Trang

Kinh tế gia cười

Kinh tế - Xã hội - Môi trường

10.1.26

Thái độ bài châu Âu của Mỹ bắt nguồn từ nhận thức về sự yếu kém về quân sự và sự suy giảm dân số bản địa

THÁI ĐỘ BÀI CHÂU ÂU CỦA MỸ BẮT NGUỒN TỪ NHẬN THỨC VỀ SỰ YẾU KÉM VỀ QUÂN SỰ VÀ SỰ SUY GIẢM DÂN SỐ BẢN ĐỊA

Đã đến lúc hành động: Binh sĩ quân đội Đức (Bundeswehr) đang hành quân. Ảnh: Imago/Alamy Live News

Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ đánh dấu một bước ngoặt lịch sử quan trọng. Nó chuyển trọng tâm từ vấn đề quá tải dân số toàn cầu sang những lo ngại về sự suy giảm dân số ở thế giới phương Tây. Cùng với những lời chỉ trích mới về điểm yếu quân sự của châu Âu, chiến lược này làm mới những luận điệu chống châu Âu đã tồn tại từ lâu.

Quan hệ Mỹ-châu Âu đã ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình của thế kỷ 20 và 21 đến nỗi nhà sử học Mary Nolan của Đại học New York gọi thời kỳ này là “thế kỷ xuyên Đại Tây Dương”. Mối quan hệ này xoay quanh các cuộc can thiệp quân sự và văn hóa tiêu dùng.

Sự can thiệp của Mỹ đóng vai trò quyết định trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới và các cuộc chiến tranh ở châu Âu sau khi Nam Tư tan rã. Châu Âu cũng nổi lên như một khu vực quan trọng cho sự mở rộng chủ nghĩa tiêu dùng và các chuẩn mực thị trường của Mỹ.

Ở cả hai bờ Đại Tây Dương, tác động qua lại giữa các can thiệp quân sự và văn hóa thị trường không chỉ định hình sự hợp tác mà còn cả sự bất mãn về nhau. Tại châu Âu, ngay từ năm 1902, người ta đã bắt đầu bày tỏ tâm lý bài Mỹ, thường tập trung vào nỗi sợ về thống trị văn hóa.

Sau này, các ban nhạc Anh như The Clash và ban nhạc Đức Rammstein đã khuếch đại những nhận thức này trong văn hóa đại chúng, với các bài hát như I'm So Bored with the USA (The Clash) và Amerika (Rammstein).

Về phần mình, các tư tưởng chống châu Âu ở Mỹ tập trung vào nhận định về sự yếu kém quân sự của châu Âu – một chỉ trích có dựa trên bằng chứng lịch sử nhất định. Các thỏa thuận vay-thuê (Lend-Lease, chương trình cho phép Mỹ cung cấp vật tư thiết bị quân sự cho các nước Đồng minh trong Thế chiến II mà không cần trực tiếp tham chiến – ND) đã cung cấp viện trợ quân sự cấp thiết cho Anh và Liên Xô thời bấy giờ. Nếu không có chương trình trên, cả hai quốc gia này đều không thể duy trì nỗ lực chiến tranh chống lại đà tiến công của Đức Quốc xã ở châu Âu.

Sau Chiến tranh Lạnh, người Mỹ kỳ vọng người châu Âu sẽ gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong an ninh toàn cầu. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp quan trọng, châu Âu đã không đáp ứng được kỳ vọng này.

Trong cuộc can thiệp phối hợp quốc tế chống lại cuộc xâm lược Kuwait của Iraq năm 1991, Mỹ đã đóng góp hơn nửa triệu quân. Trong khi đó, Anh, Pháp và Ý chỉ góp tổng cộng 93.000 quân.

Đức chỉ hỗ trợ chiến dịch quân sự về mặt tài chính. Sự mất cân bằng này đã khiến nhà bình luận người Mỹ Charles Krauthammer gọi Mỹ là “siêu cường đơn”.

Vào cuối những năm 1990, chiến dịch ném bom do NATO dẫn đầu chống lại Serbia cũng lại do Mỹ gánh vác phần lớn. Máy bay Mỹ tiến hành 70% các nhiệm vụ tấn công và 90% các nhiệm vụ phòng thủ. Trong khi đó, nếu không có sự hỗ trợ tình báo của Mỹ, chiến dịch này hẳn đã bị đình trệ.

Như một nhà ngoại giao hàng đầu của Đức đã thừa nhận: “Kosovo là (vấn đề) “quá khổ”, đến gấp hai gấp ba lần khả năng của chúng tôi.”

Cuộc chiến tranh Iraq năm 2003 đã củng cố thêm nhận thức của Mỹ về sự yếu kém của châu Âu. Các quốc gia như Đức và Pháp đã không ủng hộ cuộc chiến và, theo ngôn ngữ của phe cánh hữu diều hâu Mỹ, những quốc gia này bị gán mác nhu nhược và bị chế giễu là “những kẻ ủy mị châu Âu” và “những hoạn quan xứ EU”.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld, người ủng hộ hàng đầu cho cuộc chiến, đã được ca tụng như một “con đầu đàn” cực kỳ nam tính.

Trớ trêu thay, những người bảo thủ theo chủ nghĩa “Nước Mỹ trên hết” ngày nay lại quay sang tiếp nhận những lời chỉ trích về cuộc can thiệp vào Iraq từng được đưa ra ở châu Âu. Họ nói rằng đó không phải là cuộc chiến của họ. Nhưng việc châu Âu tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ, đặc biệt là trong việc hỗ trợ Ukraine, dường như càng củng cố nhận định về sự yếu kém quân sự của khối này.

Vấn đề dân số cũng được đưa vào tranh luận

Tâm lý bài châu Âu liên quan đến các cuộc can thiệp quân sự đã có từ lâu. Giờ đây, những lo ngại về sự suy giảm dân số bản địa của châu Âu đóng vai trò như một yếu tố mới trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ.

Trong lịch sử hiện đại, xu hướng dân số luôn không ngừng gây lo âu. Chúng trải dài từ nỗi sợ thiếu lương thực theo thuyết Malthus vào cuối thế kỷ 18 đến những lo lắng về tình trạng quá tải dân số toàn cầu trong thế kỷ 20.

Như tôi đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình, các nhà tư tưởng châu Âu và Mỹ đóng vai trò then chốt trong việc định hình cuộc tranh luận này. Những người ủng hộ kiểm soát dân số ở cả hai bờ Đại Tây Dương đã phối hợp các chiến dịch nhằm giảm tỷ lệ sinh toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.

Những tranh luận về tình trạng quá tải dân số vẫn còn âm ỉ. Nhưng gần đây, vấn đề này đã bị lu mờ bởi sự chuyển dịch mạnh sang những lo ngại về sự suy giảm dân số.

Elon Musk đã trở thành hiện thân của xu hướng này ở nước Mỹ. Ông không chỉ có nhiều con mà còn biến sự suy giảm dân số thành một mục tiêu chính trị. Ông lập luận rằng “tỷ lệ sinh lao dốc là mối nguy hiểm lớn nhất mà nền văn minh phải đối mặt”.

Có những lo ngại về tỷ lệ sinh sụt giảm ở châu Âu. Eruostat

Tại châu Âu, quan điểm này được các đảng dân túy chống nhập cư hưởng ứng. Sự bất mãn của họ gây được tiếng vang vì nó phản ánh đúng xu hướng nhân khẩu học thực tế.

Từ năm 1990 đến năm 2020, dân số các nước Trung và Đông Âu giảm 8%. Một số quốc gia nghèo nhất chứng kiến ​​sự sụt giảm mạnh nhất, trong đó có Bulgaria – nơi dân số giảm 24% – và Romania – với dân số giảm 17%.

Các đảng cánh hữu theo chủ nghĩa dân túy ở Mỹ và châu Âu chủ trương thúc đẩy tỷ lệ sinh bản địa. Họ coi đây là một giải pháp thay thế cho mô hình Tây Âu vốn được cho là dựa vào nhập cư để duy trì các nhà nước phúc lợi.

Trong nghiên cứu năm 2020 đăng trên Tạp chí Dân chủ của mình, nhà xã hội học Ivan Krastev và chuyên gia pháp lý Stephen Holmes lưu ý rằng “mối bận tâm về sự sụp đổ nhân khẩu học… biểu hiện như một nỗi sợ hãi rằng sự xuất hiện của những người nước ngoài không thể đồng hóa sẽ làm phai nhạt bản sắc dân tộc và suy yếu sự gắn kết quốc gia”.

Các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu, bao gồm Thủ tướng Hungary Victor Orban và Tổng thống Serbia Aleksandar Vučić, đã minh họa rõ nét thế giới quan này. Orban khẳng định rằng, trái ngược với Tây Âu, “người Hungary chúng tôi có cách nghĩ khác. Thay vì chỉ là những con số, chúng tôi muốn những đứa trẻ Hungary. Đối với chúng tôi, di cư là sự đầu hàng.”

Tương tự, Vučić cảnh báo rằng nếu không có sự xoay chuyển về nhân khẩu học, người Serbia “sẽ khó lòng có cơ hội để bàn về sự tồn vong của chính mình trên phần lãnh thổ còn lại của Serbia (ám chỉ Serbia trừ vùng Kosovo vốn đã ly khai và có tranh chấp – ND)”. Những quan điểm tương tự cũng được các đảng chống nhập cư ở Tây Âu, bao gồm AfD của Đức hay Rassemblement National của Pháp, lặp lại và trở thành đặc điểm chính trong nhiệm kỳ tổng thống của Trump.

Nhìn chung, chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ đánh dấu đỉnh điểm của sự tái định hướng rộng lớn hơn, trong đó phe bảo thủ cánh hữu ở cả hai bờ Đại Tây Dương đã tập hợp lại xung quanh vấn đề suy giảm dân số như một mối quan ngại chính trị trọng tâm.

Đà suy giảm nhìn thấy được này hiện đang trở thành một trụ cột cốt lõi trong tư duy an ninh quốc gia của Mỹ. Trong khi đó, đối với châu Âu, chính những nỗ lực của Washington nhằm củng cố các đảng cánh hữu châu Âu tự thân chúng có thể sẽ trở thành nguồn gốc gây bất ổn và phân cực trong những năm tới.

Tác giả

Roman Birke

Phó giáo sư Lịch sử Châu Âu hiện đại, Đại học Thành phố Dublin

Tuyên bố công khai

Roman Birke không làm việc, tư vấn, sở hữu cổ phần hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hoặc tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài báo này, và không có sự trực thuộc nào ngoài giới chuyên môn của mình.

Huỳnh Thị Thanh Trúc dịch

Nguồn: America’s anti-European attitudes are centred on perceptions of military weakness and the decline of native populations, The Conversation, December 11, 2025.