Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm báo và tin kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm báo và tin kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

17.9.26

Niệm “ăn liền”: Khi Phật giáo trở thành món hàng của những nhà tân tự do

NIỆM “ĂN LIỀN”: KHI PHẬT GIÁO TRỞ THÀNH MÓN HÀNG CỦA NHỮNG NHÀ TÂN TỰ DO

Nguồn ảnh: fizkes/Shutterstock.com

Niệm [mindfulness] là một ngành kinh doanh khổng lồ, có giá trị vượt quá 1 tỷ đô la Mỹ chỉ riêng tại Hoa Kỳ và – có phần nghịch lý – lại gắn liền với hàng loạt sản phẩm ngày càng mở rộng được xem là “phải có”. Các sản phẩm này bao gồm ứng dụng di động có thể tải xuống (lần thống kê gần nhất ghi nhận tới 1.300 ứng dụng), các loại sách để đọc hoặc tô màu, cùng các khóa học trực tuyến. Hoạt động thực hành và huấn luyện về niệm hiện đã trở thành một bộ phận của ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe [wellness industry] toàn cầu trị giá hàng ngàn tỷ đô la.

Niệm có nguồn gốc từ các giáo lý về thiền của đạo Phật, và khuyến khích sự chú tâm một cách tĩnh lặng những khuôn mẫu suy tư và cảm xúc đã thành thói quen. Mục đích là làm gián đoạn khuynh hướng không lành mạnh của chúng ta đối với những nội dung thoáng qua trong tâm trí, thể hiện trong việc đồng nhất hóa quá mức với các nội dung này và bị lo lắng, căng thẳng quá mức về chúng. Bằng cách đó, những người thực hành niệm có thể an trú trong một trạng thái nhận thức thường được mô tả là “rộng mở” và mang tính giải thoát hơn. Họ được giải thoát khỏi những xu hướng tưởng như tự động (chẳng hạn như sự lo âu về địa vị, bề ngoài, triển vọng tương lai hay năng suất làm việc của bản thân), những điều thường bị các nhà quảng cáo và các thiết chế khác khai thác nhằm định hình hành vi của chúng ta. Trong bối cảnh Phật giáo sơ kỳ, niệm không thể tách rời khỏi đời sống đạo đức.

Print Friendly and PDF

9.9.26

Trung Quốc siết chặt quản lý bạn đồng hành AI. Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ điều này?

TRUNG QUỐC SIẾT CHẶT QUẢN LÝ BẠN ĐỒNG HÀNH AI. CHÚNG TA CÓ THỂ RÚT RA BÀI HỌC GÌ TỪ ĐIỀU NÀY?

Nothing Ahead/Pexels

Kể từ tháng 11 năm 2022, trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh đã làm thay đổi cách hàng tỷ email, bài tập của sinh viên, báo cáo và thậm chí cả những tin nhắn chia tay được viết ra. Bên cạnh các ứng dụng thông thường này, chúng ta cũng chứng kiến sự bùng nổ của các chatbot được thiết kế như những “người bạn đồng hành” AI.

Người dùng có thể tự thiết kế ngoại hình, trang phục (hay thậm chí cởi bỏ trang phục) cho người bạn AI của riêng mình, vốn thường phải trả phí để sử dụng. Những chatbot mang tính xã hội này mang đến “các cuộc trò chuyện vui vẻ” và một mối quan hệ dường như hoàn hảo, nhưng phải đánh đổi bằng sự mong manh trong tương tác hai chiều và cảm giác thuộc về đích thực mà con người chỉ có thể tìm thấy trong các mối quan hệ với những con người khác.

Những người ủng hộ loại hình AI này cho rằng, đối với những ai đang trải qua cảm giác cô lập xã hội, những con chatbot là những người bạn đồng hành luôn sẵn sàng hỗ trợ, và không phán xét họ. Thực tế cũng đã có một số bằng chứng cho thấy chatbot có thể làm giảm các triệu chứng của nỗi cô đơn, tình trạng mất kết nối kéo dài và cảm giác không được thuộc về.

Print Friendly and PDF

7.9.26

Hình ảnh của Trung Quốc trên thế giới tốt hơn hình ảnh của nước Mỹ: điều lần đầu tiên xảy ra

PHÂN TÍCH

HÌNH ẢNH CỦA TRUNG QUỐC TRÊN THẾ GIỚI TỐT HƠN HÌNH ẢNH CỦA NƯỚC MỸ: ĐIỀU LẦN ĐẦU TIÊN XẢY RA

Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Donald Trump và Tập Cận Bình. DR.

Một nghiên cứu của Pew Reasearch Center công bố ngày 15 tháng bảy 2026 cho thấy rằng lần đầu tiên Trung Quốc được nhìn nhận tích cực hơn nước Mỹ tại phần lớn trong 36 nước được thăm dò – bao gồm cả những đồng minh truyền thống của Washington như Canada. Ở nghiên cứu này, chúng ta chủ yếu thấy tính không thể đoán trước, sự kiêu ngạo và những hành động gây hấn của Donald Trump từ khi ông trở lại Nhà Trắng vào tháng giêng 2025. Rõ ràng sự sa sút đến chóng mặt của hình ảnh nước Mỹ là tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh Việt Nam.

Đây là lần đầu tiên trong gần 20 năm thăm dò dư luận thế giới do Pew thực hiện cho thấy Trung Quốc đã hơn Mỹ về hình ảnh tích cực đối với một phần lớn những người được hỏi, Laura Silver, phó giám đốc của bộ phận Global Attitudes Research của Pew, đã nhấn mạnh như vậy với AFP. Cuộc điều tra được tiến hành với 42.151 người đã ghi nhận có nhiều người tin tưởng Tập Cận Bình hơn Trump – như vậy kết quả này đảo ngược xu hướng được quan sát thời tổng thống Biden còn đứng đầu nước Mỹ, mặc dù nhiều người được hỏi lúc đó không tin tưởng Biden lẫn Tập Cận Bình.

Mức độ tín nhiệm nước Mỹ tại Canada đã hạ từ 57% năm 2023 xuống 33% năm nay, trong khi mức độ tín nhiệm Trung Quốc lại tăng từ 14% lên 44%. Nước Mỹ đã luôn luôn đạt các kết quả tốt hơn Trung Quốc liên quan đến sự tôn trọng các quyền tự do cá nhân, nhưng lợi thế này đã giảm rất mạnh kể từ năm 2021, sự tin tưởng đối với nước Mỹ đã sút giảm trong đại bộ phận châu Âu và những nơi khác.

Print Friendly and PDF

5.9.26

Tại sao các công việc trong ngành tài chính lại làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập tại các thành phố trên toàn thế giới

TẠI SAO CÁC CÔNG VIỆC TRONG NGÀNH TÀI CHÍNH LẠI LÀM GIA TĂNG BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP TẠI CÁC THÀNH PHỐ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

Các tác giả: Marta M. Elvira, Nils Neumann Olivier Godechot

Các tòa nhà chọc trời tại khu tài chính của Thành phố London, Vương quốc Anh. Nguồn ảnh: Mistervlad/Shutterstock

Chúng ta hãy thử hình dung lịch sử của New York nếu thiếu Phố Wall, hay London mà không có khu tài chính City. Thật chẳng dễ chút nào.

Việc trở thành nơi đặt các thị trường tài chính chủ chốt của một đất nước giúp định hình bản sắc, nâng cao vị thế và tạo ra việc làm cho một thành phố. Nhưng điều này cũng đi kèm với những hệ quả đánh đổi. Do đóng vai trò là “thỏi nam châm” thu hút các công việc tài chính lương cao cùng những ngành nghề liên quan, nhiều thành phố tài chính thường đối mặt với tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở mức đặc biệt cao.

Trên thực tế, bên cạnh tác động của quá trình toàn cầu hóa và sự tập trung của lực lượng lao động có trình độ cao, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng sự hiện diện của thị trường tài chính là một nhân tố chính dẫn đến sự tập trung ngày càng lớn của tốp có thu nhập cao nhất cũng như tình trạng bất bình đẳng thu nhập tại một số thành phố được chọn lọc.

Trong một nghiên cứu 24 nhà nghiên cứu thực hiện, chúng tôi đã khảo sát mức thu nhập của tốp dẫn đầu thu nhập tại các thành phố thuộc 10 nước trải khắp Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á, thông qua việc phân tích dữ liệu liên kết giữa người sử dụng lao động và người lao động trong suốt hai thập kỷ.

Print Friendly and PDF

3.9.26

Ba Cấp độ Văn hóa theo Edgar Schein, và Tại sao sự thay đổi văn hóa trong tổ chức lại khó xảy ra

Tổ chức & Văn hóa

BA CẤP ĐỘ VĂN HÓA THEO EDGAR SCHEIN, VÀ TẠI SAO SỰ THAY ĐỔI VĂN HÓA TRONG TỔ CHỨC LẠI KHÓ XẢY RA

Văn hóa là một thuật ngữ khá mơ hồ và phức tạp. Vào năm 1952, hai học giả Kroeber và Kluckhohn đã tổng hợp được hơn 134 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này trong một tác phẩm nghiên cứu tổng quan toàn diện về văn hóa của mình.

Khi khảo cứu lịch sử của từ này, Kroeber và Kluckhohn nhận thấy mọi con đường đều dẫn về nước Đức, nơi từ này bắt đầu xuất hiện dưới tên gọi là “cultur”:

Chẳng hạn, Kant – cũng như phần lớn những người cùng thời với ông – vẫn viết từ này là Cultur, nhưng sử dụng nó nhiều lần, và luôn với nghĩa là sự vun đắp hoặc hoặc được nuôi dưỡng.

Phải đến cuối thế kỷ 19, từ này mới bắt đầu được định hình thành dạng thức hiện đại và được các nhà nhân học và những học giả khác về văn hóa tiếp nhận để nghiên cứu những nền văn hóa nước ngoài.

Cuốn sách Văn hóa Nguyên thủy [Primitive Culture] xuất bản năm 1870 của Sir Edward Tylor thường được xem là một bước chuyển, hướng tới định nghĩa hiện đại của từ văn hóa:

một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, niềm tin, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục, cùng mọi năng lực và thói quen khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

Đến những năm 1950, đã có hơn 100 định nghĩa về từ “văn hóa”, và đây chính là thời điểm trước khi các tổ chức bắt đầu sử dụng thuật ngữ này.

Vào những năm 1980, nghiên cứu của Edgar Schein đã mở rộng phạm vi của các khái niệm này sang các tổ chức hiện đại, và cách chúng ta nói về các công ty từ đó đến nay cũng đã không còn như trước nữa.

Print Friendly and PDF

30.8.26

Hỗ trợ phát triển: Một niềm tin bị đặt thành vấn đề?

HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN: MỘT NIỀM TIN BỊ ĐẶT THÀNH VẤN ĐỀ?

Grégoire MallardDominic Eggel  Marc Gal

Trong khi hỗ trợ phát triển cho các nước thuộc Phương Nam là đặc điểm nổi bật của thời kỳ hậu thuộc địa, thì việc bước vào thế kỷ 21 đánh dấu một bước ngoặt. Đối mặt với những kết quả được trình bày là đáng thất vọng, sự hỗ trợ phát triển dường như không còn khả năng đảm bảo duy trì hòa bình và sự thịnh vượng. Liệu lĩnh vực hỗ trợ có bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng? Hay chính hệ hình phát triển cần được xem xét lại?

Hình minh họa của PTKT (do A.I tạo)

Ngày 20 tháng 1 năm 2025 sẽ mãi là một ngày đen tối đối với những tác nhân của sự hợp tác của Hoa Kỳ. Một ngày sau khi trở lại chức tổng thống, Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp đình chỉ tất cả các chương trình của USAID trong 90 ngày. Mười lăm ngày sau, sắc lệnh này được tiếp nối bằng thông báo đóng USAID, được ông mô tả là một “tổ chức tội phạm”.

Vượt lên trên sự kinh ngạc, các nhà phân tích đã hướng sự chú ý của giới truyền thông đến "Dự án 2025", nơi tất cả các biện pháp này được công bố và biện minh bởi ba tham vọng: giảm ảnh hưởng của chính quyền liên bang, tái tập trung chính sách đối ngoại vào lợi ích quốc gia và loại bỏ các chương trình bị coi là "thù địch về mặt tư tưởng" với các giá trị bảo thủ. Dựa trên nhận định này, và sau khi Mỹ cũng rút khỏi Mục tiêu Phát triển Bền vững (ODD) của Liên Hợp Quốc và của Hiệp định Paris, tạp chí Foreign Policy đã đăng bài viết với tiêu đề "The End of Development/Sự kết thúc của phát triển".

Print Friendly and PDF

26.8.26

Cuộc ám sát Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (Ngày 14/4/1865)

CUỘC ÁM SÁT TỔNG THỐNG MỸ ABRAHAM LINCOLN

Ngày 14 tháng 4, 1865

Chúng ta không phải là kẻ thù, mà là bạn. (1861)

— Abraham Lincoln

 

Tổng thống Lincoln (12/2, 1809 – 15/4, 1865; hưởng thọ 56t). Ảnh ngày 9 tháng 2, 1864. Anthony Berger

Lời nói đầu

Đây là bài viết của báo Thụy Sỹ Neue Zürcher Zeitung ngày 15.08.2026 của tác giả Marc Tribelhorn về sự kiện đúng 161 năm trước, 1865, Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln bị ám sát tại nhà hát Ford Theater, Washington DC. Marc Tribelhorn là nhà báo về lịch sử của NZZ, được trao giải thưởng Báo chí Thụy Sĩ năm 2022. Tiêu đề trong bài này do chúng tôi đặt lại. Bài báo nói lên bối cảnh Abraham Lincoln bị ám sát, nói về động cơ của kẻ ám sát, phản ứng của nước Mỹ, cả Bắc lẫn Nam về tin Tổng thống bị ám sát, một bức tranh toàn diện thu nhỏ. Xin cảm ơn báo Neue Zürcher Zeitung và tác giả Marc Tribelhorn. Một số ảnh và tư liệu được chúng tôi thêm vào.

Print Friendly and PDF

22.8.26

Nền tảng hóa và việc làm trở nên bấp bênh, mất ý nghĩa: đối thoại giữa nhà văn Franck Courtès và nhà kinh tế học Coralie Perez

NỀN TẢNG HÓA VÀ VIỆC LÀM TRỞ NÊN BẤP BÊNH, MẤT Ý NGHĨA: ĐỐI THOẠI GIỮA NHÀ VĂN FRANCK COURTÈS VÀ NHÀ KINH TẾ HỌC CORALIE PEREZ

Tác giả: Audrey Fisné-Koch

Trong quyển sách A pied d’œuvre [tạm dịch: Bắt tay vào việc], Franck Courtès thuật lại công việc hàng ngày của mình về nền tảng số. Nhà kinh tế học Coralie Perez nhận ra trong câu chuyện này cả một mảng của thế giới việc làm hiện thời. Họ cùng nhau thảo luận về vấn đề này.

“Tôi đã hưởng lương khoảng 3000 euro mỗi tháng, có năm lên đến 8000 euro/tháng. Từ nhiều tháng nay, lương tôi chỉ còn 250 euros bản quyền tác giả”, Franck Courtès giải thích như vậy. Đó là lý do khiến cựu nhiếp ảnh gia nay trở thành thành nhà văn đăng ký trên một nền tảng về “các công việc vặt”: một hệ thống đấu giá đảo ngược nơi mà người dùng chấp nhận mọi loại công việc như sửa chữa đồ đạc, dọn dẹp xà bần hay tỉa cây để đổi lại những khoản thù lao ngày càng rẻ mạt.

Luôn luôn bấp bênh hơn và ít được bảo vệ hơn, sự đảo lộn mô hình lao động truyền thống là trung tâm của quyển sách A pied d’œuvre - (Nhà xuất bản Gallimard, 2023), quyển tự truyện của ông đã được Valérie Donzelli chuyển thể điện ảnh năm 2025.

Năm 2024, quyển sách đã nhận giải thưởng tiểu thuyết doanh nghiệp và lao động. Và lý do là sách phản ánh những biến đổi xã hội rất thời sự về ý nghĩa của công việc, nền tảng hóa hay còn là sự che khuất một tầng lớp cần lao mới. Chúng tôi đã thảo luận vấn đề này với Franck Courtès và Coralie Perez, là nhà kinh tế học và là kỹ sư nghiên cứu tại Trung tâm kinh tế Sorbonne (Đại học Paris 1).

Print Friendly and PDF

20.8.26

Cách tôi dùng thống kê và tấm bằng luật để chống lại các hành vi vi phạm nhân quyền

CÁCH TÔI DÙNG THỐNG KÊ VÀ TẤM BẰNG LUẬT ĐỂ CHỐNG LẠI CÁC HÀNH VI VI PHẠM NHÂN QUYỀN

Khoảng 50 năm sau khi vạch trần sự phân biệt giới tính trong quyền lợi hưu trí của giới giảng viên đại học Mỹ, Mary Gray hiện đang là nhà thống kê kiêm nhà vận động vì công bằng xã hội.

Bài viết của Rachel Crowell

Mary Gray đã áp dụng các lập luận thống kê và pháp lý để đưa ra các khuyến nghị về cách chính phủ và các tổ chức có thể giải quyết vấn nạn diệt chủng và các hành vi vi phạm nhân quyền khác, cũng như nạn phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Dù đã ngoài tuổi 80, bà vẫn tiếp tục sự nghiệp luật sư, nhà thống kê và nhà toán học tại Đại học American ở Washington DC. Bà nói: “Dù tóc bạc trắng thì tôi vẫn chưa nghỉ hưu đâu”.

Một số nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào số ít vấn đề trong phạm vi hẹp. Công trình của Gray thì rộng hơn thế nhiều.

Bà đã đào tạo các điều tra viên cho Tòa án Hình sự Quốc tế tại The Hague (còn được biết đến với tên gọi là Den Haag hoặc La Hay), Hà Lan, để xác định mức độ vi phạm nhân quyền và tội diệt chủng. Ở trong nước, bà đã nỗ lực chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính, chủng tộc và tuổi tác, đồng thời tạo cơ hội trong giới học thuật Hoa Kỳ cho những người từ nhiều hoàn cảnh xuất thân khác nhau.

chủ tịch sáng lập của Hiệp hội Phụ nữ trong Toán học (Association for Women in Mathematics) từ năm 1971 đến 1974, Gray đã thiết lập mạng lưới và hỗ trợ cho các đồng nghiệp nữ, đồng thời ủng hộ một nền văn hóa công bằng và bao trùm hơn trong ngành. Năm 2022, khi hiệp hội thành lập Giải thưởng Mary và Alfie Gray về Công bằng Xã hội được đặt theo tên của Gray và chồng bà, một nhà toán học đã qua đời năm 1998 tổ chức này đã mô tả Mary Gray là người “đã dành cả cuộc đời mình để theo đuổi sự xuất sắc trong toán học và công bằng xã hội”. Bên cạnh nghiên cứu và giảng dạy học thuật, Gray còn tình nguyện làm việc cho cả Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) lẫn Thống kê Không Biên giới (Statistics Without Borders), một tổ chức cung cấp các dịch vụ thống kê và khoa học dữ liệu miễn phí vì lợi ích cộng đồng để cải thiện phúc lợi con người trên toàn thế giới.

Print Friendly and PDF

16.8.26

Lịch sử, sự thật và sử học

GS Hà Văn Tấn

Ai ai đều đã bằng câu hết
nước chẳng còn có Sử Ngư

Đó là hai câu thơ trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng khi mà mọi người uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là một chép sử nước Vệ thời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “Trực tai Sử Ngư” (Sử Ngư thẳng thay).

Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi chúng ta vẫn như tê tái với nỗi đau của ông, làm sao có thể sống trong xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy và xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt như thế nào? Ngày nay chúng ta đang sống trong một giai đoạn cần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, nhà sử học phải tự hỏi rằng “sử bút” của mình có thật nghiêm chưa, đã viết đúng sự thật lịch sử hay chưa?

Từ thời cổ đại người ta đã yêu cầu cho việc chép sử là nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho những nhà cầm quyền. Polybius, nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ 2 TCN, đã nhận thấy rằng sử học có tính Pragmatikos, tức thực dụng. Trong các vị thần Muses Hy Lạp thì nữ thần Clio là thần sử học, nhưng tên Clio là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Kleio nghĩa là ca tụng, biểu dương.

Ở Phương Đông Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, bộ sử lớn của Trung Quốc cổ đại, là cốt để “bao biếm” tức là khen và chê các hành vi của nhân vật lịch sử. Cái mẫu mực sử học thực dụng còn tồn tại rất lâu dài về sau, nhất là ở Phương Đông. Ta hãy đọc những dòng của Phạm Công Trứ trong bài tựa sách Đại Việt sử ký tục biên: “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tụ điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị thì không thể là ít, cho nên mới làm ra quốc sử”.

Print Friendly and PDF

14.8.26

Phan Châu Trinh về Bất như học/Chi bằng học

PHAN CHÂU TRINH

“Bất như học”

Phan Châu Trinh

(nguyên bản chữ Hán, trong bài “Hiện trạng vấn đề”, đăng trên tờ Đại Việt Tân Báo chữ Hán ngày 22/12/1907 số 135)

“Những sự giải thoát của chúng ta là nằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ.”

— Nguyễn Văn Vĩnh,

(diễn giải “Bất như học” của Phan Châu Trinh trong bản tiếng Pháp “Réflexions sur le temps présent” [Nghĩ về thời hiện tại/ Hiện trạng vấn đề] ngày 29/12/1907 trên tờ Pionnier Indo-Chinois/Người Tiên phong Đông Dương)

“Chi bằng học”

— Huỳnh Thúc Kháng

(diễn giải thành chữ Quốc ngữ trong bài viết “Bài ‘Hiện trạng vấn-đề’ năm 1907”, đăng trên mục: “Một bài luận thời cuộc rất xuất sắc trên báo giới ta trước 25 năm nay” của báo Tiếng Dân số 613, ngày 9/8/1933 tại Huế.)

Tạp chí Xưa và Nay, cơ quan ngôn luận của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, trong số kỷ niệm 100 năm ngày mất Phan Châu Trinh năm nay có đăng tải những bài rất giá trị. Bài nghiên cứu sau đây của tác giả Nguyễn Quang Trung Tiến là công phu, tỉ mỉ, rất đáng đọc để hiểu thêm tầm quan trọng của cái học đối với xây dựng đất nước mà Phan Châu Trinh và những nhà ái quốc Việt Nam đã quan niệm đầu thế kỷ XX:

QUAN NIỆM “CHI BẰNG HỌC”
DẤU ẤN VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG

QUAN NIEM CHI BANG HOC…- NGUYEN QUANG TRUNG TIEN

(Cảm ơn Tạp chí đã cho phép đăng lại.)

Print Friendly and PDF

12.8.26

Trí tuệ nhân tạo (AI): công việc bị che khuất nhưng rất thật của những công nhân dữ liệu

Polytechnique insights TẠP CHÍ CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA PARIS

Hình trên do A.I tạo ra

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI): CÔNG VIỆC BỊ CHE KHUẤT NHƯNG RẤT THẬT CỦA NHỮNG CÔNG NHÂN DỮ LIỆU

Tác giả: Antonio Casilli

Tóm tắt

  • Việc học của trí tuệ nhân tạo dựa vào con người, không chỉ là những nhà chuyên môn, mà cả nhiều người lao động bị trả công thấp và bấp bênh để cho trí tuệ nhân tạo vận hành hàng ngày.
  • Những người lao động này ngày càng trẻ, chủ yếu là từ 18 đến 35 tuổi (có khi đến 44 tuổi hoặc hơn), họ có trình độ học vấn và chuyên môn cao hơn hẳn so với công việc họ đang làm.
  • Những công nhân dữ liệu phải đối mặt rất nhiều với rủi ro tâm lý xã hội: nhiều người làm việc một mình tại nhà, những người khác làm việc trong những điều kiện rất khắt khe và dễ gây tổn thương.
  • Một số công nhân dữ liệu làm việc tại nước của họ trên những công cụ mà sau đó có thể được đưa vào hoạt động bởi những chính phủ nước ngoài chống lại chính họ.

Ông có thể cho một định nghĩa như thế nào để mô tả ý niệm công việc vô hình đàng sau trí tuệ nhân tạo?

Antonio Casilli. Trước hết cần nói rõ một điều quan trọng: công việc này không phải “vô hình”. Chỉ cần nghiên cứu một ít hiện tượng này như tôi đang làm, bằng cách đi gặp những công nhân tại các nước như Madagascar, Kenya hay Brazil, lúc đó ta phát hiện ra là công việc của họ bị che khuất nhưng không vô hình. Do đó, định nghĩa mà tôi có thể đưa ra đó là một công việc chuẩn bị, kiểm chứng và đôi khi là bắt chước các trí tuệ nhân tạo. Nghĩa là tất cả phần liên quan đến huấn luyện, kiểm tra chất lượng và cân nhắc và điều chỉnh mô hình.

Công việc này là sống động và tuyệt đối cần thiết cho sự tồn tại của các mô hình trí tuệ nhân tạo hiện nay, bởi vì chúng được xây dựng dựa vào các hệ thống học tự động. Và khi nói “học” thì có nghĩa là phải có người dạy cỗ máy. Và bất chấp điều mà ta có thể tin, những điều giảng dạy này không chỉ được ban phát bởi các chuyên gia được thù lao hàng trăm ngàn euro mỗi năm. Đó còn là và nhất là những người được thù lao rất ít và trong những điều kiện khá bấp bênh trong việc vận hành máy móc.

Những người lao động bị che khuất này đã có mặt ở đó từ hai mươi năm nay, từ khi người ta tạo ra trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu và trên sự học tự động.

Print Friendly and PDF

10.8.26

Phụ trương đặc biệt: Ở miền Bắc Việt Nam

PHỤ TRƯƠNG ĐẶC BIỆT: Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

Noam Chomsky

Số ra ngày 13 tháng 8 năm 1970

Hình minh hoạ của PTKT (do A.I tạo)

Chuyến bay ICC tới Hà Nội bay vòng lên cao quanh Viêng Chăn [Thủ đô của Lào – ND] cho tới khi đạt độ cao được chỉ định, rồi bay qua một hành lang được bảo vệ trên khu vực mà trước đây từng hứng chịu một trong những trận bom dữ dội nhất trong lịch sử. Một chiếc máy bay Phantom lướt qua gần đó — khiến phi hành đoàn và các hành khách khá khó chịu — nhưng ngoài điều đó ra, chúng tôi chẳng cảm thấy điều gì khác giữa những đám mây dày đặc cho tới khi ánh đèn Hà Nội dần dần hiện ra bên dưới. Những hành khách trên chuyến bay là một hỗn hợp kỳ lạ: có nhiều nhà ngoại giao Trung Quốc; nhiều ký giả Nga, một tiểu thuyết gia người Ý, vài người Ba Lan và ba du khách người Mỹ.

Chúng tôi đến Hà Nội vào ngày 10 tháng 4 [năm 1970], và rời khỏi trên cùng chuyến bay vào một tuần sau đó. Vì chuyến thăm Việt Nam của tôi quá ngắn ngủi, nên chắc chắn ấn tượng của tôi là hời hợt. Vì không nói được tiếng Việt, tôi thường có một người phiên dịch đi cùng, và tuy những người phiên dịch có trình độ cao, nhưng quá trình phiên dịch lại rất tốn thời gian, thế nên việc trò chuyện của tôi với mọi người bị chậm lại. Tôi sẽ mô tả những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến đi này. Bạn đọc nên lưu ý rằng những gì tôi có thể kể là có hạn.

Print Friendly and PDF

8.8.26

Phi tư bản hóa tri thức khoa học và làm cho mọi người đều có thể tiếp cận: hiện đã có những giải pháp

PHI TƯ BẢN HÓA TRI THỨC KHOA HỌC VÀ LÀM CHO MỌI NGƯỜI ĐỀU CÓ THỂ TIẾP CẬN: HIỆN ĐÃ CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP

Các tác giả: Frédéric Schmidt, Camille ThomasRomain Vaucher

Đến khi nào thì được tiếp cận tri thức tự do và miễn phí? (Trong hình là tháp sách của thư viện Městská knihovna tại Prague, Cộng Hòa Sec.) Lysander Yuen/Unsplash, CC

Đối với các cơ quan nghiên cứu, công bố và truy cập các bài báo khoa học là rất tốn kém. Truy cập mở có phải là giải pháp hoàn hảo? Hãy tìm những ví dụ cụ thể về công bố khoa học kết hợp được tính miễn phí, yêu cầu cao và chặt chẽ.

Xuất bản khoa học là một ngành công nghiệp đặc biệt sinh lợi. Những ước tính mới nhất cho rằng ngành này có doanh thu hàng năm chừng 19 tỷ đô la Mỹ (tương đương 16,67 tỷ euro), với biên lợi nhuận gần 40%. Những con số chóng mặt này phần lớn phản ánh thực tế là các nhà xuất bản tư nhân, như Elsevier, Springer Nature, Wiley, Taylor & Francis hay SAGE tích lũy tư bản từ các công trình mà đại bộ phận được tài trợ bởi các quỹ công cộng.

Việc thương mại hóa này được thực hiện hoặc bằng cách ra điều kiện phải trả tiền hay đặt mua dài hạn để có thể truy cập một bài báo, hoặc yêu cầu các tác giả phải trả tiền để độc giả được truy cập tự do bài báo được công bố. Tuy nhiên, phần lớn công việc cần thiết cho việc xuất bản, đặc biệt là việc viết bài báo, bình duyệt và một phần lớn công việc xuất bản lại được cung ứng miễn phí bởi các nhà nghiên cứu. Hệ quả trực tiếp là mức độ giàu có của một viện nghiên cứu hay một quốc gia vẫn còn phần nào chi phối việc tiếp cận tri thức khoa học.

Print Friendly and PDF

6.8.26

Descartes Một thoáng

DESCARTES MỘT THOÁNG

Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại

Cogito, ergo sum

(Je pense, donc je suis)

 

René Descartes (31. 3, 1596 ở La Haye-en-Touraine, Pháp – 11.2,1650 ở Stockholm, Thụy Điển, 54t). Bức chân dung (sơn dầu 78 x 69 cm) nổi tiếng của René Descartes được trưng bày tại Bảo tàng Louvre, được họa sĩ Frans Hals (1581/85 – 1666), người thuộc thời kỳ Hoàng kim của hội họa Hà Lan, thực hiện vào khoảng năm 1649.

Dẫu có học thuộc lòng tất cả các lập luận của Plato và Aristotle, chúng ta sẽ không thể trở thành triết gia hơn trừ khi chúng ta có thể đưa ra phán đoán vững chắc của riêng mình về bất kỳ vấn đề nào. Chúng ta thực sự sẽ học được lịch sử nhưng không thể làm chủ được một ngành khoa học.

–Descartes (Quy tắc thứ 3, Philosophical Writings of Descartes).

René Descartes thường được coi là người sáng lập triết học hiện đại, và tôi nghĩ điều đó là đúng. Ông là người đầu tiên có năng lực triết học cao mà quan điểm chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi vật lý và thiên văn học mới. Mặc dù đúng là ông vẫn giữ nhiều tư tưởng kinh viện, nhưng ông không chấp nhận nền tảng do những người tiền nhiệm đặt ra, mà nỗ lực xây dựng một công trình triết học hoàn chỉnh từ đầu. Điều này chưa từng xảy ra kể từ thời Aristotle, và là dấu hiệu của sự tự tin mới mẻ xuất phát từ sự tiến bộ của khoa học. Có một sự tươi mới trong tác phẩm của ông mà không thể tìm thấy ở bất kỳ nhà triết học lỗi lạc nào trước đó kể từ Plato. Tất cả các nhà triết học trung gian đều là giáo viên, với ưu thế chuyên môn thuộc về nghề nghiệp đó. Descartes viết, không phải với tư cách là một giáo viên, mà là một nhà khám phá và thám hiểm, mong muốn truyền đạt những gì ông đã tìm thấy. Phong cách của ông dễ hiểu và không cầu kỳ, hướng đến những người thông minh trên thế giới hơn là học trò. Hơn nữa, đó là một phong cách xuất sắc phi thường. Thật may mắn cho triết học hiện đại khi người tiên phong ấy sở hữu khiếu văn chương đáng ngưỡng mộ. Những người kế thừa ông, cả ở lục địa châu Âu và ở Anh, cho đến Kant, đều giữ được nét không chuyên nghiệp của ông, và một số người trong số họ vẫn giữ được phần nào giá trị văn phong của ông.

― Bertrand Russell, Lịch sử triết học phương Tây

Những trận chiến duy nhất (thật sự) mà Descartes từng tham gia là những trận chiến chống lại sự nhầm lẫn và sai lầm (của lý tính); những cuộc phiêu lưu của ông là những cuộc phiêu lưu về tinh thần; những chiến thắng của ông là sự chinh phục chân lý.

— Alexandre Koyré, Introduction trong Elizabeth Anscombe et al.

Lời nói đầu

(1) Dưới đây là những câu chuyện kể của Descartes được giới học giả xem là rất “có duyên”, và ông là người kể chuyện có tài, thuyết phục, từ sự học ở trường lúc ông còn trẻ đến những đề tài của triết học, khoa học, rất truyền cảm hứng. Những chuyện kể chứa đựng nhiều kinh nghiệm sống và nhận thức về con đường tìm chân lý độc đáo của ông mang đậm dấu ấn của ông. Những chuyện kể đó, ngay cả tác phẩm Discourse on the Method (Luận về phương pháp), hay những tác phẩm khác, không khác gì Cartesian confessions, như học giả Alexandre Koyré gọi. René Descartes được các nhà triết học và sử học công nhận rộng rãi là người khởi xướng “bước ngoặt nhận thức luận” trong triết học phương Tây. Husserl mô tả hiện tượng học siêu nghiệm của mình như một dạng “tân Descartes”. Ông cho rằng bất cứ ai muốn trở thành một nhà triết học nghiêm túc đều phải làm như Descartes đã làm: rút lui vào nội tâm và tìm cách lật đổ tất cả các niềm tin khoa học và triết học trước đó và xây dựng lại mới. Có những nét tương đồng với Kant. Nếu Descartes tiến hành cuộc cách mạng tư duy và đặt nền tảng cho khoa học hiện đại, dưới ân điển của đức tin, thì Kant cũng tiến hành cuộc cách mạng của Denkart, cách tư duy, muốn đặt siêu hình học trên nền tảng khoa học.

Print Friendly and PDF

2.8.26

Cuộc khủng hoảng của các khoa học nhân văn

CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA CÁC KHOA HỌC NHÂN VĂN

Tác giả: Félix Delmas

Từ những năm 1970, các khoa học nhân văn đã trải qua một cuộc khủng hoảng về tính chính đáng cả về mặt phương pháp luận (các nhà khoa học cứng và thuần túy đã lên án những tham vọng khoa học của khoa học xã hội) hay đạo đức (đặt lại vấn đề về hậu quả đạo đức của cấu trúc luận và sự tan rã của chủ thể trong các cấu trúc xã hội quyết định họ). Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến những nỗ lực định nghĩa lại các phương pháp đặc thù của các khoa học nhân văn.

Sự thống trị của khoa học nhân văn

Những dấu hiệu đầu tiên về mặt trí tuệ

Nếu chúng ta hiểu nó là kiến ​​thức về con người, thì khái niệm khoa học nhân văn luôn tồn tại, nhưng theo nghĩa hiện đại của một phương pháp luận riêng biệt, nó đã xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Lúc bấy giờ sử học kết thúc sự tách rời khỏi lĩnh vực của cổ học và tự khẳng định mình là một ngành khoa học. Nhất là các ngành học tự chủ mới đã xuất hiện và ngay lập tức khẳng định quy chế khoa học: đó là nhân học, với Marcel Mauss, và xã hội học, với Émile Durkheim (1858-1917).

Print Friendly and PDF