Hiển thị các bài đăng có nhãn Học và dạy kinh tế học thời hậu khủng hoảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học và dạy kinh tế học thời hậu khủng hoảng. Hiển thị tất cả bài đăng

29.9.23

Chủ nghĩa tư bản kìm nén điều gì?

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN KÌM NÉN ĐIỀU GÌ? MỘT QUAN ĐIỂM CỦA PHÁI JUNG

Lynn Parramore

Ngày 17 THÁNG SÁU 2022

HÀNH VI CON NGƯỜI

Carl Jung (1875-1961)

Việc hàng tỷ người sống trong nỗi bất an và bất công [khiến cho chủ nghĩa tư bản] hầu như không phải là một hệ thống duy lý.

Kinh tế học thể hiện bản thân nó như là một ngành khoa học duy lý liên quan đến các thước đo khách quan và những cách tiếp cận định lượng, song các nhà quan sát sắc sảo từ lâu đã nhận ra rằng nó tràn ngập các yếu tố ma mị, kỳ ảo, phi duy lý và vô thức. Điều đó khiến nó trở thành mảnh đất màu mỡ cho những người nghiên cứu về tâm lý con người.

Các cuộc thảo luận đương thời về kinh tế học và tâm lý học chủ yếu tập trung vào kinh tế học hành vi, trong khi tâm phân học, nhánh vốn có vẻ như được dành riêng cho việc nâng cao khả năng nhận thức về vô thức, lại ít xuất hiện hơn trong các cuộc trò chuyện. Hơn nửa thế kỷ trước, các nhà tư tưởng như Norman O. Brown và Herbert Marcuse đã thu hút được sự chú ý rộng rãi khi đi sâu vào các ngóc ngách ẩn giấu và những động cơ vô thức của kinh tế học, nhưng từ những năm 1960, khi Sigmund Freud không còn được giới học thuật ưa chuộng nữa, thì các cách tiếp cận tâm phân đã bị gạt sang một bên hoặc bị đổi tên – mặc dù trên thực tế, rất nhiều nghiên cứu khoa học gần đây ủng hộ khái niệm vô thức của Freud.

Ngày nay, khi vật lộn với các hệ thống kinh tế dường như ngày càng hủy hoại sự yên vui (wellbeing) của con người, có lẽ đã tới lúc chúng ta cần xem xét lại liệu tâm phân học có điều gì hữu ích để nói về khoa học buồn thảm hay không?

Print Friendly and PDF

27.10.20

Kế hoạch triệt để nhằm thay đổi cách thức Harvard giảng dạy kinh tế học

  KẾ HOẠCH TRIỆT ĐỂ NHẰM THAY ĐỔI CÁCH THỨC HARVARD GIẢNG DẠY KINH TẾ HỌC

Tác giả: Dylan Matthews | dylan@vox.com

Nhà kinh tế học Raj Chetty đứng trước Khoa Kinh tế, trong khuôn viên Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts. Ảnh: Kayana Szymczak dành riêng cho Vox

Raj Chetty có ý tưởng nhằm giới thiệu với sinh viên về nhập môn kinh tế học, ý tưởng này có thể thay đổi lĩnh vực kinh tế học - và xã hội.

Nếu Harvard có một khóa học nổi tiếng nhất thì đó là môn Kinh tế học 10 (viết tắt là Ec 10).

Lớp kinh tế học nhập môn được tin cậy cho là một trong những khóa học phổ biến nhất dành cho sinh viên đại học. Môn này thường được giảng dạy ở hội trường lớn Hogwarts, nơi hàng trăm sinh viên đang chăm chú ghi chép hoặc nghịch máy tính xách tay khi một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng của trường hướng dẫn họ những kiến thức cơ bản về cung và cầu.

Bởi vì Harvard có xu hướng đặt khuôn mẫu cho các trường đại học khác, nên sách giáo khoa của môn Ec 10 là một cuốn sách bán chạy nhất, được sử dụng tại hàng chục trường khác, thu về cho tác giả của nó, giáo sư Greg Mankiw, ước tính khoảng 42 triệu đô la tiền bản quyền kể từ khi sách được phát hành lần đầu tiên vào năm 1998. Nhập môn Kinh tế học của Mankiw đã tạo ra tiếng vang không chỉ ở Harvard mà còn về cách thức môn Econ 101 được giảng dạy trên toàn quốc.

Print Friendly and PDF

3.10.18

Kinh tế học vi mô có gì đáng giữ lại


KINH TẾ HỌC VI MÔ CÓ GÌ ĐÁNG GIỮ LẠI?[1]

Emmanuelle Bénicourt[2] và Bernard Guerrien[3]
Tóm tắt: Bài này liệt kê tất cả những gì trong kinh tế học vi mô vấp phải lí lẽ thông thường hay dẫn đến phạm phải lỗi logic – dù cho đó là trong các mô hình cân bằng bộ phận lẫn cân bằng chung, ở thế cạnh tranh hoàn hảo hay không. Ở cội nguồn của những sai lầm này là cách trình bày không thích hợp hình thức tổ chức nằm sau các mô hình này và việc thiếu làm rõ những tin tưởng được gán cho các tác nhân.
Kinh tế học vi mô thường được hiểu như việc nghiên cứu những lựa chọn của các tác nhân kinh tế, hộ gia đình và doanh nghiệp, và việc các thị trường phối hợp các tác nhân này. Bài này hoàn toàn không bác bỏ kinh tế học vi mô bằng cách phủ nhận, như các nhà “phi chính thống” thường làm, giả thiết homo economicus – theo đó duy chỉ việc yêu bản thân mới được tính đến trong việc phân tích các hành vi. Rõ ràng giả thiết này là không “thực tế”: không ai phủ nhận rằng động cơ của con người bằng xương bằng thịt là phức tạp và đa dạng. Nhưng cũng rõ ràng không kém là động cơ thuần tuý “kinh tế” – việc tìm kiếm hoan lạc cá nhân hay với chi phí thấp – giữ một vai trò đủ quan trọng trong các hành vi con người để ta đặc biệt chú ý đến nó, như điều kinh tế học đã làm.
Do đó có thể phê phán chính đối với kinh tế học vi mô – đến độ phải tự hỏi là bộ môn này có ích gì chăng – không nhắm vào những giả thiết liên quan đến động cơ của các cá thể mà nhắm vào cách kinh tế học vi mô hình dung các quan hệ thị trường. Ta sẽ bắt đầu bằng mô hình mà kinh tế học vi mô tự hào nhất, mô hình cân bằng chung, rồi sẽ đề cập đến cấp độ khiêm tốn hơn của cân bằng bộ phận, được xem là “cụ thể” và “có tính ứng dụng”.[4]
Print Friendly and PDF

26.9.18

Phỏng vấn: Giảng dạy kinh tế học như thế nào?


PHỎNG VẤN: GIẢNG DẠY KINH TẾ HỌC NHƯ THẾ NÀO?
Sau khi cuộc khủng hoảng bắt đầu vào năm 2007-2008, nhiều hiệp hội sinh viên kinh tế đã ra đời ở một số nước để tố cáo một lý thuyết thống trị mang tính hình thức hóa quá cao, ít mở cửa cho sự đa nguyên về ý tưởng và các khoa học xã hội khác. Kể từ năm 2016, đã có một giáo trình đề xuất việc đổi mới công tác giảng dạy kinh tế học. Được sử dụng tại Đại học Sciences Po và Trường Kinh tế Toulouse, từ nay bản dịch tiếng Pháp giáo trình đã có mặt trên mạng và trong một cuốn sách có tên là L’économie [Kinh tế] (Eyrolles) sẽ được xuất bản vào tháng mười. Kế tiếp sẽ là một giáo trình nâng cao hơn và một phiên bản thích nghi với chương trình giảng dạy của các trường trung học. Liệu giáo trình đó có giải toả được những lo ngại của giới sinh viên hay không? Tranh luận.
Print Friendly and PDF

2.8.17

Kinh tế học trong quá trình chuyển đổi

KINH TẾ HỌC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, không thiếu những phê bình đối với kinh tế học truyền thống, với các mô hình cứng nhắc và các “tác nhân tiêu biểu” hư cấu, vốn đã thất bại hoàn toàn trong việc dự đoán sự sụp đổ. Nhưng các nhà phê bình thường bỏ qua sự trỗi dậy của các cách tiếp cận mới – một số cách tiếp cận đã có trước cuộc khủng hoảng – có thể xác đinh lại dòng chính của tư duy kinh tế.
Hình: Wladimir Bulgar/Getty Images
Diane Coyle thuộc Đại học Manchester đã tiến hành bình phẩm ba cuốn sách gần đây, đánh giá những gì đang thay đổi và chưa thay đổi trong tư duy và nghiên cứu kinh tế kể từ cuộc khủng hoảng năm 2008.
Print Friendly and PDF

11.1.17

Kinh tế học là một mớ bòng bong cần cải tổ



KINH TẾ HỌC LÀ MỘT MỚ BÒNG BONG CẦN CẢI TỔ
Sắp xếp các trường phái tư tưởng kinh tế rối mù
Cameron Murray
Trong bài viết trước (“Reforming Economics: The Challenge” – Thách thức của cải cách Kinh Tế Học), tôi đã khẳng định việc kết hợp các trường phái tư tưởng kinh tế rối mù vào một đề cương mang tính đa nguyên mạch lạc phải đối diện với thách thức về mặt xã hội lẫn kỹ thuật. Ở mức độ nào đó, hai thách thức này đi song đôi với nhau, vì việc giảng dạy bất cứ một chuyên ngành nào cũng chủ yếu phản ánh quan điểm xã hội của những người đang phụ trách chuyên ngành đó. Các quy ước xã hội được phản ánh trong giảng dạy, và việc giảng dạy củng cố thêm các quy ước xã hội đó.
Trong kinh tế học, và trong các chương trình đào tạo bậc đại học nơi mà đại đa số sinh viên được đào tạo từ A đến Z về kinh tế học, thực trạng trên được cụ thể hóa bằng sự thống trị nhất quán của phương pháp tiếp cận tân cổ điển – trường phái này khẳng định sự thống trị của mình trên các tạp chí và các hoạt động nghiên cứu thuộc dòng chính. Ngay cả trường phái kinh tế học hành vi và thực nghiệm vốn đã ra đời hàng thập kỷ nay vẫn không được nhắc đến trong các quyển sách giáo khoa kinh tế học trọng yếu, điều này cho thấy mối quan hệ căng thẳng giữa trường phái hành vi với dòng chính và trường phái hành vi vẫn đang bị cho ra rìa.
Print Friendly and PDF

21.11.16

Thách thức của việc cải cách Kinh tế học


THÁCH THỨC CỦA VIỆC CẢI CÁCH KINH TẾ HỌC

Cameron Murray
Không thể phóng đại thách thức của việc cải cách kinh tế học. Kinh tế học chính thống hiện đại vẫn còn giữ ưu thế trong những trường đại học của chúng ta và các chính phủ bất chấp chứng cứ áp đảo chống lại hầu hết những nguyên lý cốt lõi của nó, và bất chấp hàng thập kỷ với những cuộc cách mạng không thành công. Khái niệm về một trạng thái cân bằng tĩnh và phương pháp “tác nhân tiêu biểu” của phép gộp chỉ là hai ý kiến đã nhiều lần được chỉ ra là mâu thuẫn với chính logic nội tại của chúng; không phải bởi những người ngoài cuộc, mà bởi nhiều lãnh đạo của dòng chính thống. Nhưng họ vẫn tiếp tục thống trị khoa học này.
Vấn đề cốt lõi vẫn còn giữ nguyên.
Print Friendly and PDF

30.8.16

Thách thức của cải cách kinh tế học



Cải cách kinh tế học nhìn từ bên trong
THÁCH THỨC CỦA CẢI CÁCH KINH TẾ HỌC
Cameron Murray
Không thể cường điệu thách thức mà cải cách kinh tế học phải đối mặt. Kinh tế học hiện đại dòng chính vẫn chiếm ưu thế trong các trường đại học và các chính phủ của chúng ta mặc cho bằng chứng áp đảo chống lại hầu hết các nguyên tắc cốt lõi của nó, và mặc cho nhiều thập niên nỗ lực của các cuộc cách mạng. Khái niệm về trạng thái cân bằng tĩnh và ‘tác nhân tiêu biểu’ (‘representative agent’) của phương pháp tổng gộp chỉ là hai khái niệm mà đã nhiều lần cho thấy là không có sự nhất quán nội tại, không chỉ từ những người bên ngoài mà còn từ nhiều trong số những nhà lãnh đạo trong dòng chính. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục thống trị bộ môn [kinh tế học] này.
Điều cốt lõi vẫn không hề suy suyển.
Các khái niệm lỗi thời và không thích đáng về mặt kinh tế vẫn chiếm đầy các trang của những quyển giáo trình nhập môn. Từ đó, chúng được nhồi vào tâm trí của mỗi thế hệ sinh viên mới, đến lượt mình, họ tiếp tục chuyển giao các ý tưởng này cho thế hệ sinh viên tiếp theo, và toàn bộ xã hội rộng lớn hơn. Để biến đổi bộ môn [kinh tế học], điều cần thiết là phải phá vỡ những vòng phản hồi trong hệ thống này.
Print Friendly and PDF

13.7.16

Giảng viên kinh tế học của Đại học Glasgow dịch chuyển dàn đốm lửa



Giảng viên kinh tế học của Đại học Glasgow dịch chuyển dàn đốm lửa
Quyết định không cho giảng viên cao cấp giảng dạy các mô-đun cơ bản của họ càng làm tăng thêm mối quan ngại về công tác giảng dạy kinh tế học tại các trường đại học
Nguồn: Alamy
Một giảng viên kinh tế học có tài liệu giảng dạy được mô tả là "quá cấp tiến" đã bị cho ngưng dạy một mô-đun học phần cơ bản, dẫn đến những khẳng định về sự xói mòn ngày càng sâu trong tính đa nguyên của học phần kinh tế học.
Print Friendly and PDF

15.6.16

Vì một thời đại mới của kinh tế học



Vì một thời đại mới của kinh tế học

Antoine Reverchon
Hơn một trăm nhà kinh tế quốc tế, chủ yếu là anglo-saxon, tham gia hội thảo hằng năm lần thứ sáu của Institute for New Economic Thinking (INET) tại Paris. Bất bình đẳng, các cuộc khủng hoảng Hy lạp và Âu châu, chính sách khắc khổ và giảm phát, biến đổi khí hậu, vai trò của các ngân hàng trung ương, điều tiết tài chính, tái cơ cấu nợ công, cách tân: những chủ đề được đề cập ở cuộc hội thảo này, diễn ra cho đến ngày 11 tháng 4 năm 2015 tại trụ sở của OECD, đều có tính thời sự. Tên của hai vị khách mời, Thomas Piketty và Yanis Varoufakis được công chúng biết đến, nhưng đó không phải là trường hợp của những nhà sáng lập và lãnh đạo INET – ngoại trừ Joseph Stiglitz, giải Nobel kinh tế (2001). Thế mà tham vọng của họ là “đào tạo thế hệ sắp tới những nhà lãnh đạo kinh tế thế giới, sáng tạo một tư tưởng kinh tế mới, và khuyến khích giới kinh tế học đáp ứng những thách thức của thế kỉ XXI”.
Print Friendly and PDF

21.4.16

Những người kế thừa mới của Keynes



Những người kế thừa mới của Keynes

Anh Quốc dẫn đầu một nỗ lực toàn cầu để tư duy lại cách thức kinh tế học được giảng dạy
Với các nhà kinh tế, năm 2008 là một cơn ác mộng. Những người giảng dạy và nghiên cứu môn khoa học bị Thomas Carlyle, một cây bút chiến ở thế kỷ 19, chế nhạo như “khoa học buồn thảm”, không chỉ thất bại trong việc phát hiện ra vực thẳm, mà nhiều người còn dự báo chính điều ngược lại – một sự ổn định thanh bình mà họ gọi là “sự điều độ lớn” (“great moderation”). Trong khi nền kinh tế toàn cầu đang phục hồi từ từ, môn học này vẫn ở trong tình trạng thay đổi liên tục, với các sinh viên háo hức tìm hiểu những điều sai trái gì đã xảy ra, nhưng bị vỡ mộng bởi những gì họ được dạy. Vài dự án táo bạo mới để chỉnh sửa kinh tế học nhằm thay đổi điều này.
Print Friendly and PDF

3.4.16

Cuộc đại suy thoái năm 2008 và công cuộc cải cách kinh tế học

CUỘC ĐẠI SUY THOÁI NĂM 2008 VÀ CÔNG CUỘC CẢI CÁCH KINH TẾ HỌC

Geoffrey M. Hodgson
Cuộc suy thoái kinh tế năm 2008 đã dẫn tới những thay đổi đáng kể trong quan điểm của các nhà lãnh đạo trên thế giới. Liệu cuộc khủng hoảng này có tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải cách và đem lại sức sống mới cho kinh tế học - từ một ngành được thống trị bởi các kĩ thuật toán học sang một ngành quan tâm nhiều hơn đến việc hiểu được các thể chế và các chủ thể trong thế giới thực? Và tại sao những cảnh báo về sự sụp đổ tài chính đã không được chú ý? Những khiếm khuyết gần đây một phần liên quan đến chiến thắng toàn cầu của tư tưởng chủ nghĩa cá nhân thị trường (market individualist ideology) và một phần do việc phóng đại vai trò của việc mô hình hóa và lượng hóa. Những thất bại này của kinh tế học một phần mang tính đặc thù của ngành, một phần là kết quả của những tác động rộng hơn của thể chế và văn hóa.
Print Friendly and PDF

1.4.16

Sự vô dụng đáng tiếc của phần lớn các công trình “mũi nhọn” hiện nay trong kinh tế học tiền tệ hàn lâm



Willem Buiter (1949-)

Sự vô dụng đáng tiếc của phần lớn các công trình “mũi nhọn” hiện nay trong kinh tế học tiền tệ hàn lâm

Willem Buiter
Ủy Ban Chính Sách Tiền Tệ của Ngân Hàng Trung Ương Anh, nơi tôi được vinh dự làm thành viên “sáng lập” không thuộc định chế này trong suốt những năm 1997-2000, là nơi hội tụ hùng hậu của các kinh tế gia hàn lâm và các kinh tế gia chuyên nghiệp có nền tảng kiến thức và quá trình đạo tạo về mặt kỹ thuật rất đáng gờm, như một thông lệ được lưu truyền của Ủy Ban này về các thành viên bên ngoài và các thành viên điều hành định chế này. Điều này hóa ra là một bất lợi nghiêm trọng khi ngân hàng trung ương đã phải sang số và chuyển hướng từ một ngân hàng trung ương theo đuổi mục tiêu lạm phát trong các điều kiện về các thị trường tài chính có trật tự sang một ngân hàng trung ương theo đuổi mục tiêu ổn định tài chính trong các điều kiện về tính thiếu thanh khoản thị trường và tính thiếu thanh khoản vốn đang lan rộng. Trong thực tế, chương trình đào tạo điển hình về kinh tế học vĩ mô và kinh tế học tiền tệ bậc đại học được giảng dạy tại các trường đại học Bắc Mỹ trong suốt khoảng 30 năm qua, có thể bị tụt hậu hàng thập kỷ xét trên phương diện nghiên cứu hành vi kinh tế tổng thể và tìm hiểu các chính sách kinh tế liên quan. Việc này đã làm hao tổn thời gian và nguồn lực của cá nhân và của xã hội.
Print Friendly and PDF

1.3.16

Lý thuyết tổng quát của Keynes tròn 80 tuổi



Lý thuyết tổng quát của Keynes tròn 80 tuổi

Robert Skidelsky
LONDON - Năm 1935, John Maynard Keynes đã viết cho George Bernard Shaw: "Tôi tự tin đang viết một cuốn sách về lý thuyết kinh tế sẽ cách mạng hóa phần lớn – tôi không cho rằng ngay tức thì nhưng trong vòng mười năm nữa – cách thức mà thế giới suy nghĩ về những vấn đề kinh tế". Và, quả thật, tác phẩm vĩ đại (magnum opus) của Keynes, The General Theory of Employment, Interest and Money (Lý thuyết tổng quát về việc làm, tiền lãi và tiền tệ), xuất bản vào tháng Hai năm 1936, đã làm thay đổi kinh tế học và việc hoạch định các chính sách kinh tế. Tám mươi năm sau, liệu lý thuyết của Keynes có còn đứng vững không?
Print Friendly and PDF

28.12.15

15 lời nguyền của thị trường tự do phi điều tiết



 15 lời nguyền của thị trường tự do phi điều tiết

Vì sao các sinh viên tương lai nên bỏ lớp kinh tế học cơ bản (econ 101) 
Các thị trường không vận hành theo cách mà sách giáo khoa kinh tế học rao giảng. Trong khi tôi đặt niềm tin vào sức mạnh thị trường trong việc bồi đắp phẩm chất xã hội, thì thị trường vẫn có nhiều hạn chế thuộc về bản chất mà bất cứ phương pháp tiếp cận khoa học đáng tin cậy nào cũng phải công nhận để có thể hoạch định được các chính sách công hiệu quả. Dưới đây là danh sách 15 lời nguyền – vâng, tôi gọi chúng là lời nguyền – mà thị trường phải hóa giải để có thể vận hành tương thích với các nguyên lý trong sách giáo khoa.
Print Friendly and PDF

15.11.15

15.11.2014 - 15.11.2015


PTKT: Ngày này năm rồi, PTKT lần đầu tiên đến với bạn. Qua 365 ngày, chúng tôi dần dần lát những viên gạch của một kho tư liệu trực tuyến về kinh tế học mà danh sách cập nhật 226 bài có thể tham khảo đây. Tri ân sự quan tâm của bạn đọc, PTKT ra tuyển tập đầu tiên các bài dịch với chủ để Học và dạy “khoa học buồn thảm” thời hậu khủng hoảng và vui mừng giới thiệu trước nội dung tuyển tập này.

Lời giới thiệu tuyển tập

Một năm trước đây, “trang Phân tích kinh tế ra đời với mong muốn chia sẻ và trao đổi, trong tinh thần tự do học thuật, những thông tin cần thiết giúp người dạy cùng người học ưa thích kinh tế tự đào tạo, cập nhật, củng cố, hệ thống hóa và bổ sung kiến thức để tự tin hội nhập thế giới”.
Với nhịp độ xuất bản một bài mỗi hai ngày, chúng tôi dần hình thành một kho tư liệu mở, chủ yếu là những bản dịch về những chủ đề: Dạy và học kinh tế học thời hậu khủng hoảng, Lịch sử, triết học và xã hội học về các khoa học, Khoa học luận và phương pháp luận kinh tế, Thống kê kinh tế, Kinh tế học và các khoa học khác, v.v..
Để đánh dấu 12 tháng ra mắt, Phân tích kinh tế tập hợp trong tuyển tập Học và dạy “khoa học buồn thảm” thời hậu khủng hoảng này 14 bài phản ánh những chuyển động đang diễn ra trong ngành.
Print Friendly and PDF

8.9.15

Đưa kinh tế học trở lại đời sống học thuật tự do



Hugh Goodacre

Đưa kinh tế học trở lại đời sống học thuật tự do

Thưa ngài, sự hấp hối của thuyết chính thống hiện như là một cái vòng kim cô xiết các phân khoa kinh tế học ở đại học, theo bình luận của Wolfgang Münchau, sẽ không tránh khỏi đối mặt với một thách thức, và điều này "sẽ đến từ bên ngoài môn học và sẽ rất tàn bạo" ("Macroeconomists need new tools to challenge consensus - Các nhà kinh tế vĩ mô cần những công cụ mới để thách thức sự đồng thuận", ngày 13 tháng 4). Bản thân thuyết chính thống đã tự chuốc lấy viển cảnh ảm đạm này thông qua sự tàn bạo trong việc đã thanh lọc những phân khoa trên của bất kỳ trường phái tư tưởng nào khác nó.
Thật vậy, trong phiên bản cực đoan của nó, thuyết chính thống đơn giản cho rằng "không có trường phái tư tưởng trong kinh tế học", một sự khẳng định toàn trị đúng tất trong hầu hết các phân khoa kinh tế học ngày nay, thanh lọc không thương xót các đối chọn khác. Kết quả là, nhiều cách tiếp cận khác nhau các vấn đề kinh tế của Adam Smith, Bentham, Ricardo, Marshall, Keynes, Friedman và v.v. tất cả đều bị loại ra ngoài lề của "lịch sử tư tưởng kinh tế".
Print Friendly and PDF

Một số hồi đáp về đề thi môn kinh tế học năm 1953 của trường Harvard



Dani Rodrik (1957-)

Một số hồi đáp về đề thi môn kinh tế học năm 1953 của trường Harvard

Cho đến nay, đây là bài đã đăng được đọc nhiều nhất trên blog Mostly Economics. Tổng lượt vào blog trong một tháng (hoặc nhiều hơn) đã được thực hiện trong vòng một ngày. Rõ ràng là người ta có đôi chút cảm nhận được việc giảng dạy kinh tế học thay đổi như thế nào trong nhiều năm qua. Trên trang Twitter, có những lời bình luận đại loại kiểu liệu sinh viên có trả lời được bất cứ câu hỏi nào trong số đó hay không, làm thế nào mà kinh tế học đã không đề cập đến những vấn đề trọng yếu và vân vân.
Giáo sư Holt đã viết về nhiều câu hỏi đặt ra cho ông có liên quan đến đề thi:
Tôi đã nhận được một số thư điện tử cá nhân về đề thi kinh tế học của trường Harvard vào ngày 29/4/1953, mà tôi đã gửi ra vào tuần rồi. Đa số mọi người thắc mắc có phải đề thi đó là dành cho trình độ đại học hay không. Đây là bài thi viết tổng quát dành cho sinh viên chưa tốt nghiệp đại học. Bài thi có thời lượng là ba giờ, được chia ra làm hai phần. Tùy theo sự lựa chọn của giám khảo, bài thi có thể được thực hiện ở dạng vấn đáp, “nếu người ta nghi ngờ về điểm số của sinh viên.”
Print Friendly and PDF

17.8.15

Tại sao kinh tế học cần đến lịch sử kinh tế



Tại sao kinh tế học cần đến lịch sử kinh tế

Cái đẹp của internet là cho phép bạn thỉnh thoảng lướt qua các bài viết như bài viết này mà bạn có thể bỏ lỡ (H/T Greg Mankiw). Như các bạn mong đợi, tôi đồng ý với Temin rằng lịch sử kinh tế đóng một vai trò cơ bản trong giáo dục kinh tế, và MIT là một ví dụ điển hình. Để lặp lại một điểm mà tôi đã viết trước đây trên blog, nhiều siêu sao từng tốt nghiệp từ trường này có một sự nhạy cảm lịch sử đã làm cho họ trở thành những nhà kinh tế giỏi hơn. Obstfeld và Rogoff nổi tiếng với công trình đột phá của họ về kinh tế học vĩ mô mở, nhưng cả hai đều đã viết nhiều cuốn sách quan trọng về lịch sử kinh tế (Obstfeld cùng với Taylor, và Rogoff cùng với Reinhart), và tôi không nghĩ đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng phong cách của Obstfeld-Rogoff trong kinh tế học vĩ mô mở có xu hướng dựa nhiều hơn vào thế giới thực so với một số tương đương trong kinh tế học đóng. Paul Krugman thường xuyên cho thấy một sự quan tâm và kiến ​​thức về lịch sử, mà ông ứng dụng một cách hiệu quả; thậm chí đừng để tôi bắt đầu nói về Ron Findlay, v.v.
Print Friendly and PDF

13.8.15

Kinh tế học được dùng vào việc gì?


Alan Kirman (1939-)

Kinh tế học được dùng vào việc gì?

Cuộc khủng hoảng kinh tế đã đưa những bất cập của kinh tế học vĩ mô thành một sự kiện khắc nghiệt. Chuyên mục này cho rằng quan niệm hẹp về kinh tế học vĩ mô như là một hệ thống cân bằng là có vấn đề. Các nhà kinh tế nên từ bỏ các lý thuyết cố hữu và hiểu kinh tế học vĩ mô như là một môn học tự tổ chức. Tôi đề xuất một số gợi ý chi tiết về những ý tưởng thay thế, phản ánh tốt hơn bằng chứng thực nghiệm, để các nhà kinh tế có thể giảng dạy cho sinh viên sau này.
Câu hỏi đơn giản được nêu lên trong một hội thảo gần đây do Diane Coyle tổ chức tại Ngân hàng [trung ương -ND] Anh là công tác giảng dạy kinh tế học đã - hoặc nên - được sửa đổi đến mức nào dưới ánh sáng của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay? Câu trả lời đơn giản là ngành kinh tế học không chắc sẽ thay đổi. Tại sao các nhà kinh tế sẵn sàng từ bỏ phần lớn vốn con người của họ, khó khăn lắm mới tồn tại được trong hơn hai thế kỷ qua? Đối với các nhà kinh tế học vĩ mô nói riêng, họ được gợi ý rằng việc điều chỉnh các mô hình hiện hữu phải xem xét đến những “ma sát” hoặc “sự không hoàn hảo” là đủ để giải thích sự diễn tiến hiện tại của nền kinh tế thế giới. Ý tưởng là một khi sinh viên hiểu được những vấn đề cơ bản, thì có thể giới thiệu cho họ các điều chỉnh trên.
Print Friendly and PDF