Hiển thị các bài đăng có nhãn Những nhân vật lớn trong tư tưởng kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những nhân vật lớn trong tư tưởng kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

20.9.24

Chủ nghĩa toàn cầu của kinh tế học quốc gia: Friedrich List trong một sự phản chiếu của Nhật Bản

CHỦ NGHĨA TOÀN CẦU CỦA KINH TẾ HỌC QUỐC GIA: FRIEDRICH LIST TRONG MỘT SỰ PHẢN CHIẾU CỦA NHẬT BẢN

Mark Metzler

Friedrich List (1789-1846)

Hơn 23 năm trôi qua kể từ lần đầu tiên tôi có những nghi ngờ về sự thật của lý thuyết kinh tế chính trị thịnh hành … Tôi đã nhận thức được rằng lý thuyết này chỉ thấy tất cả nhân loại, hoặc các cá nhân đơn lẻ, chứ không thấy những quốc gia … Nói tóm lại, tôi đã tình cờ tìm ra sự phân biệt giữa nền kinh tế chính trị toàn cầu và nền kinh tế chính trị. – Trích Friedrich List, Lời nói đầu của cuốn Hệ thống Kinh tế Chính trị Quốc gia |The National System of Political Economy|, xuất bản năm 1841.

Từ 300 hay 350 năm trước, chủ nghĩa trọng kim loại quý hiếm |bullionism| là kỹ thuật kinh tế tiên tiến nhất của thời đại lúc bấy giờ, [và] việc sở hữu một khối lượng khổng lồ vàng và bạc là nguồn gốc sự giàu có và sức mạnh của quốc gia [fukoku kyōhei] … Sau đó khoảng 150 năm trước nhà kinh tế học vĩ đại Adam Smith (1723-1790) xuất hiện, người đã tuyên bố rằng sự giàu có quốc gia quan trọng hơn vàng và bạc, [giải thích] rằng vàng và bạc mà Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thu được từ Mexico và Nam Mỹ đã được chuyển hết sang Anh và những nước khác để chi trả cho các sản phẩm … Rồi chỉ 50 năm sau đó đã xuất hiện một nhà kinh tế học người mà phải được gọi là Adam Smith của nước Đức, Friedrich List (1789-1846). Ông đã tuyên bố rằng hơn cả sự giàu có quốc gia, một sức mạnh sản xuất |productive power| của con người mới là cốt yếu … Nhưng tôi không nghĩ những quan điểm của hai nhà kinh tế học vĩ đại này, List và Smith, nhất thiết phải mâu thuẫn nhau: List đã bổ sung những điểm còn thiếu ở Smith. Một người đã khẳng định học thuyết về mậu dịch tự do còn một người [đã khẳng định] học thuyết về chủ nghĩa bảo hộ, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng đây chỉ là một vấn đề mỗi người đang khẳng định lý thuyết phù hợp nhất với những hoàn cảnh quốc gia trái ngược nhau của Anh và Đức vào thời đại của họ. – Takahashi Korekiyo [高橋 是清 – (1854-1936)] nhận xét vào năm 1925, ngay sau sự rút lui của ông khỏi vai trò Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp đầu tiên của Nhật Bản.[1]

Takahashi Korekiyo (1854-1936)

Sứ mệnh chính trị của Friedrich List (1789–1846) là xây dựng một nền kinh tế quốc gia độc lập, công nghiệp hóa ở Đức, và ông được xem là một trong những người kiến tạo nên sự thống nhất kinh tế của Đức. Sứ mệnh trí tuệ của ông là tạo ra một sự thay thế, “hệ thống quốc gia” để ngăn chặn kinh tế học “chính trị toàn cầu” theo chủ nghĩa phổ quát của trường phái Smithian. Takahashi Korekiyo (1854–1936) là một chính khách hơn là một nhà lý luận, và nổi tiếng nhất với việc dẫn dắt Nhật Bản sớm phục hồi từ cuộc Đại Suy thoái sau năm 1932. Sứ mệnh của Takahashi cũng tương tự như vậy là xây dựng một nền kinh tế quốc gia độc lập, công nghiệp hóa, và ông là người định khung |framer| chính cho cái mà sau này được gọi là “mô hình” phát triển “của Nhật Bản”. Mặc dù đã 6 năm ở Mỹ và có quốc tịch Hoa Kỳ, nhưng cho đến gần đây hầu như List vẫn bị lãng quên trong thế giới nói tiếng Anh. Takahashi, người cũng đã học tiếng Anh ở Mỹ, vẫn chưa được biết đến rộng rãi bên ngoài quê hương ông. Nhưng người ta có thể dùng hai người theo chủ nghĩa dân tộc kinh tế này để đưa ra một mô tả có tính “rời khỏi-trung tâm” của quá trình toàn cầu hóa kinh tế hiện đại vốn làm đảo ngược các định nghĩa hiện đang chiếm ưu thế về chuẩn mực phổ quát và chủ nghĩa biệt lệ có tính cục bộ |local exceptionalism|.

Print Friendly and PDF

31.7.24

Thế giới vận hành như thế nào

THẾ GIỚI VẬN HÀNH NHƯ THẾ NÀO

Nhiều người Mỹ cứ đinh ninh trong suy nghĩ rằng các quy tắc của Adam Smith về tự do giao thương là những quy tắc chính đáng duy nhất. Nhưng các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất hiện nay đang sử dụng một bộ quy tắc rất khác. Một khi chúng ta từng biết họ — biết họ quá rõ nên chúng ta mới chơi cùng họ và giành thắng lợi. Giờ đây, chúng ta dường như đã lãng quên.

JAMES FALLOWS

SỐ PHÁT HÀNH THÁNG 12 NĂM 1993

TRONG một chuyến đi vào mùa xuân năm 1992 tới Đại học Hitotsubashi ở Nhật, vốn nổi tiếng với các khoa kinh tế học và kinh doanh, tôi gặp may mắn tới không ngờ. Như một vài đại học khác của người Nhật, đại học Hitotsubashi gần như khiến tôi nao lòng vì nét dễ thương của nó. Con đường từ sân ga tới học khu chính của trường rợp bóng hoa anh đào, dưới chân tôi xao xuyến những cánh hoa trắng muốt nho nhỏ vương vãi trên mặt đất. Các bạn sinh viên lướt trên chiếc xe đạp, trông như thể họ đang tận hưởng một khoảnh khắc không còn chút căng thẳng nào trong cuộc sống của họ nữa.

Họ có thể là như thế. Trong các cuộc khảo sát, phần lớn sinh viên cho rằng họ “chẳng bao giờ” hoặc “hầu như không” học trong suốt thời đại học. Họ đã học đủ ở trường trung học.

Tôi đã đi tới đại học Hitotsubashi để thực hiện cuộc phỏng vấn với một vị giáo sư đang gây nhiều sóng gió. Kể từ khi Thế Chiến II kết thúc, các nhà ngoại giao và những nhà doanh nghiệp người Nhật đã hành xử như thể nền kinh tế của người Mỹ cần phải là mô hình dành cho sự tăng trưởng công nghiệp của riêng Nhật Bản. Các ngành công nghiệp Nhật Bản không chỉ phải nên cố gắng đuổi kịp vị trí dẫn đầu về công nghệ và sản xuất của nước Mỹ mà quốc gia này còn phải tiến hóa theo một tiêu chuẩn trưởng thành về kinh tế do Hoa Kỳ đặt ra. Trường hợp nền kinh tế Nhật Bản khác với mô hình của người Mỹ — ví dụ, trong các liên minh chặt chẽ giữa các tập đoàn mà luật chống độc quyền của Hoa Kỳ sẽ ngăn cấm — sự khác biệt nên được xem là tạm thời, cho tới khi Nhật Bản đuổi kịp.

Print Friendly and PDF

27.8.21

Paul M. Sweezy, một người mác-xít trên đất Mỹ

PAUL M. SWEEZY, MỘT NGƯỜI MÁC-XÍT TRÊN ĐẤT MỸ

Gilles Dostaler

Paul Sweezy (1910-2004)

Là nhà lý thuyết nổi tiếng của kinh tế học mác-xít, nhưng phi chính thống, Paul Sweezy phân tích chủ nghĩa tư bản độc quyền và đưa ra một diễn giải mới về giá trị và giá cả.

Paul Sweezy tin rằng tác phẩm của Marx là một đóng góp không thể thiếu cho sự hiểu biết về các nền kinh tế tư bản.

Là người xã hội chủ nghĩa và mác-xít, Paul Sweezy, trong những năm 1940 và 1950, là một nhân vật hiếm trong số các nhà kinh tế học Mỹ. Tuy nhiên, cuốn Theory of Capitalist Development (Lý thuyết phát triển tư bản chủ nghĩa), xuất bản năm 1942 và được dịch ra nhiều thứ tiếng, đã làm cho ông trở thành một trong những nhà lý thuyết nổi tiếng nhất thế giới về kinh tế học mác-xít. Người thầy và bạn của ông, Joseph Schumpeter, cho rằng cuốn sách trên đến nay là dẫn nhập hay nhất vào lý thuyết của Karl Marx. Sweezy, trong một thời gian ngắn, là người có niềm tin vào chủ nghĩa tự do và học thuyết tân cổ điển vào buổi đầu khởi nghiệp. Thậm chí ông còn thực hiện một chuyến đi đến Trường London School of Economics để làm việc cùng với Friedrich Hayek. Chính trong thời gian ấy mà niềm tin của ông bị chao đảo và ông quyết định tập trung vào việc làm cho người ta biết đến chủ nghĩa Mác tại Hoa Kỳ và làm cho nó được tôn trọng trong giới hàn lâm.

Print Friendly and PDF

26.8.19

Condorcet Marie

Nicolas de Condorcet (1743-1794)

Condorcet Marie-Jean-Antoine-Nocola Caritat (marquis de), 1743-1794

Tư tưởng lịch sử
Xuất thân từ một gia đình quý tộc nhỏ vùng Picardie, Condorcet theo học với các linh mục dòng Tên ở Reims, rồi ở trường Navarre và ở Paris. Năm 1769, ông tham gia Viện hàn lâm khoa học Paris và kết bạn với d’Alembert, Diderot, Voltaire, Helvétius, Condillac. Ông cộng tác vào Supplément của Grande Encyclopedie (phụ lục của bộ Đại từ điển bách khoa). Năm 1774, dưới thời bộ trưởng Turgot là bạn ông, ông trở thành thanh tra tiền tệ và mối quan tâm của ông đến các vấn đề kinh tế sẽ không bao giờ suy giảm. Năm 1782, ông gia nhập Viện hàn lâm Pháp. Tuyên bố công khai những tư tưởng cộng hoà, ông được bầu vào Quốc hội lập pháp năm 1791 và được bổ nhiệm vào Uỷ ban giáo dục và viết năm báo cáo cho Uỷ ban, rồi sau đó tiếp tục được bầu vào Hội nghị quốc ước (Convention). Bị phái Montagne nghi ngờ và lên án là có cảm tình với phái Gironde, ông phải bỏ chạy. Ông bị kết án tử hình ngày 2 tháng 10 năm 1793, lẫn trốn trong vùng Paris rồi bị bắt do bị tố cáo. Ông mất trong tù Bourg-la-Reine vào tháng ba năm 1794, trong những điều kiện chưa được làm rõ. Trước khi chết ông đã hoàn tất tác phẩm chính của mình là Esquisse d’un tableau historique des progrès de l’esprit humain (Phác thảo bức tranh lịch sử những tiến bộ của trí tuệ con người) ([1795] 1988).
Print Friendly and PDF

2.11.18

Edmond Malinvaud, giải thích và giải quyết vấn đề thất nghiệp


EDMOND MALINVAUD, GIẢI THÍCH VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
Gilles Dostaler
Là nhà kinh tế toán học, người tạo cảm hứng cho trường phái mất cân bằng, Edmond Malinvaud kết hợp kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô, đặc biệt trong phân tích của ông về tình trạng thất nghiệp.
Đối với Edmond Malinvaud, nghiên cứu thực nghiệm cũng quan trọng như nghiên cứu lý thuyết.
Edmond Malinvaud thuộc thành phần một danh sách dài những lí thuyết gia người Pháp về kinh tế học, từng trước tiên học ngành kỹ sư. Ông được đào tạo vững chắc về toán học trước khi chuyển sang kinh tế học. Chính những vấn đề xã hội đã dẫn ông đến với bộ môn này. Ông nhớ lại, trong một văn bản có tính tự truyện, rằng bố ông đã có những ý tưởng xã hội chủ nghĩa và ông bị ấn tượng, từ thời còn trẻ, bởi sự đình trệ mà cuộc khủng hoảng năm 1930 đã nhấn chìm các ngành nghề đồ sứ và nghề đóng giày của Limoges, thành phố quê hương của ông. Tuy là nhà kinh tế toán học, ông cho rằng kinh tế học không được coi thường các vấn đề xã hội và chính trị, nếu không thì chính ta tự làm khó mình để hiểu được sự kết hợp phức tạp của các nhân tố tác động đến sự tăng trưởng và các cấu trúc của xã hội.
Là nhà nghiên cứu đồng thời vừa giảng dạy, là tác giả của rất nhiều bài viết, Malinvaud đã lần lượt cống hiến một phần quan trọng sự nghiệp của ông cho các nhiệm vụ quản lý công như là nhà thống kê, cố vấn kinh tế, điều hành nhiều định chế. Ông luôn tin vào tầm quan trọng của nghiên cứu thực nghiệm, quan sát, cũng như tầm quan trọng của nghiên cứu lý thuyết trên cơ sở của sự khái niệm hóa, mô hình hóa và tính chặt chẽ. Kinh tế học đối với ông là một khoa học, chắc chắn ít chính xác và hoàn thiện bằng các khoa học tự nhiên, nhưng có khả năng giúp cải thiện số phận của nhân loại. Tuy cảnh giác với các nhãn hiệu, ông vẫn tự cho mình gần với học thuyết Keynes hơn là gần với những người tin vào sự cân bằng liên tục và tức thì của thị trường. Ông cho rằng tính duy lý của các tác nhân kinh tế bị hạn chế lớn hơn nhiều so với những người tin vào dòng tư tưởng nói trên.
Print Friendly and PDF

1.10.17

Cournot Antoine Augustin, 1801-1877


Antoine-Augustin Cournot (1801-1877)

COURNOT ANTOINE AUGUSTIN, 1801-1877

Ông mong muốn trở thành triết gia, người ta tưởng rằng ông là nhà toán học lớn, nhưng ông đã để lại ảnh hưởng sâu sắc trong kinh tế học. Sinh tại Gray năm 1801, là sinh viên trong ngôi trường Đại học sư phạm (phố Ulm – ND) bị xáo động bởi những tư tưởng tự do, tác giả của một luận án về vật lí được chú ý. Cournot quan tâm sát đến lí thuyết xác suất vừa mới ra đời, khơi dậy ở Poisson, người đã giúp ông được bổ nhiệm làm giáo sư ở Lyon, hi vọng có được một môn đồ. Sự ngẫu nhiên của một bản dịch khiến ông suy nghĩ đến “lao động của máy móc” và, bằng suy luận tương tự, đến năng suất của lao động con người, một điều kéo ông đến gần với rất nhiều bạn đồng môn vốn thường dễ dàng tự xem mình như những kĩ sư về cái xã hội.
Vả lại tác phẩm Recherches sur les principes mathématiques de la théorie des richesses của ông mở đầu bằng cách quy chiếu rõ ràng về cách nhìn cải cách này. Khai mở việc sử dụng chặt chẽ toán học trong kinh tế học, tác phẩm đánh dấu một cuộc cách mạng trong bộ môn này. Cournot phát triển một lí thuyết giá cả tuỳ theo các cấu trúc thị trường, mà ông xác lập một phân loại. Các kết quả thu được tiếp tục được giảng dạy trong kinh tế học vi mô. Các “đường phản ứng” nổi tiếng của ông, mô tả hành vi của hai người cạnh tranh, sẽ giữ một vai trò có tính quyết định trong lí thuyết trò chơi ... một thế kỉ sau.
Print Friendly and PDF

25.9.17

Richard Cantillon, nhà lý thuyết tiền tệ hàng đầu của thế kỷ XVII


RICHARD CANTILLON, NHÀ LÝ THUYẾT TIỀN TỆ HÀNG ĐẦU CỦA THẾ KỶ XVII
Gilles Dostaler

Là người theo chủ nghĩa thế giới, nhà ngân hàng và nhà đầu cơ, Richard Cantillon tự vấn về sự khác biệt giữa giá trị sản phẩm và giá cả của chúng. Phân tích tiền tệ của ông đã làm cho ông trở thành một nhà tư tưởng hàng đầu trong thời đại ông.
Minh họa về cuộc khủng hoảng tài chính năm 1720 tại Paris. Richard Cantillon đã tiên đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán gây ra bởi John Law.
Kinh tế học cũng có những đứa con bị nguyền rủa. Rosa Luxemburg bị ám sát, Friedrich List thì tự tử. Ban đầu người ta tin rằng những ngọn nến còn cháy dỡ đã thiêu rụi căn nhà ở London của nhà tài chính giàu có người Pháp gốc Ireland Richard Cantillon, cho tới khi phát hiện cơ thể ông bị đâm. Các gia nhân bị nghi ngụy trang một vụ giết người dã man bằng một vụ hỏa hoạn, nhưng cuối cùng được tha bổng. Josef Denier, người đầu bếp của Cantillon suốt mười một năm nay, đã bị sa thải một tuần trước khi xảy ra vụ giết người. Ông thận trọng đi lưu vong ở Hà Lan. Người ta không biết chính xác tuổi của Cantillon vào thời điểm diễn ra các sự kiện đáng buồn nói trên. Tuổi của ông dao động từ 37 đến 54 tuổi.
Print Friendly and PDF

10.5.17

William J. Baumol, một nhà kinh tế học không chạy theo thời thượng

William Baumol (1922-2017)

WILLIAM J. BAUMOL, MỘT NHÀ KINH TẾ HỌC KHÔNG CHẠY THEO THỜI THƯỢNG

Gilles Dostaler
Nhà kinh tế học người Mỹ William Jack Baumol đã qua đời vào ngày 04 tháng 5 năm 2017, hưởng thọ 95 tuổi. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã đầu tư vào nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Những suy ngẫm của ông về năng suất và lý thuyết thị trường tranh chấp là những đóng góp chính. Năm 2008, Gilles Dostaler, nhà sử học về tư tưởng kinh tế và cộng tác viên của trang Alternatives Economiques, đã viết một bài về William Jack Baumol trong loạt bài của ông về những nhân vật vĩ đại trong tư tưởng kinh tế, mà chúng tôi xin đăng lại dưới đây.
Jack William Baumol là một trong những nhà kinh tế có nhiều bài viết nhất thuộc thế hệ của ông. Ông là tác giả của khoảng 500 bài báo khoa học và 35 cuốn sách, sách là phương thức truyền bá ý tưởng, trong kinh tế học, ngày càng ít được áp dụng. Các đóng góp của ông thuộc nhiều lĩnh vực đa dạng nhất: kinh tế học phúc lợi, kinh tế học tiền tệ, động thái và tăng trưởng, kinh tế học công nghiệp, kinh tế học môi trường, chính sách kinh tế, kinh tế học đô thị, kinh tế học nghệ thuật, lịch sử tư tưởng kinh tế. Ông đã xuất bản một hợp tuyển các bài viết kinh điển về kinh tế toán học, kể từ thế kỷ 18.
Print Friendly and PDF

23.10.16

Maurice Allais, người báo trước không được thừa nhận và nhà kinh tế học tự do phi chính thống

Maurice Allais (1911-2010)

Maurice Allais, người báo trước không được thừa nhận và nhà kinh tế học tự do phi chính thống

Là nhà kinh tế học và vật lý học, Maurice Allais, được gán nhãn là người hoạt động vì một toàn cầu hóa khác, bảo thủ, tự do hay can thiệp. Tuy nhiên, gọi ông là nhà kinh tế học tự do phi chính thống là thích hợp nhất.
Maurice Allais được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1988.
Tư tưởng kinh tế trong những năm 1930 và 1940 được đánh dấu bởi ba biến đổi lớn. Tất nhiên là phải kể đến cuộc cách mạng keynesian, mà Keynes không phải là tác giả duy nhất. Niềm tin vào sự điều tiết tự động của các thị trường, đảm bảo toàn dụng lao động nếu không có trở ngại nào cản trở sự điều tiết này, biến mất dần và Nhà nước phúc lợi và chủ nghĩa can thiệp được thiết lập. Cuộc cách mạng thứ hai, một phần về mặt phương pháp luận được dẫn dắt, trong số nhiều nhà kinh tế học khác, bởi John Hicks (Value and Capital – Giá trị và tư bản, 1939) và Paul Samuelson (Foundations of Economic Analysis – Các nền tảng của phân tích kinh tế, 1947). Các tác giả trên hình thức hóa sự điều tiết tự động của các thị trường mà Keynes đã đặt lại vấn đề trong khi vẫn sử dụng lại một số ý tưởng của ông ấy. Chính vì vậy mà tổng hợp tân cổ điển ra đời, thống trị tư tưởng kinh tế trong suốt ba mươi năm đầu của thời kỳ hậu chiến. Cuộc cách mạng thứ ba, kinh tế học, trong đó ngôn ngữ Pháp đã chiếm được một vị trí quan trọng, trở thành một khoa học chủ yếu của người Anglo-Saxon và người Hoa Kỳ.
Print Friendly and PDF

10.9.16

Don Patinkin, người hoà giải kinh tế tiền tệ và kinh tế thực tế


Don Patinkin (1922-1995)

DON PATINKIN, NGƯỜI HOÀ GIẢI KINH TẾ TIỀN TỆ VÀ KINH TẾ THỰC TẾ

Gilles Dostaler
Là một nhà lý thuyết tỉ mỉ và là một nhà sử học về tư tưởng kinh tế, Don Patinkin là một trong những kiến ​​trúc sư của tổng hợp tân cổ điển. Ông đã tìm cách xây dựng những nền tảng kinh tế học vi mô chặt chẽ cho kinh tế học vĩ mô của Keynes, bằng cách tích hợp lý thuyết tiền tệ và lý thuyết thực tế.
Don Patinkin cho rằng ông đã hòa giải, về mặt lý thuyết, các quan điểm của Keynes và các luận điểm cổ điển, nhưng hố sâu chính trị giữa hai tầm nhìn vẫn luôn xa cách đáng kể.
Sự nghiệp của Don Patinkin minh họa sự khó khăn trong việc phân loại những nhà tư tưởng có ảnh hưởng trong một ngách được xác định ranh giới rõ ràng. Trong kinh tế học, cũng như trong các lãnh vực kiến ​​thức khác, Patinkin được coi là một trong những kiến ​​trúc sư chính, cùng với John Hicks và Paul Samuelson, của tổng hợp tân cổ điển, một sự hỗn hợp giữa kinh tế học vi mô của Walras và kinh tế học vĩ mô của Keynes đã được “tiệt trùng”. Tuy nhiên ông vẫn bác bỏ một số ý tưởng chính của trào lưu tư tưởng nói trên, chẳng hạn như ý tưởng cho rằng tình trạng thất nghiệp không tự nguyện là do tính cứng nhắc trong chiều giảm của lương.
Print Friendly and PDF

8.8.16

Gerard Debreu hay kinh tế học giống như toán học ứng dụng



Gérard Debreu (1921-2004)

Gerard Debreu hay kinh tế học giống như toán học ứng dụng

Gilles Dostaler
Là kiến trúc sư của thuyết chính thống tân cổ điển mới, Gerard Debreu đã xây dựng cho lý thuyết cân bằng kinh tế chung một phiên bản mang tính dứt điểm. Ông cũng là một trong những người gây dựng chính việc toán học hoá kinh tế học.
Gerard Debreu là người Pháp đầu tiên được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel.
Về mặt định lượng, số tác phẩm của Gerard Debreu ít hơn số tác phẩm của hầu hết các nhà kinh tế học, mà chúng ta đã đề cập đến thời điểm này: một cuốn sách ngắn, độ một trăm trang, và vài chục bài viết. Hơn nữa, tác phẩm của ông không phải dễ đọc đối với các độc giả bình thường, không quen thuộc với các kỹ thuật toán học tiên tiến nhất được sử dụng trong kinh tế học. Tuy nhiên, Debreu là một trong những nhà kinh tế học được viện dẫn nhiều nhất và có ảnh hưởng lớn nhất thời hậu chiến.
Print Friendly and PDF

15.7.16

James Tobin, nhà keynesian ôn hòa và nhà phê bình triệt để chủ nghĩa tân tự do



James Tobin (1918-2002)

James Tobin, nhà keynesian ôn hòa và nhà phê bình triệt để chủ nghĩa tân tự do

Gilles Dostaler
Là một tác giả có rất nhiều bài viết và là một người dấn thân, James Tobin đã tham gia vào việc xây dựng tổng hợp tân cổ điển và đặt nền tảng cho lý thuyết tài chính hiện đại.
James Tobin chủ trương đánh thuế tất cả các giao dịch tài chính quốc tế để chống lại ảnh hưởng vượt trội của sự đầu cơ trên doanh nghiệp.
James Tobin đã trải qua thời niên thiếu trong thời kỳ suy thoái kinh tế của những năm 1930. Là một nhân viên công tác xã hội, mẹ ông đã trở lại làm việc và đã làm cho ông nhạy cảm với những hệ quả của tình trạng thất nghiệp và nghèo đói. Là một nhà báo có văn hóa, bố ông là người theo thuyết "tự do”, theo nghĩa của người Mỹ, ủng hộ mạnh mẽ Roosevelt. Tobin cho biết đã được dẫn dắt đến với kinh tế học theo hai con đường: một đam mê trí tuệ đối với bộ môn này đang trong quá trình hình thức hóa và toán học hoá, và một niềm tin rằng kinh tế học có khả năng mang lại những giải pháp cho những vấn đề nghiêm trọng về xã hội, chính trị và kinh tế vào thời của ông. Là tác giả viết cực kì nhiều, Tobin phô diễn tài năng trong các bái báo về chính trị, mà đối tượng là công chúng rộng lớn, cũng như trong các ấn phẩm lý thuyết nhắm đến các đồng nghiệp của ông.
Print Friendly and PDF

8.6.16

Franco Modigliani hay chủ nghĩa Keynes xuống cấp



Franco Modigliani (1918-2003)

Franco Modigliani hay chủ nghĩa Keynes xuống cấp

Gilles Dostaler
Franco Modigliani, người khởi xướng tổng hợp tân cổ điển, cố dung hòa phân tích keynesian và kinh tế học vi mô của Walras. Với cái giá là một sự cắt xén những đóng góp sáng tạo nhất của tác giả cuốn "General Theory (Lý thuyết tổng quát)".
Franco Modigliani tự cho mình là một "nhà hiền triết" theo thuyết của Keynes.
Ban đầu, Franco Modigliani quan tâm đến y học, nghề của bố ông, bố ông qua đời khi ông mới 13 tuổi. Không chịu được cảnh phải thấy máu chảy, ông chuyển sang ngành luật học, lãnh vực mà ông đã lấy bằng tiến sĩ. Bị đe dọa sau khi chính phủ của Mussolini thông qua các đạo luật mang tính phân biệt chủng tộc, xét nguồn gốc Do Thái và các hoạt động chống phát xít của ông, ông cùng với vợ rời nước Ý vào năm 1939 để định cư tại Pháp, rồi tại Hoa Kỳ, nơi ông tiến hành các nghiên cứu về kinh tế, trong khi phải đi bán sách để kiếm sống. Ông phát hiện ra Keynes một cách phấn khởi. Ông tuyên bố, trong cuộc phỏng vấn với Arjo Klamer, rằng kinh nghiệm của cuộc suy thoái và thất nghiệp đại trà mà nó gây ra là một trong những nhân tố làm ông quan tâm đến kinh tế học: "Và rồi Keynes xuất hiện, nói rằng điều ấy không nên xảy ra"[1]. Nhưng rồi Modigliani sẽ làm cho tác phẩm của Keynes phải chịu đựng một cách xử lí đặc biệt.
Print Friendly and PDF

18.5.16

Robert Solow, một nhà tiên phong về lý thuyết tăng trưởng

Robert Solow (1924-)

Robert Solow, một nhà tiên phong về lý thuyết tăng trưởng

Gilles Dostaler
Là nhà kinh tế học keynesian, Robert Solow ở cội nguồn của lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển. Phân tích của ông nêu bật vai trò quyết định của tiến bộ kỹ thuật.
Đối với Robert Solow, trong kinh tế học cũng như trong các khoa học khác, không có chân lý cuối cùng và không thể vượt qua, không có "lý thuyết của mọi thứ".
Robert Solow thuộc nhóm các nhà kinh tế học keynesian, trong số đó phải kể đến đồng nghiệp của ông là Paul Samuelson, cũng như James Tobin và Walter Heller, những người đã đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc tranh luận về chính sách kinh tế trong những năm đầu thập niên 1960, đặc biệt dưới thời Tổng thống John Kennedy. Là thành viên của Ủy ban các nhà cố vấn kinh tế của Tổng thống, Solow là một trong những kiến ​​trúc sư của điều người ta gọi là "kinh tế học mới". Đó là thời điểm chiến thắng của chủ nghĩa can thiệp và người ta nghĩ là đã tìm ra cách để kiểm soát sự suy thoái và thất nghiệp. Từ kinh nghiệm này, Solow viết rằng kinh tế học mới đã cho phép nhận ra rằng kinh tế học vĩ mô có thể giúp hiểu được thế giới và, ở một mức độ nào đó, thay đổi nó.
Print Friendly and PDF

3.5.16

William Arthur Lewis, giải phẫu sự kém phát triển



William Arthur Lewis (1915-1991)

William Arthur Lewis, giải phẫu sự kém phát triển

Gilles Dostaler
Cách tiếp cận của Arthur Lewis về các vấn đề kinh tế và xã hội đã làm sống lại lý thuyết về phát triển, đi tìm một sự cân bằng đúng đắn giữa thị trường và sự can thiệp của chính phủ.
William Arthur Lewis tin rằng kế hoạch hóa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các nước phía Nam.
Khi Arthur Lewis được sinh ra vào năm 1915 thì hòn đảo nhỏ St. Lucia, trong vùng biển Caribê, là một thuộc địa của nước Anh. St. Lucia giành được độc lập vào năm 1979. Đảo Barbados, nơi ông qua đời, đã giành được độc lập vào năm 1966. Dân số của các hòn đảo này, cũng như dân số của hầu hết các hòn đảo khác trong vùng biển Caribê, đa phần, xuất thân là nô lệ, là đối tượng của một tam giác thương mại giữa các nước châu Âu, châu Phi và vùng biển Caribê. Chế độ nô lệ đã bị bãi bỏ tại nước Anh năm 1833. Nhưng các thuộc địa của Anh không vì thế mà biến thành vườn hoa hồng đối với người da đen.
Print Friendly and PDF

28.4.16

John Kenneth Galbraith, người phê phán mạnh mẽ các nhà kinh tế học và kinh tế học



John Kenneth Galbraith, người phê phán mạnh mẽ các nhà kinh tế học và kinh tế học

Gilles Dostaler
Là người bài báng truyền thống, người khiêu khích và là nhà báo viết nhiều, John Kenneth Galbraith công kích kịch liệt những huyền thoại của chủ nghĩa tư bản và nghiên cứu những thực tế của các nền kinh tế hiện đại. Phân tích của ông đã cập nhật quyền lực của các cấu trúc kĩ trị và biến Nhà nước thành một công cụ bảo vệ cần thiết.
Đối với John Kenneth Galbraith, kinh tế học chính thống không được trang bị để hiểu được chủ nghĩa tư bản hiện đại.
Print Friendly and PDF

31.3.16

John Locke, môn đồ của chủ nghĩa tự do toàn diện



John Locke (1632-1704)

John Locke, môn đồ của chủ nghĩa tự do toàn diện

Gilles Dostaler
Là một triết gia lớn, một nhà trí thức đa tài, một người hành động, John Locke tự khẳng định mình như là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa tự do. Là người bảo vệ tự do kinh tế và quyền sở hữu, ông lại không phải là người ủng hộ tự do kinh doanh.
John Locke đã soạn thảo một phiên bản nguyên thủy của lý thuyết định lượng tiền tệ và đặt nền tảng triết học của các lý thuyết về giá trị lao động.
Print Friendly and PDF

5.3.16

Jean Bodin, nhà tư tưởng về thuyết chủ quyền quốc gia và tiền tệ



Jean Bodin (1530-1596)

Jean Bodin, nhà tư tưởng về thuyết chủ quyền quốc gia và tiền tệ

Là một học giả uyên bác, Jean Bodin đã xác lập cách trình bày hiện đại đầu tiên của một lý thuyết về nhà nước và ấn định các quy tắc của phê bình sử học. Trong kinh tế học, ông được coi là cha đẻ của lý thuyết định lượng về tiền tệ.
Jean Bodin thể hiện một niềm tin lớn của tư tưởng kinh tế: sự tồn tại của các quy luật kinh tế phổ quát, tương đương với các quy luật của tự nhiên.
Jean Bodin là một học giả uyên bác, vào một thời kỳ mà kiến thức chưa được phân ban. Mười lăm tác phẩm mà ông đã để lại viết về thần học, triết học, ngữ văn, luật học và án lệ, nhân chủng học, sử học, địa lý, nhân khẩu học và tất nhiên về kinh tế học, một lĩnh vực mà ông đã cống hiến một trong những định luật lâu đời nhất về kinh tế học vĩ mô, ngày nay được biết đến dưới tên gọi là lý thuyết định lượng về tiền tệ.
Print Friendly and PDF

3.2.16

David Hume, từ bản chất con người đến bản vị vàng



David Hume (1711-1776)

David Hume, từ bản chất con người đến bản vị vàng

Gilles Dostaler
Là nhà triết học và nhà kinh tế, David Hume đặt lại vấn đề chủ nghĩa duy lý giáo điều và bảo vệ phương pháp lý luận thực nghiệm. Ủng hộ chủ trương tự do thương mại, luận điểm của ông về thương mại đã đặt nền tảng lý thuyết cho hệ thống bản vị vàng.
David Hume xem kinh tế học như là một thực tế mang tính lịch sử, tiến hóa và tương đối.
David Hume được biết đến như là một triết gia, một trong những triết gia nổi tiếng nhất của nước Anh. Nhưng vào thời điểm đó, các nhà kinh tế - lúc bấy giờ chưa có thuật ngữ này - trước hết là những nhà triết học. Chỉ đến đầu thế kỷ XX, Alfred Marshall mới thành công trong việc tách biệt chương trình giảng dạy môn triết học đạo đức với chương trình giảng dạy môn kinh tế học ở Anh. Hume, bị nghi theo thuyết bất khả tri, hai lần không thành công trong việc đăng ký làm giáo sư giảng dạy ở các trường đại học Glasgow và Edimbourg, mặc dù Adam Smith đã mô tả ông như "từ lâu là sử gia triết học lịch sử nổi tiếng nhất của thế kỷ này." Nhưng ông thành công hơn, và thậm chí làm giàu hơn, khi đảm nhiệm những chức vụ quản lý hành chánh công.
Print Friendly and PDF

26.1.16

Vincent de Gournay, người báo trước chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo hộ



Vincent de Gournay (1712-1759)
Vincent de Gournay, người báo trước chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo hộ
Gilles Dostaler
Là người cùng thời với Quesnay, Vincent de Gournay truyền bá ý tưởng của ông thông qua "câu lạc bộ" của ông. Tuy là người sáng lập trường phái tư tưởng tự do đầu tiên, ông vẫn chủ trương một chủ nghĩa tự do ít giáo điều hơn và ôn hòa hơn so với lý thuyết của những người trọng nông.
Những "ý kiến nhận xét (Remarques)" của ông được nhà nghiên cứu người Nhật Takumi Tsuda tìm thấy lại vào đầu những năm 1980, hình thành nên tác phẩm lý luận chính của ông.
Print Friendly and PDF