bản trong vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay. Một mặt, một số người xem sự biến đổi khí hậu như là kết quả của một hệ thống thị trường tiêu thụ hoạt động tràn lan. Cuối cùng, kết quả là một lời kêu gọi thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một hệ thống mới, để sửa chữa những căn bệnh của chúng ta hiện nay, với các quy định điều tiết nhằm kiềm chế sự thái quá của thị trường.
Mặt khác, một số người vẫn tin vào một thị trường tự do để mang lại những giải pháp cần thiết cho các vấn đề xã hội của chúng ta. Trong trường hợp cực đoan hơn, một số người còn xem chính sách về khí hậu như là một cách để các chính quyền lớn hơn che đậy sự can thiệp của họ vào thị trường và làm giảm sự tự do cá nhân của công dân.
Print Friendly and PDF

4.11.16

Nghiên cứu Đông Nam Á ở Nhật Bản

NGHIÊN CỨU ĐÔNG NAM Á Ở NHẬT BẢN[1]
Hayami Yoko[2]
Bùi Thế Cường (Chuyển ngữ)[3]

Học giả ở Nhật không cảm thấy có khủng hoảng nào trong các điều kiện trực tiếp xung quanh Đông Nam Á học, vì mối quan tâm và tầm quan trọng vẫn luôn bền vững. Nếu có khủng hoảng, tôi nghĩ nó sẽ đến từ sự tự mãn và tự hài lòng ngấm ngầm trong nước chúng tôi.

Ben Anderson dùng thuật ngữ “sinh quyển học thuật” (ecology of scholarship) để chỉ toàn bộ tác động của ngôn ngữ học thuật, các xu hướng nhận thức luận trong thực tiễn nghiên cứu, cũng như việc thiết lập định chế nghiên cứu. Ta có thể bổ sung vào đây sơ đồ địa chính trị của quyền lực và kinh tế hỗ trợ định chế nghiên cứu. Khoa học xã hội đang ở vào điểm ngoặt khi các đường hướng địa chính trị cũng như những thách thức trí tuệ đang tái định hình trong thời đại toàn cầu hóa, đặt câu hỏi về nghiên cứu khu vực (area studies) và những quan điểm của nó về khu vực và nhà nước. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, các học giả phương Tây tái cấu trúc và đặt nghi vấn về ý tưởng “Đông Nam Á”. Nhưng thật là nghịch lý, từ chính bên trong vùng này lại nổi lên mối quan tâm về khu vực. Cái ta thấy hôm nay không phải là sự hội tụ theo hướng tiêu chuẩn hóa toàn cầu đối với Đông Nam Á học, mà là sự trao đổi ý tưởng trong một tổ hợp những truyền thống và quan điểm khác nhau.
Print Friendly and PDF

2.11.16

Kinh tế học Hành vi không hiểu được Hạnh phúc



Kinh tế học Hành vi không hiểu được Hạnh phúc
Có nhiều thứ hơn, có ít lựa chọn hơn hay đang đánh lừa não chúng ta?
Terry Burnham
Điều gì sẽ làm bạn hạnh phúc hơn trong năm 2016?
Nếu có thể thay đổi một khía cạnh trong cuộc sống của mình trong năm 2016 thì điều gì sẽ làm bạn hạnh phúc nhất? Hãy tưởng tượng vào ngày 31/12/2016 bạn nhìn lại một năm 2016 đầy thỏa mãn. Điều đó sẽ là gì?
Kinh tế học chuẩn có một câu trả lời. Giai thoại mà Giáo sư Amartya Sen, một người từng đoạt giải Nobel Kinh tế, kể lại cho tôi sau đây sẽ minh họa cho điều đó. Một ngày nọ khi đi ngang qua Quảng trường Harvard, Giáo sư Sen hỏi tôi rằng, "Anh sẽ làm gì khi nhìn thấy một người đang cố gắng dùng một cây kéo cùn để tự cắt ngón tay của mình?".
Phản ứng của tôi: ngăn ảnh tự cắt ngón tay mình, gọi cảnh sát giúp đỡ, v.v..
Print Friendly and PDF

31.10.16

Những phức tạp trong cõi trung mô (II): Ổn định, phát triển và phát sinh hình thái


Những phức tạp trong cõi trung mô (II)

ỔN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT SINH HÌNH THÁI

Hàn Thuỷ

1. Bốn cái dịch lý của ông Aristote

Trước khi giới thiệu những cuốn sách phổ biến khoa học mới về ổn định cấu trúc, tăng trưởng hình hài và phát sinh hình thái trong thế giới tự nhiên, xin trở về đại sư tổ Aristote, với một số khái niệm bao quát do ông tổng hợp từ những người đi trước và phát triển có hệ thống. Những khái niệm ấy ngày nay đã trở thành xương thịt của tinh thần khoa học Tây phương, người gốc Đông phương nhiều khi không thấm hết và không hiểu tại sao mỗi khi trong khoa học có vấn đề (như hiện nay), người ta lại muốn đọc lại tư tưởng Hy Lạp, nhất là Aristote. Dĩ nhiên ở đây chỉ tóm tắt những điều cơ bản nhất cần nói đến, theo sự hiểu biết của người viết, những điều này nếu đọc từ những tác phẩm gốc của Aristote thì rất dài và phức tạp, vì thế không thể đoan quyết chủ thuyết của ông về thế giới tự nhiên đích thực là như trình bày, nếu bạn muốn tìm về từ nguồn xin đọc chẳng hạn như Lịch sử khoa học Hy Lạp của Geoffrey E.R. Lloyd[1], và Bài giảng vật lý của Aristote[2]. Vả lại những thuật ngữ và khái niệm mà các nhà khoa học ngày nay nói rằng thừa hưởng từ Aristote cũng đã được mài dũa qua nhiều đời, do đó ý nghĩa của từ ngữ dù muốn dù không cũng đã khác, vì những cách mạng trong khoa học một phần cũng là những cách mạng trong các khái niệm này, hoặc phủ định, hoặc làm cho hoàn chỉnh hơn.
Print Friendly and PDF

29.10.16

Lãi suất âm 0,5%, tại sao mọi người trả tiền để gửi tiết kiệm



Lãi suất âm 0,5%, tại sao mọi người trả tiền để gửi tiết kiệm
Neil Irwin
Chủ tịch quỹ dự trự liên bang Janet L. Yellen tại phiên điều trần ở Capitol Hill hôm thứ Năm. Bà Yellen cho biết Fed không có kế hoạch hạ lãi suất xuống dưới zê-rô. Carlos Barria/Reuters
Khi bạn cho ai đó vay tiền, người ta thường phải trả cho bạn một đặc quyền nào đó.
Đấy là một giả định nền tảng xuyên suốt hàng thế kỷ của lịch sử tài chính. Nhưng ngày càng nhiều các ngân hàng trung ương trên thế giới và các thị trường trái phiếu bỏ giả định này qua một bên.
Một thập kỷ trước đây, lãi suất âm được các nhà kinh tế xem như một sự hiếu kỳ mang tính lý thuyết và họ chủ yếu thảo luận vấn đề này như một trò chơi giải trí. Hai năm trước đây, lãi suất âm bắt đầu lộ ra như một bước đi độc đáo của một số ít các nước nhỏ. Hiện tại, đây là chính sách được tuyên bố của một số ngân hàng trung ương lớn trên toàn cầu bao gồm ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) và Bank of Japan.
Print Friendly and PDF

27.10.16

Châu Á: sự mất cân bằng giới tính

Châu Á: sự mất cân bằng giới tính

Một bà mẹ Trung Quốc và con trai tại khu vực vui chơi dành cho trẻ em tại một salon ô-tô của Bắc Kinh, ngày 26 tháng 6, 2015. (Ảnh: Wei yao/Imaginechina/via AFP)
Trong tác phẩm Le premier siècle après Béatrice (Thế Kỷ Đầu Tiên Sau Béatrice), xuất bản năm 1992, Amin Maalouf kể chuyện về một thế giới mà ngày càng nhiều bậc cha mẹ sử dụng một chất thúc đẩy việc sinh con trai. Trong suốt cuốn sách, tác giả kể chuyện điều tra về sự mất cân bằng diễn ra trong nhiều xã hội ở phương Nam và phương Bắc, các vụ bắt cóc phụ nữ và sự gia tăng bạo lực dẫn đến sự hủy hoại của nhân loại. Hai năm trước khi cuốn sách hư cấu này được xuất bản, Amartya Sen đã lên tiếng cảnh báo về vấn đề này. Trong một bài báo đăng trên tờ New York Review of Books đã từng có một tác động rất lớn, người đoạt giải Nobel tương lai đã nói về việc thiếu hụt 100 triệu phụ nữ ở phương Nam.
Print Friendly and PDF

25.10.16

Đọc Trần Văn Thọ: Cú sốc thời gian và Kinh tế Việt Nam

Đọc Trần Văn Thọ:

Cú sốc thời gian và Kinh tế Việt Nam[1]

Hà Dương Tường

Mặc dầu người vẽ bìa đã viết tên cuốn sách bằng chữ màu ánh sáng vàng trên một nền trời đêm với dải ngân hà đầy sao, đây không phải là một cuốn sách luận về thời gian trong nghĩa vật lý, thời gian của những Stephen Hawking, Trịnh Xuân Thuận và các đồng nghiệp của họ. Thế nhưng, cái thời gian khách quan, thời gian vật lý không ngừng trôi ấy rõ ràng cũng là một ám ảnh xuyên suốt của tác giả, một trí thức luôn đau đáu mong muốn đất nước mình vượt qua được những thách thức, cạm bẫy để mau chóng phát triển, vươn lên thành một quốc gia “thượng đẳng”, không thua kém những nước láng giềng chung quanh…
Hơn một lần, người đọc cảm nhận được bức xúc của tác giả trước tình trạng đất nước cứ bỏ lỡ những cơ hội phát triển năm này qua năm khác, thập niên này qua thập niên khác, trong khi các nước khác lần lượt bứt phá tiến xa. Phần I, “Việt Nam 40 năm qua” có 6 chương thì có tới 5 đã được dành để nhìn ra ngoài, nhìn cái dòng chảy của thời gian mà những người Nhật, Hàn, Trung Quốc hay Đài Loan biết lợi dụng để xây dựng đất nước khiến cho chỉ trong vài thập niên họ đã vươn lên thành những nước giàu mạnh trong khi mình thì vẫn ì ạch, lẽo đẽo đi sau. Tác giả không vẽ ra, nhưng người đọc hình dung chắc hẳn trong đầu ông luôn luôn có những đồ hoạ mà trục ngang là thời gian, và trục dọc là những chỉ số kinh tế, GDP, GDP đầu người, số lao động, doanh số xuất khẩu, nhập khẩu, vốn vay mượn từ nước ngoài (ODA) để đầu tư cho nền kinh tế v.v., mỗi đồ hoạ là một chỉ số, với những đường cong nhiều mầu sắc, mỗi màu cho một nước ở Đông hay Đông Nam Á, và dù các đường cong biểu diễn cho chỉ số nào thì Việt Nam cũng ở vị trí hầu như là tồi tệ nhất, sự tiến bộ nếu có thì đều thua kém các nước chung quanh. Nhưng ông không tập trung vào các yếu kém đó trong một tâm thế tự ti, mà bình tĩnh đưa ra những ví dụ, nhấn vào những đức tính đã giúp cho các nước bạn lập được những thành tích thần kỳ mà không có lý gì ta không thể làm được nếu như…
Print Friendly and PDF

23.10.16

Maurice Allais, người báo trước không được thừa nhận và nhà kinh tế học tự do phi chính thống

Maurice Allais (1911-2010)

Maurice Allais, người báo trước không được thừa nhận và nhà kinh tế học tự do phi chính thống

Là nhà kinh tế học và vật lý học, Maurice Allais, được gán nhãn là người hoạt động vì một toàn cầu hóa khác, bảo thủ, tự do hay can thiệp. Tuy nhiên, gọi ông là nhà kinh tế học tự do phi chính thống là thích hợp nhất.
Maurice Allais được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1988.
Tư tưởng kinh tế trong những năm 1930 và 1940 được đánh dấu bởi ba biến đổi lớn. Tất nhiên là phải kể đến cuộc cách mạng keynesian, mà Keynes không phải là tác giả duy nhất. Niềm tin vào sự điều tiết tự động của các thị trường, đảm bảo toàn dụng lao động nếu không có trở ngại nào cản trở sự điều tiết này, biến mất dần và Nhà nước phúc lợi và chủ nghĩa can thiệp được thiết lập. Cuộc cách mạng thứ hai, một phần về mặt phương pháp luận được dẫn dắt, trong số nhiều nhà kinh tế học khác, bởi John Hicks (Value and Capital – Giá trị và tư bản, 1939) và Paul Samuelson (Foundations of Economic Analysis – Các nền tảng của phân tích kinh tế, 1947). Các tác giả trên hình thức hóa sự điều tiết tự động của các thị trường mà Keynes đã đặt lại vấn đề trong khi vẫn sử dụng lại một số ý tưởng của ông ấy. Chính vì vậy mà tổng hợp tân cổ điển ra đời, thống trị tư tưởng kinh tế trong suốt ba mươi năm đầu của thời kỳ hậu chiến. Cuộc cách mạng thứ ba, kinh tế học, trong đó ngôn ngữ Pháp đã chiếm được một vị trí quan trọng, trở thành một khoa học chủ yếu của người Anglo-Saxon và người Hoa Kỳ.
Print Friendly and PDF

21.10.16

Một cuộc trò chuyện với Jürgen Habermas về Brexit và cuộc khủng hoảng châu Âu



Phải chăng một khu vực châu Âu nòng cốt sẽ là giải pháp khả thi cho tình hình “châu Âu hậu Brexit”: Một cuộc trò chuyện với Jürgen Habermas về Brexit và cuộc khủng hoảng châu Âu
Jürgen Habermas & Thomas Assheuer
Jürgen Habermas (1929-)
Thưa ông Habermas, ông đã bao giờ nghĩ rằng Brexit [Tên gọi Brexit được ghép từ hai từ “Britain” (nước Anh) và exit (thoát ra) - ND] sẽ thành hiện thực? Ông cảm thấy thế nào khi biết tin chiến dịch “Rời khỏi” đã chiến thắng?
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng chủ nghĩa dân túy có thể đánh bại chủ nghĩa tư bản ở ngay chính cái nôi của nó. Do tầm quan trọng mang tính sống còn của ngành ngân hàng ở Anh, sức mạnh truyền thông và ảnh hưởng chính trị của thành phố London, thật khó mà tin được rằng những vấn đề bản sắc (Identitätsfragen/identity questions) lại có thể thắng thế trước lợi ích.
Print Friendly and PDF