17.9.26

Niệm “ăn liền”: Khi Phật giáo trở thành món hàng của những nhà tân tự do

NIỆM “ĂN LIỀN”: KHI PHẬT GIÁO TRỞ THÀNH MÓN HÀNG CỦA NHỮNG NHÀ TÂN TỰ DO

Nguồn ảnh: fizkes/Shutterstock.com

Niệm [mindfulness] là một ngành kinh doanh khổng lồ, có giá trị vượt quá 1 tỷ đô la Mỹ chỉ riêng tại Hoa Kỳ và – có phần nghịch lý – lại gắn liền với hàng loạt sản phẩm ngày càng mở rộng được xem là “phải có”. Các sản phẩm này bao gồm ứng dụng di động có thể tải xuống (lần thống kê gần nhất ghi nhận tới 1.300 ứng dụng), các loại sách để đọc hoặc tô màu, cùng các khóa học trực tuyến. Hoạt động thực hành và huấn luyện về niệm hiện đã trở thành một bộ phận của ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe [wellness industry] toàn cầu trị giá hàng ngàn tỷ đô la.

Niệm có nguồn gốc từ các giáo lý về thiền của đạo Phật, và khuyến khích sự chú tâm một cách tĩnh lặng những khuôn mẫu suy tư và cảm xúc đã thành thói quen. Mục đích là làm gián đoạn khuynh hướng không lành mạnh của chúng ta đối với những nội dung thoáng qua trong tâm trí, thể hiện trong việc đồng nhất hóa quá mức với các nội dung này và bị lo lắng, căng thẳng quá mức về chúng. Bằng cách đó, những người thực hành niệm có thể an trú trong một trạng thái nhận thức thường được mô tả là “rộng mở” và mang tính giải thoát hơn. Họ được giải thoát khỏi những xu hướng tưởng như tự động (chẳng hạn như sự lo âu về địa vị, bề ngoài, triển vọng tương lai hay năng suất làm việc của bản thân), những điều thường bị các nhà quảng cáo và các thiết chế khác khai thác nhằm định hình hành vi của chúng ta. Trong bối cảnh Phật giáo sơ kỳ, niệm không thể tách rời khỏi đời sống đạo đức.

Print Friendly and PDF

15.9.26

Thiên kiến trong A.I. không chỉ là lỗi ở thuật toán, mà đó còn là kết quả của một chuỗi các quyết định của con người

THIÊN KIẾN TRONG A.I. KHÔNG CHỈ LÀ LỖI Ở THUẬT TOÁN, MÀ ĐÓ CÒN LÀ KẾT QUẢ CỦA MỘT CHUỖI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CON NGƯỜI

Nguồn ảnh: SDI Productions/Getty

Tại Hoa Kỳ, công ty phần mềm quản lý nhân sự hàng đầu Workday hiện đang phải đối mặt với một vụ kiện liên quan đến việc sử dụng những công cụ sàng lọc các ứng viên dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI); những công cụ này bị cáo buộc gây phân biệt đối xử với ứng viên dựa trên những yếu tố như độ tuổi, tình trạng khuyết tật và chủng tộc.

Công ty này, vốn cung cấp phần mềm tuyển dụng được nhiều doanh nghiệp lớn trên toàn cầu sử dụng, đã phủ nhận các cáo buộc trên.

Đây là một trong nhiều ví dụ về các hệ thống AI bị cáo buộc gây ra những tổn hại mang tính phân biệt đối xử. Khi sao chép và khuếch đại sự phân biệt đối xử, các hệ thống AI làm mờ ranh giới giữa lỗi kỹ thuật và bất công hệ thống, biến thiên kiến thành một dạng tổn hại trong môi trường kỹ thuật số.

Print Friendly and PDF

13.9.26

Một lý thuyết thần học chính trị ngắn gọn về trí tuệ nhân tạo

MỘT LÝ THUYẾT THẦN HỌC CHÍNH TRỊ NGẮN GỌN VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Tác giả: Nicolas Guilhot (Nhà sử học)

Với việc công bố Magnifica Humanitas, thông điệp đầu tiên của Giáo hoàng Leo XIV, một cuộc xung đột chưa từng có từ nhiều thế kỷ nay giữa quyền lực thế tục và quyền uy mục vụ đã nổ ra. Qua việc đặt các mô hình ngôn ngữ lớn dưới quyền uy/auctoritas của Thần Ngôn Thần Thánh, nền Đại Công Nghệ/Big Tech không chỉ tạo ra một hệ tư tưởng phản động - mà còn đang xây dựng một cơ sở hạ tầng đạo đức thay thế, đặt Giáo hội vào nghĩa vụ giáo lý phải chống lại nó.

Hình minh họa của PTKT (do A.I. tạo)

Năm 1245, trong khi các nhà tư tưởng của Đế quốc La Mã German Thần thánh công kích Giáo hoàng Innocent IV, Hoàng đế Frédéric II đã buộc tội Giáo hoàng khuyến khích tội lỗi và can thiệp vào chính trị đế chế. Đúng là Innocent đã gọi vị vua này là tiền thân của kẻ chống Chúa/prenuntius Antichristi, và Giáo hoàng tiền nhiệm đã rút phép thông công vị vua này. Kể từ đó, vẻ bề ngoài chắc chắn đã thay đổi - hoàng đế trần truồng và Giáo hoàng đi giày thể thao Nike - nhưng kịch bản về cơ bản vẫn không thay đổi.

Mới đây, Trump tuyên bố trên các mạng xã hội rằng Giáo hoàng Leo XIV “yếu đuối trong vấn đề tội phạm và gây tai họa cho chính sách đối ngoại”. Trong sự phản đối ồn ào và dữ dội sau đó, các nhà bình luận đã bỏ qua một điểm đáng lẽ phải được nhấn mạnh: Trump hoàn toàn có lý. Nhưng nếu vị Giáo hoàng người Mỹ này thực sự khoan hòa với tội phạm, thì chắc chắn không phải do tính khí ôn hòa đặc trưng của vùng Trung Tây Mỹ (Midwest) (quê hương của Giáo hoàng -ND), mà là do một ràng buộc hiến pháp. Nhiệm vụ của Giáo hoàng không phải là phán xét và trừng phạt, điều đó sẽ tương đương với việc chiếm đoạt các đặc quyền thiêng liêng. Sứ mệnh của Giáo hoàng không phải là đẩy nhanh sự xuất hiện của Ngày Phán Xét Cuối Cùng, mà ngược lại là biến thời gian trước đó thành một chân trời rộng mở để truyền bá Phúc Âm và thực hành các đức tính Kitô giáo.

Print Friendly and PDF

11.9.26

"Vibe coding" vừa vui vừa dễ, nhưng cái giá phải trả thì ít ai thấy

"VIBE CODING" VỪA VUI VỪA DỄ, NHƯNG CÁI GIÁ PHẢI TRẢ THÌ ÍT AI THẤY

Volodymyr Dobrovolskyy/Unsplash

Hãy tưởng tượng bạn đã luôn ao ước có một ứng dụng của riêng mình. Có thể là ứng dụng theo dõi ngân sách gia đình, quản lý danh sách mua sắm cho cả nhà hoặc nhắc bạn tưới cây.

Mãi cho đến gần đây, biến ý tưởng đó thành hiện thực đồng nghĩa với việc phải học lập trình hoặc thuê một lập trình viên. Giờ đây, bạn chỉ cần nói với chatbot trí tuệ nhân tạo (AI) về ý tưởng của mình. Trong vòng vài phút, nó có thể viết mã, sửa lỗi và giúp bạn dựng thành ứng dụng chạy được.

Phương pháp này gọi là vibe code. Cách này nhanh, đầy hứng khởi và đang giúp hàng triệu người “viết” được phần mềm lần đầu tiên.

Không khó hiểu vì sao vibe code trở nên phổ biến đến thế. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã phát hiện hàng ngàn lỗ hổng bảo mật và những thông tin bí mật bị lộ trong các ứng dụng tạo bằng AI đang được công khai trên mạng. Phần mềm có vẻ chạy được không phải lúc nào cũng là phần mềm đáng tin.

Print Friendly and PDF

9.9.26

Trung Quốc siết chặt quản lý bạn đồng hành AI. Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ điều này?

TRUNG QUỐC SIẾT CHẶT QUẢN LÝ BẠN ĐỒNG HÀNH AI. CHÚNG TA CÓ THỂ RÚT RA BÀI HỌC GÌ TỪ ĐIỀU NÀY?

Nothing Ahead/Pexels

Kể từ tháng 11 năm 2022, trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh đã làm thay đổi cách hàng tỷ email, bài tập của sinh viên, báo cáo và thậm chí cả những tin nhắn chia tay được viết ra. Bên cạnh các ứng dụng thông thường này, chúng ta cũng chứng kiến sự bùng nổ của các chatbot được thiết kế như những “người bạn đồng hành” AI.

Người dùng có thể tự thiết kế ngoại hình, trang phục (hay thậm chí cởi bỏ trang phục) cho người bạn AI của riêng mình, vốn thường phải trả phí để sử dụng. Những chatbot mang tính xã hội này mang đến “các cuộc trò chuyện vui vẻ” và một mối quan hệ dường như hoàn hảo, nhưng phải đánh đổi bằng sự mong manh trong tương tác hai chiều và cảm giác thuộc về đích thực mà con người chỉ có thể tìm thấy trong các mối quan hệ với những con người khác.

Những người ủng hộ loại hình AI này cho rằng, đối với những ai đang trải qua cảm giác cô lập xã hội, những con chatbot là những người bạn đồng hành luôn sẵn sàng hỗ trợ, và không phán xét họ. Thực tế cũng đã có một số bằng chứng cho thấy chatbot có thể làm giảm các triệu chứng của nỗi cô đơn, tình trạng mất kết nối kéo dài và cảm giác không được thuộc về.

Print Friendly and PDF

7.9.26

Hình ảnh của Trung Quốc trên thế giới tốt hơn hình ảnh của nước Mỹ: điều lần đầu tiên xảy ra

PHÂN TÍCH

HÌNH ẢNH CỦA TRUNG QUỐC TRÊN THẾ GIỚI TỐT HƠN HÌNH ẢNH CỦA NƯỚC MỸ: ĐIỀU LẦN ĐẦU TIÊN XẢY RA

Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Donald Trump và Tập Cận Bình. DR.

Một nghiên cứu của Pew Reasearch Center công bố ngày 15 tháng bảy 2026 cho thấy rằng lần đầu tiên Trung Quốc được nhìn nhận tích cực hơn nước Mỹ tại phần lớn trong 36 nước được thăm dò – bao gồm cả những đồng minh truyền thống của Washington như Canada. Ở nghiên cứu này, chúng ta chủ yếu thấy tính không thể đoán trước, sự kiêu ngạo và những hành động gây hấn của Donald Trump từ khi ông trở lại Nhà Trắng vào tháng giêng 2025. Rõ ràng sự sa sút đến chóng mặt của hình ảnh nước Mỹ là tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh Việt Nam.

Đây là lần đầu tiên trong gần 20 năm thăm dò dư luận thế giới do Pew thực hiện cho thấy Trung Quốc đã hơn Mỹ về hình ảnh tích cực đối với một phần lớn những người được hỏi, Laura Silver, phó giám đốc của bộ phận Global Attitudes Research của Pew, đã nhấn mạnh như vậy với AFP. Cuộc điều tra được tiến hành với 42.151 người đã ghi nhận có nhiều người tin tưởng Tập Cận Bình hơn Trump – như vậy kết quả này đảo ngược xu hướng được quan sát thời tổng thống Biden còn đứng đầu nước Mỹ, mặc dù nhiều người được hỏi lúc đó không tin tưởng Biden lẫn Tập Cận Bình.

Mức độ tín nhiệm nước Mỹ tại Canada đã hạ từ 57% năm 2023 xuống 33% năm nay, trong khi mức độ tín nhiệm Trung Quốc lại tăng từ 14% lên 44%. Nước Mỹ đã luôn luôn đạt các kết quả tốt hơn Trung Quốc liên quan đến sự tôn trọng các quyền tự do cá nhân, nhưng lợi thế này đã giảm rất mạnh kể từ năm 2021, sự tin tưởng đối với nước Mỹ đã sút giảm trong đại bộ phận châu Âu và những nơi khác.

Print Friendly and PDF

5.9.26

Tại sao các công việc trong ngành tài chính lại làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập tại các thành phố trên toàn thế giới

TẠI SAO CÁC CÔNG VIỆC TRONG NGÀNH TÀI CHÍNH LẠI LÀM GIA TĂNG BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP TẠI CÁC THÀNH PHỐ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

Các tác giả: Marta M. Elvira, Nils Neumann Olivier Godechot

Các tòa nhà chọc trời tại khu tài chính của Thành phố London, Vương quốc Anh. Nguồn ảnh: Mistervlad/Shutterstock

Chúng ta hãy thử hình dung lịch sử của New York nếu thiếu Phố Wall, hay London mà không có khu tài chính City. Thật chẳng dễ chút nào.

Việc trở thành nơi đặt các thị trường tài chính chủ chốt của một đất nước giúp định hình bản sắc, nâng cao vị thế và tạo ra việc làm cho một thành phố. Nhưng điều này cũng đi kèm với những hệ quả đánh đổi. Do đóng vai trò là “thỏi nam châm” thu hút các công việc tài chính lương cao cùng những ngành nghề liên quan, nhiều thành phố tài chính thường đối mặt với tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở mức đặc biệt cao.

Trên thực tế, bên cạnh tác động của quá trình toàn cầu hóa và sự tập trung của lực lượng lao động có trình độ cao, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng sự hiện diện của thị trường tài chính là một nhân tố chính dẫn đến sự tập trung ngày càng lớn của tốp có thu nhập cao nhất cũng như tình trạng bất bình đẳng thu nhập tại một số thành phố được chọn lọc.

Trong một nghiên cứu 24 nhà nghiên cứu thực hiện, chúng tôi đã khảo sát mức thu nhập của tốp dẫn đầu thu nhập tại các thành phố thuộc 10 nước trải khắp Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á, thông qua việc phân tích dữ liệu liên kết giữa người sử dụng lao động và người lao động trong suốt hai thập kỷ.

Print Friendly and PDF

3.9.26

Ba Cấp độ Văn hóa theo Edgar Schein, và Tại sao sự thay đổi văn hóa trong tổ chức lại khó xảy ra

Tổ chức & Văn hóa

BA CẤP ĐỘ VĂN HÓA THEO EDGAR SCHEIN, VÀ TẠI SAO SỰ THAY ĐỔI VĂN HÓA TRONG TỔ CHỨC LẠI KHÓ XẢY RA

Văn hóa là một thuật ngữ khá mơ hồ và phức tạp. Vào năm 1952, hai học giả Kroeber và Kluckhohn đã tổng hợp được hơn 134 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này trong một tác phẩm nghiên cứu tổng quan toàn diện về văn hóa của mình.

Khi khảo cứu lịch sử của từ này, Kroeber và Kluckhohn nhận thấy mọi con đường đều dẫn về nước Đức, nơi từ này bắt đầu xuất hiện dưới tên gọi là “cultur”:

Chẳng hạn, Kant – cũng như phần lớn những người cùng thời với ông – vẫn viết từ này là Cultur, nhưng sử dụng nó nhiều lần, và luôn với nghĩa là sự vun đắp hoặc hoặc được nuôi dưỡng.

Phải đến cuối thế kỷ 19, từ này mới bắt đầu được định hình thành dạng thức hiện đại và được các nhà nhân học và những học giả khác về văn hóa tiếp nhận để nghiên cứu những nền văn hóa nước ngoài.

Cuốn sách Văn hóa Nguyên thủy [Primitive Culture] xuất bản năm 1870 của Sir Edward Tylor thường được xem là một bước chuyển, hướng tới định nghĩa hiện đại của từ văn hóa:

một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, niềm tin, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục, cùng mọi năng lực và thói quen khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

Đến những năm 1950, đã có hơn 100 định nghĩa về từ “văn hóa”, và đây chính là thời điểm trước khi các tổ chức bắt đầu sử dụng thuật ngữ này.

Vào những năm 1980, nghiên cứu của Edgar Schein đã mở rộng phạm vi của các khái niệm này sang các tổ chức hiện đại, và cách chúng ta nói về các công ty từ đó đến nay cũng đã không còn như trước nữa.

Print Friendly and PDF

1.9.26

Về một số mục liên quan đến thống kê trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

VỀ MỘT SỐ MỤC LIÊN QUAN ĐẾN THỐNG KÊ TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU

Analyse des correspondances/Analyse des correspondances multiples [Phân tích những tương ứng/Phân tích những tương ứng bội]

Phân tích những tương ứng là một kĩ thuật của thống kê đa biến (thống kê xử lí các bảng có nhiều biến). Phân tích này là một biến thể của “phân tích nhân tố” hay của “phân tích những thành phần chính” (ACP) được các nhà tâm lí học sử dụng từ những năm 1940, nhưng tiến triển nhiều và được phổ biến, ít ra là ở Pháp trong những năm 1960 và 1970 dưới sự thúc đẩy của nhà thống kê học Jean-Paul Benzécri và những người cộng tác với ông. Các cộng tác viên này mở rộng, về mặt toán học lẫn tin học, phân tích nhân tố không những ra những bảng có biến định lượng, như chiều cao hay tuổi tác, mà còn đến cả những bảng có biến định tính, như giới tính hay thành phần xã hội-nghề nghiệp (“nam giới”, “công nhân”, v.v.).

Pierre Bourdieu sử dụng kĩ thuật này từ giữa những năm 1970, chủ yếu là biến thể mà ngày nay được gọi là “phân tích những tương ứng bội” (ACM), cho phép xử lí thông tin của một tập những cá thể thống kê (ví dụ, đó có thể là những cá thể sinh học, những tập thể …) với một số lớn những biến định tính. Tại Trung tâm xã hội học châu Âu (CSE), Salah Bouhedja nghiên cứu kĩ thuật và các chương trình tin học cho phép triển khai ACM. Bài viết đầu tiên có một ACM được công bố năm 1976 và được đăng ba năm sau, dưới một dạng được tu chỉnh, trong La Distinction. Trừ trường hợp của sơ đồ nổi tiếng về không gian xã hội, những biểu đồ trong tác phẩm này về các biến thể của thị hiếu (goût) thống trị và thị hiếu trung bình [Di: 296, 392] là kết quả của ACM. Tiếp sau đó, Bourdieu vận dụng ACM cho việc nghiên cứu giới chủ [PB 1978b; rồi La Noblesse d’État], trường hàn lâm [Homo academicus], các Trường lớn [], chính sách nhà ở [Les Structures sociales de l’économie], ngành xuất bản [PB 1999a]. Những nhà nghiên cứu lấy cảm hứng từ Bourdieu và/hay làm việc bên cạnh ông cũng vận dụng phân tích những tương ứng trong những bài viết trên tạp chí Actes de la recherche en sciences sociales để xây dựng những trường (trường các tiên phong nghệ thuật, trường các nhà kinh tế, trường điện ảnh …), nghiên cứu thị trường hôn nhân, sự thừa kế những cơ sở nông nghiệp, những cách sử dụng tin học, những lá thư tố cáo, v.v.. Nếu các ACM trong La Distinction và trong La Noblesse d’État nhắm vào những cuộc điều tra bằng bản câu hỏi do CSE tiến hành, các ACM do Bourdieu công bố dựa trên những đặc tính của các giới (prosopographies).

Print Friendly and PDF

30.8.26

Hỗ trợ phát triển: Một niềm tin bị đặt thành vấn đề?

HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN: MỘT NIỀM TIN BỊ ĐẶT THÀNH VẤN ĐỀ?

Grégoire MallardDominic Eggel  Marc Gal

Trong khi hỗ trợ phát triển cho các nước thuộc Phương Nam là đặc điểm nổi bật của thời kỳ hậu thuộc địa, thì việc bước vào thế kỷ 21 đánh dấu một bước ngoặt. Đối mặt với những kết quả được trình bày là đáng thất vọng, sự hỗ trợ phát triển dường như không còn khả năng đảm bảo duy trì hòa bình và sự thịnh vượng. Liệu lĩnh vực hỗ trợ có bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng? Hay chính hệ hình phát triển cần được xem xét lại?

Hình minh họa của PTKT (do A.I tạo)

Ngày 20 tháng 1 năm 2025 sẽ mãi là một ngày đen tối đối với những tác nhân của sự hợp tác của Hoa Kỳ. Một ngày sau khi trở lại chức tổng thống, Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp đình chỉ tất cả các chương trình của USAID trong 90 ngày. Mười lăm ngày sau, sắc lệnh này được tiếp nối bằng thông báo đóng USAID, được ông mô tả là một “tổ chức tội phạm”.

Vượt lên trên sự kinh ngạc, các nhà phân tích đã hướng sự chú ý của giới truyền thông đến "Dự án 2025", nơi tất cả các biện pháp này được công bố và biện minh bởi ba tham vọng: giảm ảnh hưởng của chính quyền liên bang, tái tập trung chính sách đối ngoại vào lợi ích quốc gia và loại bỏ các chương trình bị coi là "thù địch về mặt tư tưởng" với các giá trị bảo thủ. Dựa trên nhận định này, và sau khi Mỹ cũng rút khỏi Mục tiêu Phát triển Bền vững (ODD) của Liên Hợp Quốc và của Hiệp định Paris, tạp chí Foreign Policy đã đăng bài viết với tiêu đề "The End of Development/Sự kết thúc của phát triển".

Print Friendly and PDF

28.8.26

Thuyết nhân loại trung tâm (thuyết con người là trung tâm), thuyết nhân hóa, thuyết đẳng cấp loài (thuyết phân biệt đối xử theo loài): hãy coi chừng những lầm lẫn!

THUYẾT NHÂN LOẠI TRUNG TÂM (THUYẾT CON NGƯỜI LÀ TRUNG TÂM), THUYẾT NHÂN HÓA, THUYẾT ĐẲNG CẤP LOÀI (THUYẾT PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ THEO LOÀI): HÃY COI CHỪNG NHỮNG LẦM LẪN!

Tác giả: Philippe Le Doz

Giảng sư, hướng dẫn nghiên cứu, lịch sử cổ đại, Đại học Rennes 2

Có nên diễn giải các hành vi của loài vật bằng cách lấy loài người làm mốc tham chiếu, hay trái lại xây dựng giả thuyết về một sự chia tách chặt chẽ làm cho loài người chúng ta trở nên một loài đặc biệt? Saketh Upadhya/UnsplashCC BY

Thuyết loài người là trung tâm hay nhân loại trung tâm (anthropocentrisme), được hiểu là loài người được ưu tiên trong một thế giới mà con người được tự do khai thác, có xu hướng va chạm với một khái niệm ngày càng được sử dụng nhiều trong những năm gần đây: thuyết spécisme (thuyết đẳng cấp loài hay thuyết phân biệt đối xử theo loài – ND). Gần đây, triết gia François Jaquet đã nhấn mạnh nguy cơ lầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Quả thực phân biệt hai thuật ngữ này là đòi hỏi cấp bách. Có thể ta đưa ra giả thuyết là thuyết nhân loại trung tâm là một thiên kiến về nhận thức, nơi mà thuyết phân biệt đối xử theo loài thuộc về một dự án xã hội.

Các thuyết xem loài người là trung tâm

L’anthropocentrisme – thuyết nhân loại trung tâm/thuyết xem loài người là trung tâm – là một khái niệm mặc dù thường được dùng nhưng không dễ phân định rõ. Các định nghĩa trong các từ điển không rõ ràng, nhưng nói chung là các định nghĩa này đều đồng ý nêu ra xu hướng của loài người tự cho mình là trung tâm của vũ trụ.

Print Friendly and PDF

26.8.26

Cuộc ám sát Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (Ngày 14/4/1865)

CUỘC ÁM SÁT TỔNG THỐNG MỸ ABRAHAM LINCOLN

Ngày 14 tháng 4, 1865

Chúng ta không phải là kẻ thù, mà là bạn. (1861)

— Abraham Lincoln

 

Tổng thống Lincoln (12/2, 1809 – 15/4, 1865; hưởng thọ 56t). Ảnh ngày 9 tháng 2, 1864. Anthony Berger

Lời nói đầu

Đây là bài viết của báo Thụy Sỹ Neue Zürcher Zeitung ngày 15.08.2026 của tác giả Marc Tribelhorn về sự kiện đúng 161 năm trước, 1865, Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln bị ám sát tại nhà hát Ford Theater, Washington DC. Marc Tribelhorn là nhà báo về lịch sử của NZZ, được trao giải thưởng Báo chí Thụy Sĩ năm 2022. Tiêu đề trong bài này do chúng tôi đặt lại. Bài báo nói lên bối cảnh Abraham Lincoln bị ám sát, nói về động cơ của kẻ ám sát, phản ứng của nước Mỹ, cả Bắc lẫn Nam về tin Tổng thống bị ám sát, một bức tranh toàn diện thu nhỏ. Xin cảm ơn báo Neue Zürcher Zeitung và tác giả Marc Tribelhorn. Một số ảnh và tư liệu được chúng tôi thêm vào.

Print Friendly and PDF

24.8.26

Bạn có thể yêu một trí tuệ nhân tạo nhưng nó có đáp lại được không? Triết học có đáp án

BẠN CÓ THỂ YÊU MỘT TRÍ TUỆ NHÂN TẠO NHƯNG NÓ CÓ ĐÁP LẠI ĐƯỢC KHÔNG? TRIẾT HỌC CÓ ĐÁP ÁN

GoodStudio

Chúng ta thường nói mình yêu những món đồ như chiếc áo len ấm áp hay máy ảnh mới. Nhưng người ta thường không hiểu theo nghĩa đen khi nghe vậy. Đó là một kiểu diễn đạt ngắn gọn về mặt cảm xúc. Chúng ta dùng nó để bày tỏ sự yêu mến đối với những vật quý giá.

Cuộc sống và tình yêu vốn phức tạp. Và đôi khi, người ta quả thực công khai bày tỏ tình yêu lãng mạn dành cho những vật vô tri vô giác. Họ hình thành gắn bó cảm xúc mãnh liệt với búp bê tình dục, gối ôm hoặc hình đại diện dạng ảnh nổi (hologram) của các nhân vật hư cấu. Chẳng hạn như năm 2018, Akihiko Kondo đã “kết hôn” với Hatsune Miku, ca sĩ nhạc pop được tạo ra bằng máy tính vốn nổi tiếng nhờ đóng vai chính trong các trò chơi điện tử và đi lưu diễn cùng Lady Gaga. Kondo nói rằng anh biết Miku không có thật. Nhưng tình yêu của anh dành cho cô ấy thì có.

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra kiểu tình yêu mới với “thứ gì đó”. Ngày càng nhiều người nói rằng họ đã phải lòng chatbot AI – cả những chatbot đồng hành được cá nhân hóa do các ứng dụng phổ biến như Replika hay Character.AI tạo ra, và cả những mô hình ngôn ngữ lớn thông dụng hng ngày như ChatGPT và Claude. Yêu đương với AI đang ngày càng phổ biến.

Print Friendly and PDF

22.8.26

Nền tảng hóa và việc làm trở nên bấp bênh, mất ý nghĩa: đối thoại giữa nhà văn Franck Courtès và nhà kinh tế học Coralie Perez

NỀN TẢNG HÓA VÀ VIỆC LÀM TRỞ NÊN BẤP BÊNH, MẤT Ý NGHĨA: ĐỐI THOẠI GIỮA NHÀ VĂN FRANCK COURTÈS VÀ NHÀ KINH TẾ HỌC CORALIE PEREZ

Tác giả: Audrey Fisné-Koch

Trong quyển sách A pied d’œuvre [tạm dịch: Bắt tay vào việc], Franck Courtès thuật lại công việc hàng ngày của mình về nền tảng số. Nhà kinh tế học Coralie Perez nhận ra trong câu chuyện này cả một mảng của thế giới việc làm hiện thời. Họ cùng nhau thảo luận về vấn đề này.

“Tôi đã hưởng lương khoảng 3000 euro mỗi tháng, có năm lên đến 8000 euro/tháng. Từ nhiều tháng nay, lương tôi chỉ còn 250 euros bản quyền tác giả”, Franck Courtès giải thích như vậy. Đó là lý do khiến cựu nhiếp ảnh gia nay trở thành thành nhà văn đăng ký trên một nền tảng về “các công việc vặt”: một hệ thống đấu giá đảo ngược nơi mà người dùng chấp nhận mọi loại công việc như sửa chữa đồ đạc, dọn dẹp xà bần hay tỉa cây để đổi lại những khoản thù lao ngày càng rẻ mạt.

Luôn luôn bấp bênh hơn và ít được bảo vệ hơn, sự đảo lộn mô hình lao động truyền thống là trung tâm của quyển sách A pied d’œuvre - (Nhà xuất bản Gallimard, 2023), quyển tự truyện của ông đã được Valérie Donzelli chuyển thể điện ảnh năm 2025.

Năm 2024, quyển sách đã nhận giải thưởng tiểu thuyết doanh nghiệp và lao động. Và lý do là sách phản ánh những biến đổi xã hội rất thời sự về ý nghĩa của công việc, nền tảng hóa hay còn là sự che khuất một tầng lớp cần lao mới. Chúng tôi đã thảo luận vấn đề này với Franck Courtès và Coralie Perez, là nhà kinh tế học và là kỹ sư nghiên cứu tại Trung tâm kinh tế Sorbonne (Đại học Paris 1).

Print Friendly and PDF

20.8.26

Cách tôi dùng thống kê và tấm bằng luật để chống lại các hành vi vi phạm nhân quyền

CÁCH TÔI DÙNG THỐNG KÊ VÀ TẤM BẰNG LUẬT ĐỂ CHỐNG LẠI CÁC HÀNH VI VI PHẠM NHÂN QUYỀN

Khoảng 50 năm sau khi vạch trần sự phân biệt giới tính trong quyền lợi hưu trí của giới giảng viên đại học Mỹ, Mary Gray hiện đang là nhà thống kê kiêm nhà vận động vì công bằng xã hội.

Bài viết của Rachel Crowell

Mary Gray đã áp dụng các lập luận thống kê và pháp lý để đưa ra các khuyến nghị về cách chính phủ và các tổ chức có thể giải quyết vấn nạn diệt chủng và các hành vi vi phạm nhân quyền khác, cũng như nạn phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Dù đã ngoài tuổi 80, bà vẫn tiếp tục sự nghiệp luật sư, nhà thống kê và nhà toán học tại Đại học American ở Washington DC. Bà nói: “Dù tóc bạc trắng thì tôi vẫn chưa nghỉ hưu đâu”.

Một số nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào số ít vấn đề trong phạm vi hẹp. Công trình của Gray thì rộng hơn thế nhiều.

Bà đã đào tạo các điều tra viên cho Tòa án Hình sự Quốc tế tại The Hague (còn được biết đến với tên gọi là Den Haag hoặc La Hay), Hà Lan, để xác định mức độ vi phạm nhân quyền và tội diệt chủng. Ở trong nước, bà đã nỗ lực chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính, chủng tộc và tuổi tác, đồng thời tạo cơ hội trong giới học thuật Hoa Kỳ cho những người từ nhiều hoàn cảnh xuất thân khác nhau.

chủ tịch sáng lập của Hiệp hội Phụ nữ trong Toán học (Association for Women in Mathematics) từ năm 1971 đến 1974, Gray đã thiết lập mạng lưới và hỗ trợ cho các đồng nghiệp nữ, đồng thời ủng hộ một nền văn hóa công bằng và bao trùm hơn trong ngành. Năm 2022, khi hiệp hội thành lập Giải thưởng Mary và Alfie Gray về Công bằng Xã hội được đặt theo tên của Gray và chồng bà, một nhà toán học đã qua đời năm 1998 tổ chức này đã mô tả Mary Gray là người “đã dành cả cuộc đời mình để theo đuổi sự xuất sắc trong toán học và công bằng xã hội”. Bên cạnh nghiên cứu và giảng dạy học thuật, Gray còn tình nguyện làm việc cho cả Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) lẫn Thống kê Không Biên giới (Statistics Without Borders), một tổ chức cung cấp các dịch vụ thống kê và khoa học dữ liệu miễn phí vì lợi ích cộng đồng để cải thiện phúc lợi con người trên toàn thế giới.

Print Friendly and PDF

18.8.26

Đối thoại với Hannah Arendt thông qua Trí tuệ nhân tạo

ĐỐI THOẠI VỚI HANNAH ARENDT THÔNG QUA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Nguyễn Xuân Xanh trình bày

Tác giả: Carlotta Wald đối thoại với bản sao AI của Hannah Arendt

Báo DIE ZEIT số 47/2025, tháng 11 năm 2025

Cảm ơn tác giả và DIE ZEIT

Chúng ta không thể tiếp tục coi những gì tốt đẹp trong quá khứ là di sản của mình, vứt bỏ những gì xấu và xem nó như một gánh nặng vô ích mà thời gian sẽ tự chôn vùi vào quên lãng. Dòng chảy ngầm của lịch sử phương Tây cuối cùng đã trồi lên bề mặt và chiếm đoạt phẩm giá của truyền thống chúng ta. Đây là thực tại mà chúng ta đang sống. Và đó là lý do tại sao mọi nỗ lực trốn tránh sự ảm đạm của hiện tại bằng cách hoài niệm về một quá khứ vẫn còn nguyên vẹn, hoặc bằng sự lãng quên được dự đoán trước về một tương lai tốt đẹp hơn, đều vô ích.

Đối tượng lý tưởng của chế độ độc tài toàn trị không phải là vì [họ đã được thuyết phục], mà là vì những người mà sự phân biệt giữa sự thật (fact) và hư cấu (fiction), và sự phân biệt giữa đúng và sai (tức là các tiêu chuẩn của tư tưởng) không còn tồn tại nữa.

—Hannah Arendt, Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị

Quyền lực… không bao giờ bắt nguồn từ người nắm giữ nó. Phải có một thực tại lớn hơn, một “hệ thống thứ bậc” được chia sẻ giữa những người có quyền lực và những người dưới quyền…. Điều tương tự cũng đúng với quyền lực của pháp luật, nó không được tuân thủ vì nó hợp lệ, mà hợp lệ vì nó được tuân thủ.”

—Hannah Arendt, What is Authority?

Hannah Arendt (1906-1975) (Institute for Advanced Studies in Culture)

Lời nói đầu

Dưới đây là mẩu đối thoại giữa nhà báo Carlotta Wald với nhà triết học chính trị Hannah Arendt, người đã mất năm 1975, nhờ một công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) làm “sống lại”. Hannah Arendt, một trong những nhà lý luận chính trị lỗi lạc nhất của thế kỷ XX. Sinh ra và lớn lên ở Đức vào đầu những năm 1900, bà theo học triết học với Martin Heidegger và Karl Jaspers. Là một người Do Thái, bà đã trải qua sự đàn áp trong Thế chiến II, nhưng đã trốn thoát sang Hoa Kỳ vào năm 1941. Tại đây, bà được công nhận nhờ các tác phẩm về chủ nghĩa toàn trị. Những bài viết về phiên tòa xét xử Eichmann ở Jerusalem năm 1961, trong đó bà đã đặt ra cụm từ nổi tiếng – mặc dù ban đầu gây nhiều tranh cãi – “sự tầm thường của cái ác”. Các học giả nghiên cứu tư tưởng của bà thường coi cuốn sách “Tình trạng con người” (The Human Condition) năm 1958 là tác phẩm quan trọng nhất của bà, trong đó bà phân tích cuộc sống trong điều kiện hiện đại, than thở về điều mà bà gọi là “sự tha hóa thế giới” hiện đại, và giới thiệu khái niệm quan trọng về “tính sinh sản”: thực tế rằng chúng ta là những người mới sinh ra là cội nguồn khả năng hành động và bắt đầu một điều gì đó mới mẻ của chúng ta.

Print Friendly and PDF