| Martin Wight (1913-1972) |
| Martin Wight (1913-1972) |
THUYẾT NHÂN LOẠI TRUNG TÂM (THUYẾT CON NGƯỜI LÀ TRUNG TÂM), THUYẾT NHÂN HÓA, THUYẾT ĐẲNG CẤP LOÀI (THUYẾT PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ THEO LOÀI): HÃY COI CHỪNG NHỮNG LẦM LẪN!
Tác giả: Philippe Le Doz
Giảng sư, hướng dẫn nghiên cứu, lịch sử cổ đại, Đại học Rennes 2
![]() |
| Có nên diễn giải các hành vi của loài vật bằng cách lấy loài người làm mốc tham chiếu, hay trái lại xây dựng giả thuyết về một sự chia tách chặt chẽ làm cho loài người chúng ta trở nên một loài đặc biệt? Saketh Upadhya/Unsplash, CC BY |
Thuyết loài người là trung tâm hay nhân loại trung tâm (anthropocentrisme), được hiểu là loài người được ưu tiên trong một thế giới mà con người được tự do khai thác, có xu hướng va chạm với một khái niệm ngày càng được sử dụng nhiều trong những năm gần đây: thuyết spécisme (thuyết đẳng cấp loài hay thuyết phân biệt đối xử theo loài – ND). Gần đây, triết gia François Jaquet đã nhấn mạnh nguy cơ lầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Quả thực phân biệt hai thuật ngữ này là đòi hỏi cấp bách. Có thể ta đưa ra giả thuyết là thuyết nhân loại trung tâm là một thiên kiến về nhận thức, nơi mà thuyết phân biệt đối xử theo loài thuộc về một dự án xã hội.
Các thuyết xem loài người là trung tâm
L’anthropocentrisme – thuyết nhân loại trung tâm/thuyết xem loài người là trung tâm – là một khái niệm mặc dù thường được dùng nhưng không dễ phân định rõ. Các định nghĩa trong các từ điển không rõ ràng, nhưng nói chung là các định nghĩa này đều đồng ý nêu ra xu hướng của loài người tự cho mình là trung tâm của vũ trụ.
CÁCH HỌC NGÔN NGỮ NHƯ TRẺ THƠ
![]() |
| VS. Vladimír Šigut, Đại học Charles , Tác giả cung cấp (không được sử dụng lại) |
Học một ngôn ngữ mới ở tuổi trưởng
thành có thể là một trải nghiệm gây nản lòng, gần như nghịch lý. Trên lý thuyết,
bộ não trưởng thành và giàu kinh nghiệm hơn của người lớn chúng ta lẽ ra nên
giúp ta học tập dễ dàng hơn, nhưng trên thực tế, những em bé chưa biết đọc biết
viết mới là người tiếp thu ngôn ngữ một cách dễ dàng, không phải người lớn.
Trẻ sơ sinh bắt đầu hành trình học
ngôn ngữ từ khi còn trong bụng mẹ. Khi tai và não đã phát triển đủ, trẻ sẽ điều
chỉnh phản ứng theo nhịp điệu và âm điệu của tiếng nói nghe được qua bụng mẹ.
Trong vòng vài tháng sau khi sinh, chúng bắt đầu phân tách âm thanh nói liên tục
thành từng đoạn nhỏ và học cách phát âm của các từ. Đến khi biết bò, trẻ nhận
ra rằng nhiều đoạn âm thanh ngắn là để gán nhãn cho các sự vật xung quanh mình.
Phải mất hơn một năm lắng nghe và quan sát trước khi trẻ nói được những từ đầu
tiên, còn việc đọc và viết thì diễn ra muộn hơn nhiều.
Tuy nhiên, đối với người lớn học ngoại ngữ, quá trình này thường bị đảo ngược. Họ bắt đầu bằng cách học từ vựng, thường là từ sách vở, và cố gắng phát âm chúng trước khi nắm bắt được tổng thể (các yếu tố) âm thanh của ngôn ngữ đó.
CUỘN GIẤY CỔ TIẾT LỘ CÂU CHUYỆN MỚI VỀ CÁI CHẾT CỦA PLATO – ĐÂY LÀ LÝ DO TẠI SAO BẠN NÊN HỒ NGHI VỀ NÓ
Tác giả: Bert van den Berg
![]() |
Plato và các học trò tại ngôi trường của mình, nơi ông được cho là đã được chôn cất. Nguồn ảnh: Wikimedia |
Plato thành Athens (429-347 TCN) có thể là một trong những triết gia nổi tiếng nhất của tất cả mọi thời đại. Ông là nhà tư tưởng đưa ra “thuyết về các dạng thức |forms|” và thành lập thể chế học thuật đầu tiên. Tuy nhiên, chúng ta biết rất ít về cuộc đời của ông, chẳng hạn như ông chết như thế nào, hay thậm chí ông có thể được chôn cất ở đâu.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây đầy ấn tượng về giấy cói ở Herculaneum do dự án Trường phái triết học Hy Lạp ở Ý thực hiện đã đưa ra câu trả lời mới cho những câu hỏi đó.
Những cuộn giấy cói bị than hóa, được phát hiện vào thế kỷ 18 trong một biệt thự La Mã gần Herculaneum (giữa Naples và Pompeii) và được gọi là Villa dei Papyri, chứa đựng rất nhiều sự hiểu biết mà chúng ta vẫn chưa khám phá ra.
Chủ sở hữu thư viện dường như rất quan tâm đến triết học Hy Lạp, nhất là triết học của Epicurus, và đã thu thập được một thư viện lớn các cuộn giấy cói. Nhưng việc đọc 1.800 cuộn giấy tỏ ra khá khó khăn. Mặc dù quá trình cacbon hóa của chúng sau vụ phun trào của núi lửa Vesuvius vào năm 79 CN đã bảo quản các cuộn giấy, nhưng chúng rất giòn và rất khó để bóc tách từng cuộn giấy ra.
AI ‘ĐỒNG CẢM’ LIÊN QUAN NHIỀU HƠN ĐẾN HỘI CHỨNG RỐI LOẠN NHÂN CÁCH HƠN LÀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC – NHƯNG ĐIỀU ĐÓ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ CHÚNG TA CÓ THỂ ĐỐI XỬ TÀN NHẪN VỚI MÁY MÓC
![]() |
Trong khi các AI trị liệu và AI săn sóc đang nhanh chóng giành được nhiều sự ủng hộ, thì chúng ta sẽ phạm sai lầm nếu coi hành vi của chúng mang tính đồng cảm. Nguồn ảnh: Miriam Doerr Martin Frommherz/Shutterstock |
AI từ lâu đã vượt qua con người trong các vấn đề về nhận thức vốn từng được coi là phương pháp học tối cao của trí tuệ con người như cờ vua hay cờ vây. Một số người thậm chí còn tin rằng AI vượt trội hơn khi nói đến các kỹ năng cảm xúc của con người như sự đồng cảm chẳng hạn. Điều này dường như không chỉ là một vài công ty nói quá vì lý do tiếp thị; các nghiên cứu thực nghiệm gợi ý rằng con người nhìn nhận ChatGPT đồng cảm hơn cả các nhân viên y tế trong một số tình huống sức khỏe. Điều này có nghĩa rằng liệu AI có thực sự đồng cảm với con người hay không?
Một định nghĩa về đồng cảm
Là một nhà triết học có am tường về tâm lý học, tôi định nghĩa sự đồng cảm thực sự theo 3 tiêu chuẩn như sau:
Nếu chủ nghĩa đế quốc đương đại đang đẩy chúng ta đến thảm họa, liệu văn hóa có thể chuyển hướng quỹ đạo của nó không? Chẩn đoán này một lần nữa không mấy lạc quan, ba chủ nghĩa chính thống hiện tại (tôn giáo, thương mại, công nghệ) đang vô hiệu hóa diễn ngôn phản kích và những tác động chính trị của nó. Dù sao, đây cũng là một nỗ lực để suy nghĩ về các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, cuộc cách mạng của thế kỷ 21. Tiếp tục và kết thúc Bài diễn thuyết trong buổi lễ tưởng niệm Edward Said năm 2024. |
PTKT: Dưới đây là phần hai bản dịch bài phát biểu của Etienne Balibar tại Lễ Tưởng Niệm Edward Said do Đại Học Mỹ ở Le Caire tổ chức hằng năm. Có thể tham khảo phần đầu bài diễn thuyết này tại đây.
-------------------------------------------------------------------
![]() |
| Edward Said (1935-2003) |
![]() |
| Étienne Balibar (1942-) |
Sau khi đề cập đến vấn đề chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh, rồi đến vấn đề chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản, tôi đi đến điểm thứ ba đã được thông báo: sự giao thoa giữa các vấn đề về văn hóa và chủ nghĩa đế quốc, mà tôi sẽ đề cập bằng cách cố gắng đánh giá tính thích đáng hiện tại của các phân tích của Edward Said.
Không cần phải tóm tắt chi tiết các phân tích này; chúng được biết đến nhiều và là một trong những nguồn tri thức chính của chúng ta. Nhưng tôi muốn chỉ ra lý do tại sao, theo quan điểm của tôi, vấn đề chủ nghĩa đế quốc không thể được đặt ra một cách toàn diện nếu không có loại “phê bình văn hóa” mà Said đã thực hành và truyền cảm hứng.
Đối với một nền triết học cổ đại, chủ nghĩa Khắc kỷ đang đơm bông kết trái vào năm 2023. Những trích dẫn từ triết gia phái Khắc kỷ và hoàng đế La Mã Marcus Aurelius xuất hiện các thông tin trên mạng xã hội Instagram của tôi; bạn có thể tìm thấy lời khuyên chuyên sâu từ các nhà tư tưởng Khắc kỷ hiện đại về thuật lãnh đạo, các mối quan hệ và, gần như, về bất kỳ điều gì.
Thật khó để tưởng tượng về Zeno, triết gia thành Athens, [một trong những - ND] tổ sư khai sinh phái Khắc kỷ, hoặc những đồng nghiệp Khắc kỷ người La Mã nhưng khác thời là Seneca, Marcus Aurelius và Epictetus lại tồn tại ở thế giới ngày nay. Tuy nhiên, họ vẫn ở đây, được trích dẫn và được tranh luận ở mọi ngóc ngách [trong đời sống xã hội].
Điều này một phần là vì các tác giả quốc tế như Ryan Holiday, Massimo Pigliucci và Brigid Delaney ở Úc. Mỗi tác giả này đều có cách tiếp cận của riêng họ về chủ nghĩa Khắc kỷ. Holiday, cựu giám đốc tiếp thị của hãng American Apparel, tập trung vào 4 phẩm hạnh của Khắc kỷ: can đảm, tiết chế (hay tiết độ), công chính và khôn tuệ. Pigliucci, một học giả ở New York, quan tâm tới những cách thực hành của phái Khắc kỷ. Ký giả Delaney, tác giả cuốn Các lý do để đừng lo lắng: làm sao trở thành người theo phái Khắc kỷ trong những thời hỗn độn |Reasons not to worry: how to be stoic in chaotic times|, đang tìm kiếm một khuôn khổ để điều hướng cuộc sống.
GIẢI THƯỞNG CỦA NGÂN HÀNG THỤY ĐIỂN DẠY CHÚNG TA ĐIỀU GÌ VỀ KINH TẾ?
Tác giả: Robert Boyer
Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển về kinh
tế học năm 2024 khuyến khích chúng ta nhận thức về địa lý của nghiên cứu kinh tế
học và xem xét quá trình phát triển trong hai mươi năm qua của các lựa chọn của
ủy ban Thụy Điển.
Sau khi từ bỏ lý thuyết lớn mà sáng kiến này hướng tới vào năm thành lập 1969, kể từ năm
2000, giải thưởng này đã chứng tỏ mong muốn khen thưởng các nhà nghiên cứu giải
quyết các vấn đề của thời đại chứ không chỉ những ai tạo ra các công cụ mới hoặc
phát hiện hoặc đề xuất các cơ chế phối hợp mới.
Liệu việc trao giải thưởng năm nay cho ba
nhà kinh tế đã chứng minh được tầm quan trọng của chính trị trong quá trình
hình thành các thể chế thúc đẩy thịnh
vượng và tăng trưởng có đánh dấu sự trở lại của kinh tế học thể chế, có tính lịch
sử và so sánh hay không?
Các
trường đại học Hoa Kỳ và tính hỗn hợp của những người đoạt giải

Ba người đoạt giải Nobel năm 2024 xuất thân từ những quốc gia khác nhau, nhưng tất cả đều là giáo sư tại các trường đại học danh tiếng nhất ở Bắc Mỹ. Daron Acemoglu, người gốc Thổ Nhĩ Kỳ-Armenia, là nhân vật trung tâm vì ông đã hợp tác lần lượt với James Robinson, một người Anh, đồng tác giả của một cuốn sách thành công Power and Progress (2013) và với Simon Johnson, một người Anh khác đã nhập tịch Mỹ cho cuốn Why nations fail? The origine of power, prosperity and poverty (2023).
Do đó, giải thưởng này không hoàn toàn là bất ngờ, xét đến vô số đóng góp quan trọng của Daron Acemoglu, mà còn là thực tế rằng, từ năm 2000 đến năm 2024, các nhà nghiên cứu từ các trường đại học Hoa Kỳ đã giành giải thưởng này 38 lần, Pháp 2 lần, Anh 1 lần và Na Uy 1 lần. Khoảng 83% giải thưởng được trao cho các trường đại học như MIT, Chicago và Harvard, điều này nhấn mạnh xu hướng chung được quan sát thấy từ năm 1969 đến năm 1999, khi tỷ lệ này chỉ là 73%. Có hai cách giải thích đối lập có thể giải thích sự tập trung cực độ này.
CÁC HÌNH HỌC CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC THẾ KỶ 21 (1/2)
Triết gia
Tiêu đề mà tôi đề xuất xuất phát từ một tiểu luận của Giovanni Arrighi, The Geometry of Imperialism/Hình thể của chủ nghĩa đế quốc, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1978 (cùng năm với L'Orientalisme/Đông phương luận), ngày nay ít được biết đến hơn các tác phẩm khác của ông và có một cấu tạo mang tính “cấu trúc luận” một cách kỳ lạ[2]. Tôi nghĩ đây là một đóng góp rất thú vị cho việc phân tích các biến thể của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt đến từ một trong những nhân vật chính trong cuộc thảo luận hậu mác xít về cấu hình toàn cầu của chủ nghĩa tư bản và các quyền bá chủ lịch sử kế tiếp của nó.
ADA LOVELACE: CÔNG CHÚA CỦA CÁC THUẬT TOÁN
Tác giả: Avner Bar-Hen
Giáo sư tại CNAM (Conservatoire National des Arts et Métiers)
Chương trình máy tính đầu tiên được viết bởi một phụ nữ. Bị lãng quên rất lâu, ngày nay Ada Lovelace đã khôi phục sự công nhận xứng đáng với tư cách là người báo hiệu của tin học. Margaret Sarah Carpenter/Wikimedia Commons
Bài báo này, được viết chung bởi Quentin Lazzarotto là nhà làm phim khoa học, và Avner Bar-Hen, Giáo sư toán học tại Conservatoire des arts et métiers (CNAM) là một phiên bản mới của chân dung của Ada Lovelace, được công bố trong tác phẩm của họ: Dingue de maths! (nhà xuất bản EPA).
Ada Lovelace, một phụ nữ người Anh hăng say, ngày nay tên của bà được kết hợp với ngôn ngữ lập trình Ada, là một trong những nhân vật quan trọng trong lịch sử của ngành tin học. Hoạt động trong thế kỷ XIX, lúc mà toán học được xem là lĩnh vực của đàn ông, bà hợp tác với nhà toán học Charles Babbage để phát triển một máy tính toán. Trong khi làm như vậy, bà hiểu một cách trực giác vai trò của các thuật toán. Câu chuyện cảm động của bà thật đẹp vì nó là ngẫu nhiên và không được biết đến.
Ada King, nữ bá tước Lovelace (khoảng năm 1840). Alfred Edward Chalon/Wikimedia
Là con gái của nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Lord Byron, ngày nay Ada Lovelace được xem là người phát minh ra thuật toán tin học đầu tiên. Trong thời đại công nghiệp phát triển, lúc máy móc mê hoặc con người, thì toán học không thoát khỏi quá trình cơ giới hoá.
Trong những năm 1830, Ada Lovelace hợp tác với nhà toán học người Anh Charles Babbage để triển khai máy Babbage, biểu hiện đi trước những máy điện toán hiện đại. Nhất là bà đã viết một thuật toán nhằm để được máy Babbage thực hiện, thuật toán này sẽ được xem như chương trình tin học đầu tiên trong Lịch sử.
CHARLES PÉPIN: “LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHÔNG TRỞ THÀNH MỘT LÃO GIÀ BẢO THỦ?”
BIEN-ÊTRE. “Làm thế nào để không trở thành một lão già bảo thủ?” có thể là nhan đề phụ của tiểu luận của Charles Pépin. Triết gia này (cuối cùng) cũng kêu gọi sống hòa hợp với quá khứ của mình.
Julie Malaure ghi lại

Trong một thời gian dài giáo sư triết học Charles Pépin đã dùng quá khứ làm xương sống cho việc giảng dạy của mình. Ông chất vấn cách suy nghĩ về ký ức, lịch sử, lịch sử của ông. Có cần dùng quá khứ làm công cụ để xây dựng tương lai, cùng lắm là lựa chọn các ký ức, như Nietzsche từng chủ trương?
Và rồi Charles Pépin, một triết gia thời thượng, được 50 tuổi. Khi ở nửa cuộc đời, ông luôn bận tâm về quá khứ, nhắc lại nhiều lần quá khứ vốn đe dọa tương lại của mình, vị giáo sư đồng thời là nhà văn tiểu luận, người nêu lên tiếng nói của mình trên đài Radio France trong chương trình Sous le soleil de Platon - Dưới mặt trời của Platon -, đã có tham vọng viết một quyển sách về “sống tốt đẹp với quá khứ của mình”. Làm thế nào để “chấp nhận quá khứ của mình, làm hòa với nó, chào đón nó”. Tóm lại là làm thế nào để già đi một cách tử tế, hay chính xác hơn, như ông nói với chúng ta: “Làm thế nào để không trở thành một lão già bảo thủ?”
![]() |
Chính vì vậy mà sự khám phá của nhà triết học theo trường phái Freud-Lacan đã chuyển hướng. Dưới ánh sáng của những phát hiện mới đây trong lĩnh vực khoa học thần kinh, đối diện với những kết quả của các phương pháp trị liệu mới đối với 85 triệu nơ-ron của chúng ta, đã xuất hiện một hy vọng mới. “Quá khứ không còn là cố định, ta có thể xử lý lại nó, diễn giải lại, can thiệp vào nó từ bên trong”, ông giải thích với chúng ta như vậy. Trong tiểu luận của ông: Vivre avec son passé - Sống với quá khứ của mình - (Nhà xuất bản Allary, sẽ phát hành ngày 7 tháng 9), Charles Pépin, “theo trường phái Nietzsche trước đây, rồi trở thành người theo trường phái Spinoza và Freud”, đề nghị chúng ta, với quá khứ của cá nhân chúng ta, học cách làm động tác mà các vận động viên rugby (bóng bầu dục) thực hiện khi chuyền bóng về phía sau: “Tiến về phía trước đồng thời quay nhìn lui lại”. Gặp gỡ.
CẦN MỘT THAY ĐỔI
THÔNG MINH
Nguyễn Xuân Xanh (2022)
Muốn thay đổi không đủ, kể cả làm để thay
đổi cũng không đủ. Chúng ta phải muốn nó và làm nó với sự thông minh.
—Lionel Trilling
Những giáo điều của quá khứ yên ả không
thích hợp với hiện tại đầy giông bão. Cơ hội bị chồng chất với những khó khăn,
và chúng ta phải vươn lên.
—Abraham
Lincoln
THAY ĐỔI THÀNH CÔNG VÀ THAY ĐỔI THẤT BẠI
Trên
thế giới có những thay đổi thành công cũng như thất bại. Thực tế, thế giới đã
trải qua một loạt thay đổi quan trọng có thể nói thành công và định hình cuộc
sống nhân loại hôm nay. Đó là sự ra đời đại học trung cổ thế kỷ 11, 12, cuộc
cách mạng khoa học hiện đại thế kỷ 17, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
thế kỷ 18, lần thứ hai thế kỷ 19, cuộc cách mạng khoa học đầu thế kỷ 20, cuộc
cách mạng ICT cuối thế kỷ 20, và bây giờ là cuộc cách mạng số. Những cuộc cách
mạng đó đều thành công nghĩa là có những đóng góp quan trọng
thúc đẩy tiến trình văn minh và phát triển của nhân loại.
Trong
phạm trù quốc gia, có những quốc gia cải cách thành công bứt phá, một số ít, và
những quốc gia không thành công như thế, số nhiều. Thủ tướng đầu tiên của Nhật
Bản Minh Trị Itō Hirobumi đã từng cảnh báo:
Chính
sách quốc gia của Nhật Bản “mở cửa đất nước” không chỉ là một hành động mang
tính ngoại giao. Nhiều quốc gia trên thế giới mở rộng cửa nhưng vẫn tiếp tục
thực hành các tập quán man di, và bất lực trong cải cách, cũng như tu chỉnh các
tập quán đó để có thể tiến lên trình độ văn minh.
Có lẽ ông muốn nói Trung Quốc lúc đó. Trung Quốc tiếp xúc với phương Tây lâu hơn Nhật Bản, nhưng vẫn tự hào “cách vật trí tri” của họ là ăn đứt khoa học phương Tây nên họ không chịu học, và không thay đổi, về khoa học lẫn thể chế, trong khi đó Nhật Bản chấp nhận hệ quy chiếu của phương Tây ngay từ đầu qua khẩu hiệu Bunmei Kaika (Văn minh – Khai sáng), Fukoku Kyōhei (Dân giàu Quân mạnh), và Shokusan Kōgyō (Khuếch trương công nghiệp) để thay đổi toàn diện quốc gia, từ giáo dục, khoa học đến công nghiệp hóa, thể chế và cấu trúc xã hội. Họ cũng xóa bỏ giai cấp samurai và sự độc quyền lãnh đạo của họ, để mọi người dân đều có thể tham gia vào việc trị nước và xây dựng. Vì thế họ đã có những bước đi thần kỳ, với sức mạnh của cả dân tộc, mà cuộc đánh bại lần lược Trung Hoa và Nga Hoàng là những hệ quả tất yếu.