9.6.23

Năm thế giới của Trí tuệ nhân tạo

NĂM THẾ GIỚI CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Scott Aaronson - Boaz Barak[*]

(Doãn Minh Đăng dịch)

Trí tuệ nhân tạo đã đạt được những tiến bộ đáng kinh ngạc trong thập kỷ qua, nhưng ở một khía cạnh quan trọng, nó vẫn lệch nhịp so với lý thuyết khoa học máy tính của những năm 1990: cụ thể là, không có bài luận nào mô tả năm thế giới tiềm năng mà chúng ta có thể sống và đặt tên ấn tượng cho từng thế giới đó. Nói cách khác, chưa ai làm được cho AI những gì mà Russell Impagliazzo đã làm cho lý thuyết độ phức tạp vào năm 1995, khi ông định nghĩa “năm thế giới” Algorithmica, Heuristica, Pessiland, Minicrypt và Cryptomania, tương ứng với năm cách giải quyết có thể có của bài toán P so với NP cùng các vấn đề trung tâm chưa được giải quyết của mật mã học.[1]

Scott Aaronson (1981-)
Boaz Barak (1974-)

Trong bài đăng trên blog này, chúng tôi —Scott và Boaz— muốn lấp khoảng trống này. Cụ thể, chúng tôi xem xét 5 kịch bản có thể xảy ra về cách AI sẽ phát triển trong tương lai. (Tình cờ thay, tại một hội thảo năm 2009 kỷ niệm “năm thế giới” của Impagliazzo do Boaz đồng tổ chức, Scott đã gặp người vợ hiện tại của mình, nhà lý thuyết về độ phức tạp Dana Moshkovitz. Chúng tôi hy vọng nền văn minh sẽ tiếp tục đủ lâu để ai đó trong tương lai có thể gặp bạn tâm giao, hoặc bạn thần kinh giao (neuron-mate) của họ, tại một hội thảo trong tương lai về “năm thế giới” của chúng tôi.)

Giống như trong bài báo năm 1995 của Impagliazzo về năm thế giới tiềm ẩn của độ khó của các bài toán NP, chúng tôi sẽ không cố gắng kể hết mọi thứ mà tập trung vào các trường hợp cực đoan. Có thể chúng ta sẽ kết thúc ở một hỗn hợp của nhiều thế giới hoặc một tình huống không được mô tả bởi bất kỳ thế giới nào. Thật vậy, một điểm khác biệt quan trọng giữa bối cảnh của chúng ta và bối cảnh của Impagliazzo, đó là trong trường hợp về độ phức tạp, các thế giới tương ứng với các phỏng đoán toán học cụ thể (và loại trừ lẫn nhau). Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, câu hỏi không phải là “chúng ta sẽ sống trong thế giới nào?” mà là “thế giới nào chúng ta luôn luôn sống ở đó mà không nhận ra?” Ngược lại, tác động của AI sẽ là sự kết hợp phức tạp giữa các giới hạn toán học, khả năng tính toán, phát minh của con người cùng các vấn đề xã hội và pháp lý. Do đó, các thế giới mà chúng ta mô tả không chỉ phụ thuộc vào các khả năng và hạn chế cơ bản của trí tuệ nhân tạo, và loài người cũng có thể chuyển từ thế giới này sang thế giới khác theo thời gian.

Không chần chừ gì nữa, chúng tôi đặt tên cho năm thế giới của mình là “AI-Fizzle,” “Futurama,” “AI-Dystopia,” “Singularia,” và “Paperclipalypse.” Trong bài tiểu luận này, chúng tôi không cố gắng gán xác suất cho các tình huống này; chúng tôi chỉ phác thảo các giả định cùng những hệ quả kỹ thuật và xã hội của chúng. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách đưa ra các giả định rõ ràng, chúng tôi có thể giúp tạo nền tảng cho cuộc tranh luận về các rủi ro khác nhau xung quanh AI.

Print Friendly and PDF

7.6.23

Toàn cầu hoá các chuỗi giá trị: phỏng vấn Ariel Reshef và Gianluca Santoni

TOÁN CẦU HOÁ CÁC CHUỖI GIÁ TRỊ: PHỎNG VẤN ARIELL RESHEF VÀ GIANLUCA SANTONI

Anne Châteauneuf-Malclès

Phân tích sự phân đoạn quốc tế của sản xuất trong các chuỗi giá trị toàn cầu là điều cần thiết ngày nay để hiểu được sự toàn cầu hóa. Nếu hiện tượng này không phải là mới, thì sự tăng cường của nó kể từ những năm 1990 đã góp phần vào sự phát triển, tái cấu hình của thương mại quốc tế, và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng của các nền kinh tế quốc gia. Trong cuộc phỏng vấn dưới đây, các nhà kinh tế Ariell Reshef[*] và Gianluca Santoni[**] xem xét diễn tiến chính của các quan hệ thương mại quốc tế, các động lực và tác động kinh tế của chúng. Họ cũng nêu bật những thách thức mới do tiến trình toàn cầu hóa các chuỗi giá trị tạo ra, mà bằng chứng là sự thử nghiệm gần đây trong cuộc khủng hoảng y tế.

Để có bản trình bày chi tiết về ấn bản Kinh tế Thế giới năm 2021, bạn có thể đọc bài của Isabelle Bensidoun và Jézabel Couppey-Soubeyran trên blog CEPII (Que nous réserve l'économie mondiale en 2021?/Nền kinh tế thế giới năm 2021 sẽ dành cho chúng ta những điều gì?, 02/09/2020) và xem hội nghị trực tuyến trình bày tác phẩm được tổ chức vào tháng 9 năm 2020.

“Kỷ nguyên của các chuỗi giá trị toàn cầu có thể chưa kết thúc, nhưng cuộc khủng hoảng này đã đưa nó sang một giai đoạn mới.” (S. Jean, A. Reshef, G. Santoni, trong Kinh tế thế giới 2021/ L'économie mondiale 2021, NXB La Découverte, 2020).

Bạn có thể nhắc lại cho chúng tôi ý nghĩa của ý niệm “chuỗi giá trị toàn cầu” không?

Gianluca Santoni
Ariell Reshef

Để hiểu khái niệm này, cần bắt đầu với khái niệm tổng quát hơn về “chuỗi giá trị”. Đó là cách các công đoạn sản xuất khác nhau tạo thêm giá trị cho thành phẩm cuối cùng hoặc ngược lại, cách mà tổng giá trị của một sản phẩm được quy cho từng công đoạn. Các chuỗi giá trị toàn cầu có nghĩa là các công đoạn sản xuất, từ việc thiết kế sản phẩm đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng, được thực hiện ở các quốc gia khác nhau. Cách tổ chức này được thúc đẩy bởi các công ty của các nền kinh tế tiên tiến được sự cạnh tranh toàn cầu khuyến khích để nhằm tới sự tối ưu hóa quy trình sản xuất của họ bằng cách chuyển sản xuất ra nước ngoài (externalisation/outsourcing) và dịch chuyển ra nước ngoài vài hoạt động sản xuất nhất định (offshoring). Hiện tượng phân đoạn và phân tán về mặt địa lý các hoạt động này chắc chắn không phải là mới, nhưng, theo một số thước đo đáng tin cậy, nó đã trở nên quan trọng kể từ năm 1990, vừa về mặt tỉ trọng trong nền sản xuất và thương mại thế giới, và vừa về mặt số lượng các quốc gia tích cực tham gia vào các chuỗi giá trị này.

Các chuỗi giá trị toàn cầu là biểu hiện của sự phân đoạn quốc tế của nền sản xuất. Cụm từ “chuỗi giá trị toàn cầu”, được các nhà kinh tế học sử dụng, nhấn mạnh thực tế rằng sự phân đoạn này là nguồn gốc của lợi ích kinh tế, ở mỗi công đoạn sản xuất tiếp nối nhau. Do đó, nó có hàm ý tích cực hơn các thuật ngữ phân tách hoặc phân công quốc tế các quy trình sản xuất.

Print Friendly and PDF

5.6.23

Làm sao phân biệt hoài nghi đúng và hoài nghi sai

LÀM SAO PHÂN BIỆT HOÀI NGHI ĐÚNG VÀ HOÀI NGHI SAI

Tác giả: Agnès Vernet

Phóng viên khoa học

Jean-Gabriel Ganascia

Giáo sư tin học khoa Khoa học Đại học Sorbonne và là triết gia

Jean-Gabriel Ganascia

Tóm tắt

·  Hoài nghi là một yếu tố chính yếu của khoa học, và trong cộng đồng khoa học, sự thiếu vắng đồng thuận là chuẩn mực.

·   Nhưng đối diện với sự ngờ vực cố hữu của nhà khoa học, hiện nay xã hội đang trải qua một dạng hoài nghi khác: một sự hoài nghi chung đang đặt lại vấn đề các kết quả của khoa học. Tuy nhiên, để có hiệu quả hơn, sự hoài nghi phải được bao gồm trong phương pháp tiến hành khoa học.

·  Do đó, đối với Jean-Gabriel Ganascia, rất cần thiết phải trả lại vị trí trung tâm trong giáo dục cho giảng dạy khoa học, và nhất là cho phương pháp khoa học.

Khoa học không có sự hoài nghi…

“Khoa học mà không có ý thức chỉ là sự hủy hoại tâm hồn”, Rabelais đã báo trước như vậy. Ta cũng có thể diễn giải là “Khoa học mà không có sự hoài nghi chỉ là sự hủy hoại tâm hồn”, vì hoài nghi là một động lực của khoa học; không có hoài nghi các kiến thức sẽ khô cứng, không tiến triển. Khoa học bao hàm sự nghi ngờ về những chân lý hiển nhiên nhất. Bản tính của nhà khoa học là ưu tư – với nghĩa gốc là “không ngơi nghỉ”. Nhà khoa học sẵn sàng đặt lại vấn đề tất cả, và để làm điều đó, họ nuôi dưỡng một sự hoài nghi “đúng”, có tính xây dựng và có tổ chức.

Print Friendly and PDF

4.6.23

Năm nguy cơ của trí tuệ nhân tạo

NĂM NGUY CƠ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (“AI”) THEO GEOFFREY HINTON, MỘT TRONG NHỮNG NGƯỜI TIÊN PHONG TRONG LÃNH VỰC “AI”

Là người tạo ra những thứ “nhảm nhí”, “rô-bốt giết người”… “người đỡ đầu” hối tiếc này đã rời khỏi Google để cảnh báo về những nguy cơ mà công nghệ này gây ra cho tương lai.

Jenifer Bitar

Tiến sĩ Geoffrey E. Hinton năm 2019. © MASAHIRO SUGIMOTO / Yomiuri / The Yomiuri Shimbun theo AFP

Geoffrey Hinton, người tiên phong trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, đã từ chức tại Google vào hôm thứ Hai ngày 1 tháng 5 sau 10 năm phục vụ cho gã công nghệ khổng lồ Mỹ. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ New York Times, ông cho biết đã rời Google để nói chuyện mà không bị ràng buộc về AI sản sinh như ChatGPT, mà không gây ảnh hưởng đến công ty. Ông bày tỏ sự hối tiếc về việc tham gia vào quá trình phát triển ChatGPT, và cố gắng tự an ủi bằng cách nào đó “với lý do phổ biến này: nếu tôi không làm thì cũng có người khác làm”.

Tốt nghiệp ngành tâm lý học thực nghiệm và là tiến sĩ về trí tuệ nhân tạo, người gốc London này đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu về AI. Dù với tư cách là nhà nghiên cứu tại Carnegie Mellon, thuộc Đại học Toronto hay tại Google – công ty mà ông đã tham gia khi gia nhập nhóm Google Brain vào năm 2013 – Geoffrey Hinton đã phát triển các mạng thần kinh nhân tạo – những hệ thống toán học biết tiếp thu những kĩ năng mới bằng cách phân tích các dữ liệu mà chúng được tiếp cận. Năm 2018, ông đã được trao tặng Giải thưởng Turing vì sự phát triển các mạng mà ông đã sáng tạo. Được coi là một nhân vật quan trọng trong lĩnh vực AI, ông đã truyền cảm hứng cho các công trình của Yann Le Cun và Yoshua Bengio.

Với sự hối tiếc, ông quay trở lại bàn đến sự nguy hiểm của AI, mà theo ông, sẽ tượng trưng cho “những rủi ro nghiêm trọng đối với xã hội và nhân loại”, theo lời giải thích của ông trong cuộc phỏng vấn của New York Times. Dưới đây là năm mối lo lớn nhất của ông.

Print Friendly and PDF

3.6.23

“Cần phải học cách chung sống với Trung Quốc”, trò chuyện với Joseph Borell

“CẦN PHẢI HỌC CÁCH CHUNG SỐNG VỚI TRUNG QUỐC”, TRÒ CHUYỆN VỚI JOSEP BORRELL

Về Trung Quốc, Hoa Kỳ có Học thuyết Sullivan. Liên Minh châu Âu đang tìm kiếm học thuyết của riêng mình. Trong cuộc phỏng vấn độc quyền này mà Josep Borrell[*] dành cho chúng tôi sau cuộc tranh luận tại Hội đồng các Bộ trưởng (ngoại giao) tổ chức ở Stockholm và một G7 dường như tái khẳng định quan điểm của ông, Đại diện cấp cao của Liên Minh châu Âu xác định một cấu hình mới từ góc độ địa chính trị. Để tiếp cận mối quan hệ với Trung Quốc, Liên Minh châu Âu phải bắt đầu từ các giá trị và lợi ích của chính mình để đề xuất một chân trời an ninh chiến lược chung.

Tác giả: Gilles Gressani[1], Mathéo Malik

Trong bài phát biểu của ông trước các bộ trưởng ngoại giao châu Âu ở Stockholm, ông đã chỉ ra rằng Trung Quốc không phải là Nga - ông có thể giải thích điều đó có nghĩa là gì không?

JOSEP BORRELL - Thật vậy, Nga và Trung Quốc có hệ thống chính trị độc tài và phản tự do. Nhưng trọng lượng mang tính hệ thống của họ là không thể so sánh được. Nga chiếm khoảng 2% tổng sản phẩm (GNP) của thế giới. Đối với Trung Quốc, tỷ lệ GNP là khoảng 20% ​​và nhằm mục đích ngang bằng với Hoa Kỳ. Để hiểu đầy đủ động năng này, cần biết rằng vào năm 1995, GNP của Nga bằng với GNP của Trung Quốc. Ngày nay, GNP của Trung Quốc cao hơn gần 20 lần so với GNP của Nga. Do đó, hai nước không còn chơi trong cùng một hội, ngay cả khi việc sở hữu vũ khí hạt nhân mang lại cho Nga vẻ ngoài của một cường quốc. Và rõ ràng là một thất bại của Nga ở Ukraine sẽ chỉ làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng có lợi cho Trung Quốc này.

Ông sẽ mô tả hệ thống quốc tế ngày nay như thế nào?

Tôi không sáng tạo bất cứ điều gì. Chúng ta đang ở trong một cấu hình địa chính trị đã được các nhà lý thuyết về quan hệ quốc tế nghiên cứu kỹ lưỡng: đó là một quá trình chuyển tiếp trong đó một cường quốc đang lên tìm cách tranh chấp quyền lãnh đạo với một cường quốc thống trị. Tham vọng của Trung Quốc rõ ràng là xây dựng một trật tự thế giới mới, trong đó nước này sẽ đặt mình vào trung tâm bằng cách trở thành cường quốc hàng đầu thế giới, một cách tượng trưng là vào năm 2049, năm kỷ niệm một trăm năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tham vọng này được hỗ trợ không chỉ bởi các diễn ngôn, mà còn bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người, công nghệ và khoa học dồi dào của Trung Quốc. Thực tế của thách thức này đã được chính Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ nhìn nhận rất rõ ràng khi bà nói rằng “sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không nên xung khắc với sự lãnh đạo của Hoa Kỳ”.

Print Friendly and PDF

1.6.23

Trực quan trong toán học (G. Bouligand, 1944)

TRỰC QUAN TRONG TOÁN HỌC (1944)

Tác giả: Georges Bouligand[1]
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Các chân lý toán học không hoàn toàn là những sáng tạo thuần túy ý tưởng; Émile Boutroux[2] từng nói rằng tư tưởng toán học là “một sự thích nghi tự nguyện và thông minh của tư duy vào sự vật”.

Trong trích đoạn dưới đây, Georges Bouligand cho rằng chúng ta có thể tìm thấy ở cơ sở, cũng như xuyên suốt quá trình phát triển của toán học, một số trực giác nhất định.

*

Các khía cạnh trực quan của Toán học được liên kết với những ấn tượng khác nhau của các giác quan mà chúng ta có, và với những ký ức về chúng. Điều quan trọng cho sự nảy nở của hoạt động tiền-toán-học là ký ức về những đối tượng, ở đó một tính chất chung có thể được cảm nhận, cho dù tính chất ấy chỉ được thực hiện một cách sơ sài. Hơn nữa, sự không hoàn hảo của các giác quan của ta đôi khi còn tạo ra ảo tưởng rằng tính chất ấy là biểu hiện trung thành của hiện thực. [...]

Có những trực giác được liên kết với ký ức về những sự vật cụ thể: đấy là trường hợp của những trực giác khơi dậy các ý niệm về tính liên tục, ý niệm đường thẳng, ý niệm đường thẳng góc với một mặt phẳng, cũng như một lượng lớn các ý niệm khác bắt nguồn từ địa vật lý học chẳng hạn. Chúng ta có thể bao gồm chúng trong thuật từ: trực quan tức thời (intuition immédiate). [...]

Print Friendly and PDF

30.5.23

Mười điểm về các kim loại chiến lược

MƯỜI ĐIỂM VỀ CÁC KIM LOẠI CHIẾN LƯỢC

Trong các công nghệ có khả năng đảm bảo quá trình chuyển đổi năng lượng, nguyên liệu trọng yếu đóng vai trò then chốt. Vào thời điểm mà châu Âu đang tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc vào các chuỗi giá trị nước ngoài, vì sao các kim loại này lại là chất xúc tác đối với mọi tình hình căng thẳng?

Quay trở lại 10 điểm tổng hợp về các nguồn tài nguyên này ở trung tâm cuộc đối đầu giữa các chủ nghĩa tư bản chính trị.

Emmanuel Hache và Valérie Mignon

1 — Các loại kim loại khác nhau là gì?

Ngay cả khi không có sự phân loại địa chất hoàn hảo nào về kim loại, chúng ta có thể gộp các kim loại đó thành bốn loại chính:[1]

•     Kim loại cơ bản: nhôm, crom, đồng, thiếc, sắt, ma-giê, mangan, chì, niken, titani, kẽm;

•     Kim loại quý: bạc, iridi, vàng, osmi, palađi, bạch kim, rhodi, rutheni;

•     Actini, tương ứng với các kim loại năng lượng hạt nhân: plutoni, thori, urani;

•     Kim loại chuyên biệt: tất cả các kim loại khác.

Chúng ta cũng có thể phân biệt các kim loại đó theo sự tồn tại của chúng trong lớp vỏ trái đất, được đo bằng đơn vị phần triệu (ppm). Về mặt này, chúng ta phân biệt:

•     Kim loại dồi dào: là những kim loại có hàm lượng lớn hơn 1000 ppm (0,1%) như nhôm, canxi, sắt, ma-giê, kali, silic, natri và titani;

•     Kim loại hiếm hoặc ít dồi dào: đây là những kim loại có số lượng nhiều nhất, có hàm lượng tồn tại trong lớp vỏ trái đất nằm trong khoảng từ 1 đến 1000 ppm (coban, đồng, molypden, niken, chì, vonfram, kẽm);

•     Kim loại rất hiếm: hàm lượng dưới 1 ppm; loại này bao gồm các kim loại quý (bạc, vàng và sáu kim loại thuộc platinoid – iridi, osmi, palađi, bạch kim, rhodi và rutheni), cũng như antimon, indi và seleni.

Điều quan trọng nữa là không nên nhầm lẫn giữa kim loại hiếm với đất hiếm. Thực vậy, đất hiếm là loại nguyên liệu ít hiếm hơn so với tên gọi của nó, do mật độ của nó trong lớp vỏ trái đất cao hơn mật độ của vàng hoặc bạc; tính hiếm của nó xuất phát từ sự khó khăn kinh tế trong việc khai thác nó và những hậu quả về môi trường của việc khai thác nó. Đất hiếm liên quan đến một tập hợp gồm 17 nguyên tố hóa học (scandi, ytri và mười lăm lanthanide) có phản ứng hóa học khá mạnh và có những thuộc tính điện từ khiến nó trở thành nguyên liệu không thể thiếu trong việc chế tạo các sản phẩm công nghệ cao. Đất hiếm thường được coi là vitamin của các nền kinh tế hiện đại, vì việc khai thác nó cho phép đạt được một hiệu quả sản phẩm cao hơn đối với những công nghệ sử dụng nó.

Đất hiếm thường được coi là vitamin của các nền kinh tế hiện đại, vì việc khai thác nó cho phép đạt được một hiệu quả sản phẩm cao hơn đối với những công nghệ sử dụng nó.

Emmanuel Hache và Valérie Mignon

Print Friendly and PDF

28.5.23

Những bất đồng được thể hiện thế nào ở Trung Quốc?

NHỮNG BẤT ĐỒNG ĐƯỢC THỂ HIỆN NHƯ THẾ NÀO Ở TRUNG QUỐC?

Phỏng vấn David Ownby

do Émilie Frenkiel[*] thực hiện

Mặc dù quyền tự do ngôn luận, tự do đi lại và tự do xuất bản bị hạn chế, giới trí thức vẫn có thể thể hiện những quan điểm phê phán và bất đồng chính kiến ​​thông qua những phương thức ​​lệch chuẩn/gián tiếp/ngoài lề/quanh co.

David Ownby

David Ownby là một nhà sử học về các tôn giáo dân gian ở Trung Quốc hiện đại và đương đại. Giáo sư tại Đại học Montréal, ông nghiên cứu sự phát triển của tôn giáo trong bối cảnh những biến động về thể chế và xã hội của thế kỷ 19 và 20. Ông đã nghiên cứu các hội kín dưới triều đại nhà Thanh trước khi bắt tay vào một cuộc khảo sát dài về những người theo Pháp Luân Công ở Bắc Mỹ. Ông hiện đang tham gia vào một dự án tập thể rộng lớn về dịch thuật và phân tích các trí thức Trung Quốc của những năm 2000, giúp tiếp cận và lập bản đồ các ấn phẩm của họ.

Ông là tác giả của cuốn Xem xét lại các hội kín: quan điểm về lịch sử xã hội của Nam Trung Quốc và Đông Nam Á hiện đại/ Secret societies reconsidered: perspectives on the social history of modern South China and Southeast Asia, Armonk, 1993 (với Mary Somers Heidhues); Các hội huynh đệ và hội kín ở Trung Quốc thời kỳ đầu và giữa triều đại Nhà Thanh: sự hình thành truyền thống/ Brotherhoods and secret societies in early and mid-Qing China: the formation of tradition, Nhà xuất bản Đại học Stanford 1996; Pháp Luân Công và tương lai của Trung Quốc/ Falungong and the future of China, Oxford University Press, 2008; (với Vincent Goossaert và Ji Zhe) Lập các thánh ở Trung Quốc hiện đại/ Making saints in modern China, Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2011, và các bài báo được xuất bản đáng chú ý trên China Information, Archives des sciences sociales des religions, Perspectives Chinoises, Sociologie et sociétés.

La Vie des Idées: Tình trạng học thuật và trí tuệ ở Trung Quốc ngày nay như thế nào, trong bối cảnh nhiệm kỳ thứ 3 của Tập Cận Bình, Đại hội Đảng lần thứ 20 và Covid?

Cai Xia (1952-)
Xu Zhangrun (1962-)

David Ownby: Theo tôi, rất ít trí thức hoặc học giả ở Trung Quốc cảm thấy lạc quan vào lúc này. Tôi không biết liệu điều kiện vật chất của các học giả/giáo sư đại học có xuống cấp hay không (không phải do việc đóng cửa vì đại dịch); thông thường, các giáo sư, đặc biệt là tại các trường đại học ưu tú, không gặp khó khăn về mặt kinh tế đang gây khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc, nhưng những người đã quen với việc đi nước ngoài để nghiên cứu lại cảm thấy thất vọng và rất nhiều những cuộc trao đổi quốc tế đã bị đóng băng/hủy bỏ, đó là một điều rất quan trọng đối với một nhóm trước đại dịch đã đi rất nhiều nơi và tiếp đón rất nhiều đồng nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, ngay từ đầu nhiệm kỳ của mình, Tập Cận Bình đã cố gắng áp đặt lại một kỷ luật ý thức hệ đối với giới trí thức và học thuật, một sự chuyển hướng dẫn đến sự thu hẹp quyền tự do ngôn luận của họ (các giáo sư) và những khó khăn về mặt xuất bản. Họ thường phàn nàn về những khó khăn trong việc xuất bản sách và bài báo của họ, về những sự gia hạn không ngừng; nói chung, vấn đề thường ở cấp biên tập và phản ánh mối lo sợ bị chỉ trích, nhưng đồng thời chúng ta cũng chứng kiến ​​những trường hợp học giả bị mất việc làm, mất lương, lương hưu vì dám chỉ trích Đảng và lãnh tụ của Đảng (Thái Hà/Cai Xia, Hứa Chương Nhuận/Xu Zhangrun). Việc Tập Cận Bình đã thành công trong việc đi ngược lại ước muốn của Đặng Tiểu Bình và sửa đổi hiến pháp để được ban thêm một nhiệm kỳ thứ 3 chỉ làm tăng thêm sự bất mãn chung; cảm tưởng của tôi là phần đông giới trí thức Trung Quốc không có tình cảm đặc biệt với Tập, và đối với họ viễn cảnh 5 năm nữa chỉ mang lại những điều không có gì là tốt lành đối với họ.

Print Friendly and PDF

26.5.23

Eunice Foote, nhà khoa học nữ đầu tiên đã nêu ra lý thuyết về biến đổi khí hậu

EUNICE FOOTE, NHÀ KHOA HỌC NỮ ĐẦU TIÊN (VÀ CŨNG LÀ NGƯỜI ĐẤU TRANH CHO QUYỀN BẦU CỬ CỦA PHỤ NỮ -SUFFRAGETTE-) ĐÃ NÊU RA LÝ THUYẾT VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Tác giả: Manuel Peinado Lorca*

Trường Troy Female Seminary nơi Eunice Foote đã phát triển các năng lực khoa học thực nghiệm của mình (1800). Library of Congress, CC BY-NC-ND

Năm 1859, nhà vật lý người Ireland John Tyndall là người đầu tiên đã phát hiện ra những phân tử khí carbonic, metan và hơi nước (mà ngày nay ta gọi là khí gây hiệu ứng nhà kính, viết tắt là GES) ngặn chặn bức xạ tia hồng ngoại. Người ta xem ông là nhà khoa học đầu tiên đã báo trước những tác động mà những thay đổi nhỏ này trong thành phần của khí quyển gây ra cho khí hậu. Ít nhất đó là điều mà người ta dạy trong tất cả các phân khoa khoa học trên toàn thế giới.

Không lược bỏ bất kỳ điều gì từ những nghiên cứu của Tyndall cũng như những nghiên cứu sau này của nhà khoa học Thụy Điển đã đạt giải Nobel Steven Arrhenius, được xem là người đã phát hiện ra hiệu ứng nhà kính, các nhà khoa học đương thời không quan tâm đến công trình của Eunice Newton Foote (1819-1888). Theo chuyện kể của Leila McNeill trên tạp chí Smithsonian, nhà khoa học này (Eunice Foote) đã thực hiện các thí nghiệm của bà vào năm 1856, ba năm trước khi Tyndall nêu ra các kết quả của mình và 40 năm trước khi Arrhenius tiết lộ những phát hiện của ông.

Người phụ nữ Mỹ này là nhà khoa học đầu tiên đã đưa ra lý thuyết theo đó thì ngay cả những mức tăng vừa phải của sự tập trung khí carbonic (CO2) trong khí quyển cũng có thể gây ra một sự nóng lên toàn cầu đáng kể.

Từ đó, mối quan hệ này giữa khí CO2 và khí hậu đã trở thành một trong những nguyên tắc mấu chốt của khí tượng học hiện đại, của hiệu ứng nhà kính và của khí hậu học. Nhưng không có ai đã nhìn nhận rằng Foote là người đầu tiên phát hiện ra điều đó – hơn nữa, bà còn là một trong những người thiết lập Công ước Seneca Falls, hội nghị đầu tiên vào năm 1848 bàn về quyền phụ nữ.

Print Friendly and PDF

24.5.23

Các triết gia đã nghiên cứu “phản thực tế” trong nhiều thập kỷ. Liệu chúng có giúp ta mở khóa những bí ẩn của AI không?

CÁC TRIẾT GIA ĐÃ NGHIÊN CỨU “PHẢN THỰC TẾ” TRONG NHIỀU THẬP KỶ. LIỆU CHÚNG CÓ GIÚP TA MỞ KHÓA NHỮNG BÍ ẨN CỦA AI KHÔNG?

Xuất bản: 26 tháng 1 năm 2023 7:04 chiều theo giờ GMT

Phản thực tế là tuyên bố về những gì sẽ xảy đến, nếu một việc nào đó đã diễn ra theo cách khác. Chẳng hạn, chúng ta có thể hỏi thế giới sẽ như thế nào nếu Internet chưa bao giờ được phát triển. Ảnh: Shutterstock

Trí tuệ nhân tạo đang được triển khai ngày càng nhiều trên khắp thế giới để hỗ trợ đưa ra các quyết định trong cuộc sống, dù cho đó là quyết định cho vay của ngân hàng, chẩn đoán y tế hay việc cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ dự đoán khả năng tái phạm của tội phạm.

Tuy nhiên, nhiều hệ thống AI là các hộp đen: chẳng ai hiểu chúng hoạt động ra sao. Chính điều này đã dẫn đến nhu cầu về “AI có thể giải thích được” [explainable AI], để chúng ta có thể hiểu tại sao một mô hình AI lại cho ra một kết quả cụ thể và những thiên kiến nào có thể đã góp phần tạo ra kết quả này.

AI có thể giải thích là một nhánh đang lớn mạnh trong nghiên cứu AI. Nhưng có lẽ còn ít người biết đến vai trò của triết học trong sự phát triển này.

Cụ thể, một ý tưởng được gọi là “giải thích phản thực tế” thường được đưa ra như một giải pháp cho các vấn đề về hộp đen. Nhưng một khi bạn hiểu triết lý đằng sau đó, bạn có thể bắt đầu hiểu ra vì sao nó không được như mong đợi.

Print Friendly and PDF