HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN: MỘT NIỀM TIN BỊ ĐẶT THÀNH VẤN ĐỀ?
Grégoire Mallard, Dominic Eggel và Marc Gal
Trong khi hỗ trợ phát triển cho các nước thuộc Phương Nam là đặc điểm nổi bật của thời kỳ hậu thuộc địa, thì việc bước vào thế kỷ 21 đánh dấu một bước ngoặt. Đối mặt với những kết quả được trình bày là đáng thất vọng, sự hỗ trợ phát triển dường như không còn khả năng đảm bảo duy trì hòa bình và sự thịnh vượng. Liệu lĩnh vực hỗ trợ có bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng? Hay chính hệ hình phát triển cần được xem xét lại?
![]() |
|
Hình minh họa của PTKT (do A.I tạo) |
Ngày 20 tháng 1 năm 2025 sẽ mãi là một ngày đen tối đối với những tác nhân của sự hợp tác của Hoa Kỳ. Một ngày sau khi trở lại chức tổng thống, Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp đình chỉ tất cả các chương trình của USAID trong 90 ngày. Mười lăm ngày sau, sắc lệnh này được tiếp nối bằng thông báo đóng USAID, được ông mô tả là một “tổ chức tội phạm”.
Vượt lên trên sự kinh ngạc, các nhà phân tích đã hướng sự chú ý của giới truyền thông đến "Dự án 2025", nơi tất cả các biện pháp này được công bố và biện minh bởi ba tham vọng: giảm ảnh hưởng của chính quyền liên bang, tái tập trung chính sách đối ngoại vào lợi ích quốc gia và loại bỏ các chương trình bị coi là "thù địch về mặt tư tưởng" với các giá trị bảo thủ. Dựa trên nhận định này, và sau khi Mỹ cũng rút khỏi Mục tiêu Phát triển Bền vững (ODD) của Liên Hợp Quốc và của Hiệp định Paris, tạp chí Foreign Policy đã đăng bài viết với tiêu đề "The End of Development/Sự kết thúc của phát triển".
Hơn cả tương lai bất định của các chính sách hỗ trợ phát triển, chính ý tưởng về phát triển như được thế giới Phương Tây thúc đẩy trong 80 năm qua đang bị đặt thành vấn đề. Đối với chính quyền Trump, hỗ trợ nước ngoài không nên nhằm mục đích đảm bảo sự phát triển của các nước nghèo nhất hoặc giảm bất bình đẳng - chưa kể đến việc chấp nhận các ý tưởng về đoàn kết toàn cầu hay về bồi thường cho chủ nghĩa thực dân hoặc về công lý khí hậu, những điều rõ ràng đã bị chính quyền này loại bỏ: nó chỉ nên phục vụ mục đích thiết lập các hiệp ước an ninh để đảm bảo sự bá quyền của Hoa Kỳ trong việc kiểm soát các chuỗi giá trị và tiếp cận các nguồn nguyên liệu thô, đồng thời cải thiện thị trường cho các sản phẩm của Mỹ, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe hay thực phẩm. Trong bối cảnh này, điều quan trọng là phải xem xét lại lịch sử của hệ tư tưởng này - hay niềm tin này, như Gilbert Rist đã khái niệm hóa trong cuốn sách chắc chắn đã gây ra nhiều tiếng vang nhất trong lịch sử của Viện Nghiên cứu Phát triển đại học/Institut universitaire d’études du développement (IUED), tiền thân, cùng với Viện Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp/Institut de hautes études internationales (HEI) của Viện Sau đại học Geneva/Geneva Graduate Institute[1] - đã tạo nên hệ hình về phát triển trong suốt 80 năm.
Nền tảng của sự hỗ trợ phát triển trong phiên bản Tự do
Ra đời sau năm 1945 trong bối cảnh các quốc gia đang tìm cách tổ chức tái thiết và xây dựng quản trị toàn cầu, hỗ trợ phát triển công (ODA) được thiết kế để đối phó với khái niệm “kém phát triển”, một khái niệm được nhấn mạnh trong bài phát biểu của Harry S. Truman vào tháng 1 năm 1949. Mặc dù điều này liên quan đến việc triển khai một công cụ bình ổn, mục tiêu chính của nó là giành được “trái tim và khối óc” của giới tinh hoa mới nổi ở các quốc gia mới độc lập mà Hoa Kỳ đã dự đoán sự xuất hiện sau một thế kỷ rưỡi thuộc địa hóa của Châu Âu. Hỗ trợ phát triển được dự định hoạt động như một công cụ để neo giữ các quốc gia hậu thuộc địa sau này trong khối tự do do Hoa Kỳ lãnh đạo.
Về mặt trí tuệ, hệ hình phát triển bắt nguồn từ các khái niệm được thừa hưởng chủ yếu từ chủ nghĩa đoàn kết thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và chủ nghĩa quốc tế tự do, đặc trưng bởi ý tưởng rằng tất cả các quốc gia đều được hưởng lợi từ thương mại mở, một mức độ chuyên môn hóa sản xuất nhất định trong chuỗi giá trị toàn cầu, và việc thiết lập các định chế đa phương có khả năng đảm bảo một kế hoạch hóa có phối hợp sự hỗ trợ đổi lấy các đảm bảo tài chính về quản lý lành mạnh và thận trọng. Được thúc đẩy bởi một tầm nhìn mang tính chuẩn tắc và một chương trình nghị sự kinh tế được chia sẻ, được Hiến chương Liên hợp quốc ủng hộ và được triển khai sau Chiến tranh thế giới thứ hai với việc khởi động Kế hoạch Marshall và thành lập Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD), những người ủng hộ phát triển do Washington dẫn đầu đã thúc đẩy một quan điểm tuyến tính về lịch sử, theo đó mỗi quốc gia có thể leo lên nấc thang hiện đại hóa theo một logic phổ quát về phát triển và tiến bộ.
Quan điểm lịch sử này, trong đó quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa cộng sản được coi là một tai nạn của lịch sử đe dọa các quốc gia đang phát triển ngay tại thời điểm “cất cánh” của họ, rõ ràng là một cách để các nhà tư tưởng từ Phương Bắc làm cho bộ khái niệm của hệ tư tưởng thực dân thích nghi với bối cảnh hậu thuộc địa của một thế giới được giải phóng khỏi sự bảo hộ của Châu Âu. Một số nhà lý luận người Mỹ, chẳng hạn như Walt Rostow[2], thậm chí còn làm việc tại Geneva trong thời kỳ hậu chiến tại Ủy ban Kinh tế Liên Hợp Quốc mới thành lập về Châu Âu, dưới sự chỉ đạo của Gunnar Myrdal, trước khi gia nhập chính quyền Kennedy với tư cách là “ông trùm phát triển” vào những năm 1960. Phát triển được hình dung như mặt kia của hiện đại hóa và là một biểu hiện đặc thù của “sứ mệnh khai hóa” kéo dài của Phương Tây, mà các nhà dân chủ trẻ tập hợp xung quanh Kennedy vào những năm 1960 - một thập kỷ mà nhiều quốc gia mới độc lập giành được độc lập sau nhiều năm đấu tranh - đã cố gắng đổi mới bằng cách gia nhập chính quyền của ông.
Lý thuyết hiện đại hóa của Rostow, cho rằng hỗ trợ nên được quan niệm như một đòn bẩy để cất cánh, giúp vượt qua những “điều kiện tiên quyết” cho sự tăng trưởng bằng cách đảm bảo rằng các quốc gia mới độc lập không “rơi” vào ảo tưởng cộng sản, đã ảnh hưởng mạnh đến các chính sách hỗ trợ trong những thập kỷ đầu của Chiến tranh Lạnh cho đến cuối những năm 1960 và khi Nixon trở lại nắm quyền. Trong số nhiều lý thuyết phát triển, lý thuyết “Lực Đẩy mạnh/Big Push” cho rằng các nước nghèo không thể phát triển từng bước nhỏ mà cần những khoản đầu tư ban đầu khổng lồ để thoát khỏi “bẫy nghèo”. Những người ủng hộ lý thuyết này tin rằng việc chuyển giao giữa Bắc/Nam có thể đẩy nhanh quá trình hội tụ toàn cầu này thông qua việc chuyển giao công nghệ, kiến thức và vốn.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao tài chính và thực hiện các dự án phát triển trên thực địa, các thể chế hành chính đa phương đã được thành lập sau Thế chiến II, cùng với các loại nhân sự chuyên nghiệp, chuyên gia và các cơ sở đào tạo mới. Mặc dù nhằm mục đích thiết lập một hệ thống tiền tệ quốc tế ổn định và thúc đẩy tái thiết và phát triển kinh tế của các quốc gia bị chiến tranh tàn phá, các thỏa thuận Bretton Woods cuối cùng đã đóng vai trò là khuôn khổ cho công cuộc vĩ đại này. Song song đó, các liên minh được hình thành, chẳng hạn như Liên minh vì Tiến bộ của Kennedy năm 1961, một ví dụ điển hình về hỗ trợ được coi là công cụ ngoại giao để củng cố các liên minh trong thế giới tự do và thúc đẩy lợi ích kinh tế. Khối Đông Âu cũng không chịu thua kém, khi Liên Xô cũng phát triển mạng lưới phát triển riêng của mình.
Hỗ trợ phát triển bị chỉ trích như một dự án tân thực dân
Các nhà phê bình nhanh chóng chỉ ra rằng hỗ trợ như được Hoa Kỳ, và đặc biệt là các chính quyền đảng Dân chủ kế nhiệm nhau, hình dung chủ yếu nhằm mục đích phát triển “quyền lực mềm” của các nước tài trợ và trên thực tế duy trì tham vọng đế quốc của các cường quốc Phương Bắc cũ sau khi mất các lãnh thổ hải ngoại[3]. Đối với phe Phương Tây, hỗ trợ phát triển nhằm mục đích kiềm chế ảnh hưởng của Liên Xô và thúc đẩy mô hình tư bản, trong khi đối với Liên Xô, nó nhằm mục đích hỗ trợ chủ nghĩa cộng sản ở các nước đồng minh và chống lại sự bành trướng của Mỹ.
Như một hệ hình, phát triển nổi lên như một dự án chính trị khiếm khuyết, không hơn gì một màn khói tân thực dân tái tạo và củng cố bất bình đẳng cấu trúc và bất công toàn cầu. Lý thuyết về sự phụ thuộc do đó xuất hiện vào những năm 1960 với ý tưởng trung tâm rằng sự kém phát triển không nên được hiểu theo nghĩa lạc hậu trên một thang tuyến tính, mà là sản phẩm của mối quan hệ cấu trúc bóc lột giữa trung tâm và ngoại vi[4]. Tương tự, cách tiếp cận hậu phát triển của những năm 1990 khẳng định rằng chính khái niệm “phát triển” duy trì một diễn ngôn Phương Tây cục bộ, tạo ra sự phụ thuộc chính trị và sự thống trị về mặt tri thức[5].
Những nhà phê bình ban đầu này cũng nhấn mạnh bản chất công cụ của các lý lẽ phát triển Phương Tây, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận tài nguyên thiên nhiên cho các ngành công nghiệp khai thác của Phương Tây ở các nước đang phát triển sau quá trình phi thực dân hóa chính trị, đồng thời chống lại những yêu cầu mới nổi của Phương Nam toàn cầu và các định chế đa phương của họ - G77 và Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), được thành lập tại Geneva năm 1964 - về việc công nhận “quyền phát triển”, được công nhận là quyền con người vào năm 1986 sau một quá trình phát triển lâu dài bắt đầu từ Tuyên bố năm 1974 về việc thiết lập một Trật tự Kinh tế Quốc tế Mới (NIEO).
Cuối cùng, các nhà phê bình chỉ ra rằng mối liên hệ giữa lý thuyết phát triển và lý thuyết hiện đại hóa đã dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên vì ô nhiễm và khai thác quá mức, theo một cách tiếp cận thực dụng và sự tước đoạt đối với thiên nhiên, bởi vì mối liên hệ này biện minh cho việc tiếp tục chiếm đoạt tài nguyên Trái đất của các tập đoàn đa quốc gia chủ yếu là của Phương Tây trên toàn thế giới. Tuy nhiên, với làn sóng quốc hữu hóa các công ty khai thác trong lĩnh vực dầu mỏ đi kèm với việc thành lập NIEO vào những năm 1970[6], sự chỉ trích này đã phần nào được giảm nhẹ, vì kinh nghiệm cho thấy rằng một khi được quốc hữu hóa và nằm dưới sự kiểm soát của các quốc gia mới độc lập, hiếm khi là dân chủ, các ngành công nghiệp khai thác cũng không quan tâm đến việc tránh những thay đổi khí hậu nghiêm trọng như những người tiền nhiệm và đối thủ cạnh tranh Phương Tây của họ.
Hỗ trợ phát triển theo hệ hình tân tự do
Về nhiều mặt, cuộc tấn công ý thức hệ phản động hiện nay vào hệ hình phát triển gợi nhớ đến các cuộc tấn công tân tự do của những năm 1980, do Tổng thống Ronald Reagan ở Hoa Kỳ và Thủ tướng Margaret Thatcher ở Vương quốc Anh cùng dẫn đầu, những người đã hợp lực để chống lại và ngăn chặn sự lan rộng của các ý tưởng NIEO tại Liên Hợp Quốc, đồng thời kêu gọi cải cách rộng rãi (hoặc thậm chí bãi bỏ, trong trường hợp của một số nhà tư tưởng cực đoan của Reagan) các tổ chức đa phương có trụ sở tại Washington vốn, giống như Ngân hàng Thế giới, bị họ xem là đã bóp méo thị trường toàn cầu bằng cách phân phối trợ cấp công.
Những năm 1980 chứng kiến ưu thế của phương pháp tân tự do trong việc cải cách các cơ quan hành chính phát triển, được truyền cảm hứng từ mô hình Quản lý Công mới[7] và được hỗ trợ bởi những gì sau này được gọi là Đồng thuận Washington. Mô hình này giới hạn mục tiêu chính của sự hỗ trợ phát triển vào việc thúc đẩy cải cách “Nhà nước pháp quyền” (chống tham nhũng và các sự bóp méo khác của cơ chế thị trường) thay vì xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia mới (như đập, đường xá hoặc các dự án phát điện quy mô lớn)[8] ở các nước đang phát triển. Theo đuổi một chương trình nghị sự chính trị nhằm giảm bớt bệnh quan liêu và thiết lập một môi trường “gần như là thị trường” cho chính sách công, thập kỷ này đã áp đặt các điều kiện cấu trúc nghiêm ngặt lên các quốc gia nhận hỗ trợ thường đã phải chịu gánh nặng của nợ công. Các chương trình điều chỉnh cấu trúc này đã gây ra thiệt hại nặng nề ở nhiều nước đang phát triển, để lại những vết sẹo kinh tế và tâm lý lâu dài.[9]
Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ như một bước ngoặt
Dưới sự lãnh đạo của Tổng thư ký Kofi Annan, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) đã đưa ra một giải pháp thay thế cho dự án tân tự do. Đánh dấu giai đoạn từ năm 2000 đến 2015, các MDGs nhằm mục đích giảm thiểu và khắc phục những mặt trái của các chính sách điều chỉnh cơ cấu bằng cách tập trung vào các mục tiêu cơ bản như xóa đói giảm nghèo và chống lại các bệnh truyền nhiễm – do đó vượt ra ngoài các dự án đơn thuần chỉ để tăng cường “Nhà nước pháp quyền”.
Về nhiều mặt, các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG), được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 25 tháng 9 năm 2015 và thay thế cho các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đánh dấu một sự thay đổi đáng kể trong hệ hình phát triển. Đoạn tuyệt với ý tưởng về dòng chảy một chiều từ Bắc xuống Nam, các ODD đã chuyển hướng logic hỗ trợ sang hợp tác có hệ thống và liên ngành, liên quan đến tất cả các quốc gia, cả Bắc và Nam, để giải quyết các thách thức toàn cầu chung như biến đổi khí hậu, bất bình đẳng và nhân quyền. Nhấn mạnh tính ngang và sự phụ thuộc lẫn nhau của các vấn đề phát triển và thúc đẩy cách tiếp cận có sự tham gia nhiều hơn, các ODD đã thay thế khái niệm “hỗ trợ” bằng khái niệm đầu tư tập thể vào các lợi ích công cộng toàn cầu. Do đó, các ODD đã định nghĩa lại sự phát triển như một tập hợp các thách thức ngang và được chia sẻ, thay vì một quá trình đuổi kịp của các nước Phương Nam.
Mặc dù cách tiếp cận theo ODD đã tạo điều kiện cho các sự kết nối theo chủ đề dưới khẩu hiệu rộng lớn về phát triển bền vững, sự phân nhỏ hơn và cách tiếp cận đa bên bao gồm hơn, nhưng cấu trúc đa dạng và phức tạp của nó cũng dẫn đến sự phân mảnh và đôi khi là sự phức tạp quá mức, khiến các nhà phê bình nhấn mạnh những sự vô hiệu do các “quy định bằng chỉ số” tạo ra. Trong bối cảnh thiếu một hệ hình hoặc hệ tư tưởng thống nhất, các ODD ngày càng trở thành một tập hợp các thực tiễn đa dạng, được thúc đẩy bởi vô số các tác nhân và lợi ích. Ở một mức độ nào đó, các ODD đã bị chỉ trích vì làm suy yếu tính mạch lạc của tiến trình phát triển và ý đồ giải phóng của nó, một phần khuất phục trước tinh thần tân tự do về quản lý khủng hoảng, sự ám ảnh bởi các chỉ số và kiểm toán, và sự linh hoạt rời rạc.
Sự định hướng lại các mục tiêu hợp tác quốc tế này diễn ra vào thời điểm nhiều quốc gia Phương Nam đạt được mức tăng trưởng kinh tế vượt trội, đặc biệt là ở Châu Á, trong khi Phương Bắc ngày càng bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái hậu công nghiệp, sự xói mòn của Nhà nước phúc lợi và sự phá bỏ pháp quyền, làm giảm đi sức hút của thông điệp tiến bộ của Phương Tây. Điều này trùng khớp với sự trỗi dậy của các phê bình hậu thực dân, hậu hiện đại và hậu nhân loại đối với hệ hình hiện đại của Phương Tây gắn liền một cách hữu cơ với sự phát triển. Từ quan điểm này, sự kết thúc của phát triển không chỉ đơn thuần là sự kết thúc của một mối quan hệ Bắc - Nam mà quan trọng hơn, là một cuộc khủng hoảng ý nghĩa lan rộng trong thế giới hậu tự do.
Bên cạnh những cuộc tranh luận quan trọng này, một lượng lớn tài liệu, được đánh dấu bằng những câu hỏi về chất lượng và bản chất của các biện pháp được sử dụng để đánh giá những kết quả này, đã thảo luận rộng rãi về những thành công và thất bại của hợp tác phát triển trong vài thập kỷ qua, cũng như khả năng của các quốc gia trong việc đạt được các ODD[10]. Trong số những thành công của hỗ trợ kể từ năm 1945, ba thành công thường được trích dẫn: giảm nghèo cùng cực, tiến bộ trong y tế toàn cầu (tiêm chủng, HIV, sốt rét, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh) và tiến bộ của nền giáo dục tiểu học phổ cập.
Tuy nhiên, ngày nay, triển vọng hỗ trợ phát triển có vẻ ảm đạm, vì hầu như không có quốc gia tài trợ nào đạt được mục tiêu phân bổ 0,7% GDP cho hỗ trợ[11]. Mặc dù sự bất bình đẳng giữa các quốc gia có xu hướng giảm trung bình, nhưng nó lại gia tăng ở hầu hết các quốc gia, kể cả ở Phương Tây, làm xói mòn sự liên kết xã hội và nền tảng dân chủ. Căng thẳng quốc tế leo thang đã thúc đẩy chi tiêu của các chính phủ cho ngân sách quốc phòng và an ninh vào thời điểm mà nhận thức tiêu cực về hỗ trợ đạt mức cao kỷ lục.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng phát triển và sự thiếu hụt của các chương trình hỗ trợ vẫn chủ yếu là vấn đề đối với những người phụ thuộc vào chúng. Cộng gộp dân số nhận hỗ trợ ở các quốc gia có thu nhập rất thấp, những người được hỗ trợ bởi các chương trình y tế và những người bị ảnh hưởng bởi các can thiệp nhân đạo, ước tính khoảng 2 tỷ người vẫn phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự hỗ trợ quốc tế (ước tính của Liên Hợp Quốc).
Tương lai của sự hỗ trợ phát triển
Do đó câu hỏi đặt ra là viện trợ phát triển có thể sẽ có hình thức như thế nào trong tương lai, khi tính đến lòng tin đã bị mai một và các trở ngại cấu trúc mà nó đang phải đối mặt. Kịch bản thứ nhất là mọi thứ sẽ tiếp tục như thường lệ, nhưng ở quy mô nhỏ hơn và hiệu quả hơn. Xét cho cùng, phát triển đã trở thành một ngành công nghiệp thực sự, với từ 10 đến 15 triệu người làm việc trong lĩnh vực viện trợ phát triển trên toàn thế giới. Trong bối cảnh nguồn tài trợ bị cắt giảm mạnh, các chuyên gia phát triển có thể tìm cách áp dụng một phương pháp thận trọng và thực tế hơn, dựa trên những bài học kinh nghiệm được tích lũy từ quá khứ, chẳng hạn như tầm quan trọng của sự tham gia của người dân địa phương, sự cần thiết của các chính sách thuế địa phương công bằng và các biện pháp có mục tiêu cụ thể hơn, cũng như việc đánh giá tác động hiệu quả hơn. Ở một mức độ nào đó, các giải pháp công nghệ như ứng dụng di động và các giải pháp được cá thể hóa dựa trên trí tuệ nhân tạo cũng có thể giúp tăng hiệu quả của các dự án phát triển để bù đắp cho việc cắt giảm ngân sách.
Tuy nhiên, trong kịch bản lạc quan và khá phi thực tế này, có một nguy cơ thực sự là sự phát triển về cơ bản sẽ bị thu hẹp thành một cuộc khủng hoảng thường xuyên, trong đó việc quản lý khẩn cấp tiếp tục làm tê liệt các tổ chức và ngăn cản chúng đóng góp vào viện trợ nhân đạo. Một giải pháp thay thế cho xu hướng ảm đạm này là việc ưu tiên tính bền vững và các vấn đề môi trường, thường được hỗ trợ bởi những lời kêu gọi mang tính ý thức hệ về sự giảm tăng trưởng: hai diễn ngôn về phát triển và bền vững thực sự đã ngày càng hội tụ kể từ khi các Mục tiêu Phát triển Bền vững được triển khai, và một số người đã hình dung rằng môi trường là tương lai của sự phát triển. Tuy nhiên, những lời kêu gọi này chủ yếu xuất phát từ Phương Tây, trong khi các nước thuộc Phương Nam toàn cầu ưu tiên chủ quyền và phát triển kinh tế của họ, ít chú trọng đến các mục tiêu môi trường.
Thật vậy, một số ý kiến khác lại nhìn thấy trong sự suy giảm quyền bá chủ của Mỹ và cuộc khủng hoảng phát triển đi kèm một cơ hội để giải phóng cũng như một phương tiện để thúc đẩy hợp tác Nam-Nam. Các nước thuộc Phương Nam Toàn Cầu đang khám phá những cách tiếp cận mới, tập trung vào các hình thức hợp tác thể chế mới như BRICS, và quay lưng lại với các đối tác cũ để ủng hộ các đối tác mới (ví dụ, một số quốc gia châu Phi cận Sahara đã bắt đầu thay thế Pháp bằng Nga hoặc Trung Quốc). Trong kịch bản thứ hai này, “các nhà tài trợ mới nổi” như Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar sẽ định vị mình là những nhà tài trợ và điều hành mới của các dự án phát triển, đồng thời thúc đẩy động năng “Nam - Nam” được xem là bình đẳng và công bằng hơn. Đối với Ngozi Okonjo-Iweala, Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và cựu Bộ trưởng Tài chính Nigeria, sự suy giảm trong phát triển là một cơ hội giải phóng[12]. Bà lập luận rằng, hơn bao giờ hết, trọng tâm phải là đầu tư và huy động các nguồn lực trong nước, lặp lại quan điểm đã được một số nhà tài trợ áp dụng. Tương tự, các nhà lãnh đạo khác, chẳng hạn như Abdoulaye Diop ở Mali, hoan nghênh việc cắt giảm của Mỹ, nhấn mạnh chủ quyền của quốc gia họ.
Hai xu hướng này - sự suy giảm viện trợ phát triển từ Phương Bắc Toàn cầu và vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc và của các quan hệ đối tác Nam – Nam - thực tế có thể dẫn đến việc quay trở lại quan hệ song phương và có điều kiện trong phát triển, thay vì quản lý đa phương các chương trình viện trợ, khiến viện trợ một lần nữa trở nên hạn chế, chính trị và có điều kiện hơn. OECD thừa nhận rằng, bất chấp sự vô hiệu lịch sử của nó, việc xác định các điều kiện (cho viện trợ) có thể quay trở lại do thiếu các lựa chọn thay thế để đảm bảo quyền chiếm hữu chính sách trong bối cảnh nguồn tài trợ bị cắt giảm[13]. Điều này có thể thúc đẩy sự trở lại của việc theo đuổi lợi ích quốc gia một cách trắng trợn hơn dưới vỏ bọc phát triển, sử dụng viện trợ như một công cụ địa chính trị, một công cụ an ninh hoặc một phương tiện kiểm soát trào lưu di dân, như diễn ngôn và thực tiễn của Hoa Kỳ và nay là của EU đã chứng minh rõ ràng.
Kịch bản như vậy đặc biệt có khả năng xảy ra trong bối cảnh hiện tại của sự cạnh tranh ngày càng tăng về tài nguyên khoáng sản, ưu tiên dành cho bạn bè đồng minh (friendshoring) và sự củng cố các phạm vi ảnh hưởng. Tất nhiên, vai trò của Trung Quốc là biến số chủ yếu trong việc xác định kịch bản nào trong hai kịch bản này sẽ thực tế nhất. Bởi vì, bất chấp tuyên bố về chính sách “không điều kiện”[14], mô hình tài trợ phát triển cơ sở hạ tầng của Trung Quốc để đổi lấy quyền tiếp cận tài nguyên thiên nhiên và năng lượng cũng che giấu một hình thức bá quyền kinh tế và chính trị mới không được thừa nhận.
Cuối cùng, xét thấy trong vài thập kỷ qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã vượt xa ODA (Viện Trợ Phát Triển Công) trong hầu hết các bối cảnh, một số chuyên gia phát triển cho rằng dòng chảy tài chính gia tăng và các công cụ tài chính đổi mới là giải pháp để đảo ngược sự suy giảm viện trợ phát triển - và sự tăng trưởng của chúng có thể thể hiện cho kịch bản thứ ba cho tương lai của phát triển. Các quan hệ đối tác công - tư mới là một cách thức tốt để hỗ trợ các quốc gia Phương Nam Toàn Cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế.[15]
Các mô hình tài chính hỗn hợp (blended finance) kết hợp quỹ công hoặc quỹ từ thiện với vốn tư nhân để giảm rủi ro đầu tư và làm cho các dự án có tác động lớn trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư tư nhân. Tương tự, “trái phiếu phát triển” (hoặc trái phiếu bền vững) được thiết kế để tài trợ cho các dự án có lợi ích xã hội hoặc môi trường có thể đo lường được, chẳng hạn như quá trình chuyển đổi năng lượng[16]. Một cách khác mà tài chính có thể đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển là thông qua các “thuế toàn cầu”, chẳng hạn như các khoản phí áp dụng cho các hoạt động xuyên quốc gia[17], bao gồm các giao dịch tài chính, phát thải carbon hoặc dòng chảy kỹ thuật số, để tài trợ cho hàng hóa công cộng toàn cầu hoặc giảm thiểu bất bình đẳng.
Tóm lại, người ta có thể đặt câu hỏi liệu sự phân mảnh hiện tại và xu hướng quản lý hóa sự phát triển sẽ kéo theo sự kết thúc của sự phát triển như một hệ hình mạch lạc hay không. Nếu sự phát triển đã mất đi “ảo tưởng trong quá khứ” và lời hứa giải phóng của nó, điều dường như là hiển nhiên, đó là sự chuyển dịch từ phương thức đa phương sang phương thức song phương trong quản lý viện trợ phát triển sẽ là một xu hướng chính, điều sẽ củng cố vấn đề gai góc về điều kiện trong viện trợ phát triển. Với vấn đề cấp bách về sự khan hiếm tài nguyên, nguy cơ sự phát triển bị sử dụng thêm một lần nữa một cách công khai như một tập hợp các công cụ tân thực dân đang hiện hữu rất lớn.
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất là sự kết thúc hoặc suy giảm của phát triển có thể trùng hợp với – hoặc thậm chí thúc đẩy – sự tái tạo bất bình đẳng và sự thờ ơ ngày càng tăng – hoặc thậm chí là thái độ thù địch công khai từ phía một số chính phủ – đối với các vấn đề khí hậu. Đối mặt với thực tế đòi hỏi sự thay đổi cấu trúc, viện trợ phát triển có thể làm được gì? Những hình dung và lựa chọn phát triển nào sẽ xuất hiện khi chủ nghĩa phổ quát tự do không còn là ngữ pháp mặc định của nó? Cần phải tạo ra những mối liên kết nào với lĩnh vực nhân đạo bổ sung rộng lớn? Liệu phát triển sẽ trở thành cuộc đấu tranh cho bảo tồn và phát triển bền vững? Liệu phát triển có nhất thiết phải thúc đẩy nhân quyền và dân chủ một cách cơ bản? Những câu hỏi này vẫn chưa tìm được câu trả lời cụ thể thỏa đáng.
Ghi chú của biên tập viên: Ấn phẩm đầu tiên này khởi đầu sự hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Sau đại học Geneva và AOC để tái bản bằng tiếng Pháp một tuyển tập các bài báo từ tạp chí trực tuyến Global Challenges, một tạp chí trực tuyến xuất bản hai lần một năm được Văn phòng Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Sau đại học Geneva ra mắt cách đây 10 năm. Hiện nay, tạp chí này có khoảng hai mươi số nhằm mục đích chia sẻ ý tưởng và kiến thức của các nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Sau đại học Geneva với công chúng rộng rãi hơn. Những nhà nghiên cứu này đóng góp vào các cuộc tranh luận lớn hiện nay, đặc biệt là những cuộc tranh luận liên quan đến việc tiến hành các vấn đề quốc tế. Mục tiêu của bài viết này là giới thiệu những đóng góp đa dạng của nhiều ngành học khác nhau, kết hợp sự chặt chẽ của nghiên cứu học thuật với các kỹ thuật và phương pháp truyền thông của báo chí khoa học đổi mới.
Bài viết này là bản dịch của bài viết mở đầu, “Development Aid in question”, được xuất bản trong Global Challenges, số 19, bởi Geneva Graduate Institute, có tựa đề “The End Of Development”.
Nhà xã hội học, Giám đốc Nghiên cứu và Giáo sư chính thức tại Khoa Nhân học và Xã hội học thuộc Viện Nghiên cứu Cao Cấp về Nghiên cứu Quốc tế và Phát triển, Geneva
Nhà sử học và nhà khoa học chính trị, Giám đốc Điều hành Nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Sau đại học Geneva
Nhà khoa học chính trị và nhà báo, Trưởng phòng Phát triển Nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Sau đại học Geneva
Người dịch: Phạm Như Hồ
Nguồn: “L’aide au développement: une croyance remise en question?” nhật báo trên mạng với ba chuyên mục: Phân tích, Quan điểm, Phê phán (AOC), 17.6.2026.
Chú
thích: [1]
Gilbert Rist, Le développement: Histoire d’une croyance occidentale, Presses de Sciences Po, 1996. [2]
Rostow (1916–2003) là một nhà kinh tế học và cố vấn chính trị người Mỹ. Ông nổi tiếng với việc xuất bản *Các giai đoạn tăng trưởng kinh tế: Một tuyên ngôn phi cộng sản* (Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1960), đề xuất ý tưởng rằng các nước đang phát triển cần phải "bắt kịp" các nước công nghiệp hóa bằng cách tuân theo năm giai đoạn tương tự: xã hội truyền thống, điều kiện tiên quyết để cất cánh, cất cánh, tiến tới trưởng thành và tiêu dùng đại chúng. [3]
Jean-Michel Severino, Olivier Charnoz, L’Aide publique au développement, La Découverte, 2015. [4]
Xem, ví dụ: Pluriverse. A Post-Development Dictionary, Tulika Books, 2019. Để có cái nhìn tổng quan toàn diện về các lý thuyết phát triển: Gérard Berthoud, “Les Théories du développement”, Presses Universitaires de France (PUF), 2001. [5]
Trong số các tác giả quan trọng, chúng ta có thể kể đến: André Gunder Frank, Samir Amin và Fernando Henrique Cardoso. Xem lại các cuộc tranh luận trong: Grégoire Mallard, Shirin Barol và Nina T. Kiderlin, “The United States in the World Today: How Sociologists Think About It and Why It Matters” (“Hoa Kỳ trong thế giới ngày nay: Các nhà xã hội học nghĩ về nó như thế nào và tại sao nó lại quan trọng)”, Annual Review of Sociology, 2024. [6]
Grégoire Mallard, Gift Exchange. The Transnational History of a Political Idea, Cambridge University Press, 2019. [7]
Jean-David Naudet, “Les réformes de l’aide au développement en perspective de la nouvelle gestion publique”, Working Paper, No. 119, 2012. [8]
Về phân tích diễn ngôn của Ngân hàng Thế giới xác định rõ bước ngoặt này, xem Franco Moretti và Dominique Pestre, “Banspeak”, Tạp chí New Left Review, 2015. [9]
Gilbert Rist, Le développement. [10]
Về một phân tích phê bình, xem François [6] Doligez, “Viện trợ phát triển được thử nghiệm bởi các chiến lược phi lý”, International Journal of Development Studies, 241, 2020. [11]
Năm 1970, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đặt mục tiêu cho các quốc gia phân bổ 0,7% tổng thu nhập quốc dân (GNI) cho hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). [12]
Roger C. Riddell, Does Foreign Aid Really Work? , Oxford University Press, 2007. [13]
Gilles Carbonnier, International Development Policy: Aid, Emerging Economies and Global Policies, Palgrave Macmillan, 2012. [14]
Matthieu Boussichas, Patrick Guillaumont, Sylviane Guillaumont Jeanneney, “What Should Be Done about Conditionality?”, FERDI, 2024. [15]
Thông qua quỹ của mình, Bill Gates đã dành từ 7 đến 9 tỷ đô la mỗi năm cho y tế toàn cầu trong những năm gần đây, với mục tiêu đạt 9 tỷ đô la vào năm 2026. Kể từ khi thành lập vào năm 2000, quỹ này đã chi hơn 100 tỷ đô la, chủ yếu để chống lại các bệnh truyền nhiễm (AIDS, bệnh lao, sốt rét), giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và hỗ trợ các sáng kiến giáo dục. Nguồn: Le Monde, Quỹ Bill & Melinda Gates, Forbes. [16]
Aaron Maltais, Björn Nykvist, “Understanding the role green bonds in advancing sustainability”, Journal of Sustainable Finance & Investment, 11(3), 2021. [17]
Anthony B. Atkinson, New Sources of Development Finance, Oxford University Press, 2004.
