21.7.26

Ngày 4 tháng bảy: một ngày được bịa ra, một huyền thoại được xây dựng, một câu chuyện gây tranh cãi

NGÀY 4 THÁNG BẢY: MỘT NGÀY ĐƯỢC BỊA RA, MỘT HUYỀN THOẠI ĐƯỢC XÂY DỰNG, MỘT CÂU CHUYỆN GÂY TRANH CÃI

Tác giả: Jérôme Viala- Gaudefroy

Chuyên gia về chính trị nước Mỹ, Trường Sciences Po

Tuyên ngôn độc lập, tranh của John Trumbull, được vẽ từ năm 1815 đến 1817, thường được dùng để minh họa ngày nước Mỹ giành độc lập. Một chỉ dấu của sự phức tạp của ký ức về sự kiện này: thực ra bức tranh không nêu ra chính việc ký kết, mà là việc trình bày một dự án của tuyên bố này trước Đệ nhị Quốc hội lục địa bởi một Ủy ban 5 người (John Adams, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, Robert Livingston và Roger Sherman), vào ngày 28 tháng sáu năm 1776. John Trumbull (1756-1843), Điện Capitole của Mỹ

Mỗi quốc gia đều có các huyền thoại dựng nước của mình. Trong trường hợp của nước Mỹ, huyền thoại quan trọng nhất chắc hẳn là huyền thoại ngày 4 tháng Bảy. Nhưng trong ngày này – vả lại trong thực tế không phải là ngày tuyên bố độc lập! - chính xác là người ta làm lễ kỷ niệm điều gì ở bên kia bờ Đại Tây Dương? Trong suốt hai trăm năm mươi năm, những câu trả lời đa dạng và trái ngược nhau đã được đưa ra cho câu hỏi này. Năm nay, những lễ hội hào nhoáng do Donald Trump chủ xướng trước hết là nhắm đến đề cao chính cá nhân ông và tầm nhìn của ông về nước Mỹ.

Nền độc lập của Mỹ đã không được tuyên bố vào ngày 4 tháng Bảy năm 1776. Nó được tuyên bố vào ngày 2 tháng Bảy. Ngày 4 tháng 7 đã xảy ra điều gì? Quốc hội đã thông qua một văn bản. Một văn bản sẽ trở thành, trong hai thế kỷ rưỡi, một tài liệu thiêng liêng nhất của một quốc gia không theo bất kỳ một quốc giáo nào. Ngày 4 tháng Bảy là một câu chuyện chứ không chỉ là một ngày.

Một câu chuyện chứ không chỉ là một ngày

Ngày 3 tháng Bảy năm 1776, John Adams, một trong những người Cha lập quốc chính, viết cho vợ ông là bà Abigail rằng ông vừa trải qua “một giai đoạn đáng ghi nhớ nhất của lịch sử nước Mỹ”, - và rằng ngày thứ nhì của tháng Bảy sẽ mãi mãi được tưởng nhớ. Ông đã lầm lẫn hai ngày.

Ngày 4 tháng Bảy không kỷ niệm việc bỏ phiếu tán thành độc lập mà kỷ niệm sự thông qua phiên bản cuối cùng của một văn bản chủ yếu do Thomas Jefferson soạn thảo: Bản Tuyên ngôn độc lập. Ít có quốc gia nào kỷ niệm một văn bản với một tầm quan trọng đến thế. Đúng là văn bản này trực tiếp liên quan đến những giá trị cốt lõi của nền Cộng hòa: tự do, bình đẳng, các quyền tự nhiên và sự đồng thuận của công dân.

Tuy nhiên, bản tuyên ngôn không ngay lập tức trở thành một sự kiện quốc gia. Nó được đọc công khai tại Philadelphia ngày 8 tháng 7, trước quân đội Washington ngày 9 tháng 7, và đến Georgia một tháng sau đó, và chỉ được ký bởi phần lớn các đại biểu ngày 2 tháng 8, và chỉ được biết đến ở Luân Đôn vào cuối mùa hè. Về sau, tuyên ngôn được thiêng liêng hóa nhờ vào một sự trùng hợp: Cả hai, Jefferson và Adams đều từ trần ngày 4 tháng 7 năm 1826, 50 năm chính xác từng ngày sau Tuyên ngôn độc lập. Sự trùng hợp này ngay lập tức được xem như một dấu hiệu của đấng siêu nhiên, được nâng lên thành phép lạ về sáng lập. Do đó, lễ quốc khánh là một sáng tạo về văn hóa hơn là sự thể hiện tự nhiên một sự kiện.

Giữa câu chuyện gây tranh cãi và biểu tượng của thống nhất

Mặt khác, lễ kỷ niệm ngày 4 tháng Bảy lập tức trở thành một chiến trường giữa các phe phái. Ngay từ những năm 1790, lễ kỷ niệm này đã gây ra những cuộc đối đầu giữa những người ủng hộ chế độ liên bang, ủng hộ một chính phủ trung ương mạnh, và những thành viên cộng hòa-dân chủ, vốn bảo vệ một nền cộng hòa phi tập trung hơn, mỗi phe đều tìm cách chiếm lấy di sản cách mạng để hợp pháp hóa tầm nhìn của mình về quốc gia.

Sau đó, những nô lệ được tự do, những người theo chủ nghĩa bãi nô – bắt đầu bởi Frederick Douglass với bài diễn văn nổi tiếng của ông “What to the Slave is the Fourth of July? (1852) – Ngày 4 tháng Bảy có ý nghĩa gì đối với người nô lệ? –, rồi đến lượt những người đấu tranh cho quyền bầu cửnhững cộng đồng nhập cư dùng những biểu tượng sáng lập để phản đối việc loại trừ họ khỏi câu chuyện chính thống.

“Đối với người nô lệ Mỹ, ngày 4 tháng 7 của quý vị có ý nghĩa gì?”; Tôi xin trả lời: đó là ngày, hơn bất kỳ ngày nào khác trong năm, phơi bày trước mắt người nô lệ sự bất công trắng trợn và sự tàn bạo mà anh ta luôn là nạn nhân; Đối với anh ta, lễ kỷ niệm của quý vị chỉ là một trò giả dối. Tự do mà quý vị tự hào chỉ là một thứ giấy phép vô đạo; Sự vĩ đại của quốc gia quý vị chỉ là lòng tự phụ quá đáng; Tiếng reo vui của quý vị là trống rỗng và vô cảm; Sự lên án bọn bạo chúa của quý vị chỉ là sự trơ tráo xấc xược; Những kêu đòi về tự do và bình đẳng của quý vị chỉ là một sự nhạo báng rỗng tuếch; Những lời cầu nguyện, những bài thánh ca, những bài giảng và những lễ tạ ơn của quý vị, cùng với mọi sự phô trương tôn giáo và sự long trọng của quý vị, đối với người nô lệ chẳng qua chỉ là sự khoa trương rỗng tuếch, lừa dối, giả trá, bất kính và đạo đức giả — một tấm màn mỏng để che đậy những tội ác làm ô nhục cả một dân tộc man rợ. Không có một quốc gia nào trên trái đất phạm phải những tập tục tàn ác và đẫm máu hơn dân chúng của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, ngay trong lúc này”. — Frederick Douglass, (1852). Historianspeaks.org

Chính những biểu tượng này cũng là những công cụ hội nhập, thậm chí là đồng hóa. Vào đầu thế kỷ XX, những buổi lễ nhập quốc tịch tập thể được tổ chức vào ngày 4 tháng Bảy tiếp nhận một cách tượng trưng những thành viên mới vào cộng đồng quốc gia thông qua những nghi thức “Mỹ hóa”: diễu hành, diễn ngôn công dân, quốc kỳ hiện diện khắp nơi.

Một nghi lễ của tôn giáo dân sự Mỹ

Theo thời gian, ngày 4 tháng Bảy được xác lập như một trong những nghi lễ chính của một “tôn giáo dân sự” thực sự - một khái niệm do Rousseau tạo nên, và được nhà xã hội học Robert Bellah ứng dụng vào Mỹ trong những năm 1960. Tôn giáo này có những văn bản thiêng liêng (Bản Tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp), những vị thánh (George Washington, Abraham Lincoln), những nghi lễ (Ngày 4 tháng Bảy, các lễ thụ phong), những nơi hành hương (Independence Hall, Gettysburg, hay còn là núi Rushmore), các đền đài (từ điện Capitole đến đài tưởng niệm Lincoln), các di vật (Bản gốc Hiến pháp, Liberty Bell – Chuông Tự do –) và một niềm tin chung vào sứ mệnh lịch sử và đạo đức của quốc gia.

Do đó, ngày 4 tháng Bảy được xem như một nghi lễ rất quan trọng theo quan niệm của Durkheim, định kỳ làm sống lại cảm thức thuộc về cộng đồng quốc gia trong lòng một xã hội vô cùng đa dạng.

Trong bức tranh châm biếm này năm 1902 về lễ kỷ niệm ngày 4 tháng Bảy, với chú thích “Một báo động giả ngày 4 tháng Bảy”, Chú Sam nói với Nữ Thần Hòa Bình: “Mọi sự tốt đẹp. Không có đánh nhau. Tiếng động mà bà nghe thấy chỉ là gia đình tôi đang làm lễ hội!” Puck magazine, 2 tháng Bảy 1902, Thư viện Quốc hội

Mỗi mùa hè, một quốc gia vốn tự định nghĩa bởi các ý niệm – bình đẳng, tự do – diễn lại cảnh sự ra đời của chính mình. Nước Mỹ, mà căn tính không dựa trên một lãnh thổ thuần nhất cũng như một nguồn gốc chung, tạo thành một nguyên mẫu của “cộng đồng tưởng tượng” được Benedict Anderson nâng lên thành lý thuyết: các quốc gia không tồn tại trước khi có những câu chuyện tự kể về mình, chúng được xây dựng và tồn tại lâu dài nhờ những huyền thoại, biểu tượng và các nghi lễ chung của mình, giúp cho hàng triệu con người được thấy mình là thành viên của cùng một cộng đồng lịch sử và chính trị.

Một truyền thống tổng thống hàng trăm năm

Với tư cách là hiện thân của quốc gia, các tổng thống đã nắm lấy những thách thức của lễ hội này một cách trọn vẹn: đào sâu trong kho tàng huyền thoại những yếu tố phục vụ cho chính sách trong thời điểm của họ, nhưng không vì vậy mà hoàn toàn rời xa kho tàng này. Từ đó có ảo tưởng về một truyền thống liên tục, thế nhưng đó là một sự tái tạo thường trực.

Lễ kỷ niệm 100 năm độc lập vào năm 1876, dưới đời tổng thống Ulysses S. Grant, kết hợp hòa giải sau cuộc nội chiến với lễ mừng nước Mỹ công nghiệp hướng về tương lai.

George W. Bush phát biểu trước binh sĩ và gia đình họ ngày thứ ba 4 tháng Bảy 2006, tại một buổi lễ đánh dấu Ngày độc lập tại Fort Bragg, North Carolina. Paul Morse/Maison Blanche

Lễ kỷ niệm 200 năm ngày độc lập vào năm 1976, do Gerald Ford tổ chức sau chiến tranh Việt Nam và Watergate, mang dáng dấp một nghi lễ chữa lành quốc gia. Sau đó Ronald Reagan tái khẳng định chủ nghĩa ngoại lệ kiểu Mỹ với sứ mệnh toàn cầu, được nâng lên với phép ẩn dụ “Thành phố trên đồi”, đặc biệt là vào dịp Liberty Weekend - Kỷ niệm 100 năm tượng Nữ Thần Tự do - năm 1986, trong khi George W. Bush thì kích hoạt lại, sau ngày 11 tháng Chín, một tinh thần ái quốc thời chiến dựa trên sự bảo vệ tự do và sứ mệnh toàn cầu của Mỹ.

Cuối cùng, Bill Clinton và Barack Obama nhấn mạnh nhiều hơn đến sự đa dạng và hòa nhập, mà không bao giờ xa rời nền tảng chung, như được chứng tỏ qua quy tắc chung của các buổi lễ nhập quốc tịch được tổ chức dưới thời tổng thống Obama.

Một lễ kỷ niệm 250 năm độc lập khác thường

Donald Trump không sáng tác ra nghi thức cũng như huyền thoại. Quyết chí của ông muốn biến ngày 4 tháng Bảy thành một thời khắc quan trọng của quốc gia không có gì mới mẻ, cũng không hơn gì phép ẩn dụ của ông về chủ nghĩa ngoại lệ Mỹ hay về sứ mệnh được Thiên Chúa giao phó, vốn đã được Reagan hay Bush vận dụng.

Điểm mà Trump cắt đứt rõ ràng với truyền thống tổng thống, đó là bằng cách làm cho câu chuyện trở nên cứng rắn hơn để tập trung nó vào chính cá nhân ông, bằng cách quân sự hóa nó và biến nó thành một công cụ đối đầu chính trị. Lễ kỷ niệm quốc gia không còn chỉ có chức năng tôn vinh đất nước: từ nay lễ này được dùng để chỉ ra những người có thể đe dọa đất nước và những người sẽ được kêu gọi để cứu nước.

Trong số những đổi mới được quyết định nhân dịp lễ kỷ niệm 250 lập quốc Hoa Kỳ có việc sản xuất một loạt hộ chiếu mang chân dung của Donald Trump. Tài khoản của Donald Trump/Truth Social

Diễn biến này đã lộ ra ngay từ sự kiện Salute to America – Lời chào tới nước Mỹ - ngày 4 tháng Bảy 2019, được tổ chức dưới Đài kỷ niệm Lincoln với các chiến xa, máy bay tiêm kích và duyệt binh, rồi trong diễn văn của ông tại Mont Rushmore ngày 3 tháng Bảy 2020, ông tố giác một âm mưu văn hóa tẩy chay (cancel culture) đe dọa lịch sử và bản sắc của nước Mỹ.

Năm 2026, logic này trở nên triệt để hơn: những lễ hội kỷ niệm 250 năm độc lập, chung quanh Hội chợ nước Mỹ vĩ đại (Great American State Fair, pha trộn hội chợ giải trí và triển lãm tôn vinh các tiểu bang hợp thành nước Mỹ), được tổ chức tại Washington từ ngày 25 tháng sáu đến 10 tháng Bảy và chương trình Freedom 250, kết hợp dạ hội và võ thuật hỗn hợp, giải đua xe hơi và duyệt binh hải quân, thiên về làm cho chính lễ kỷ niệm thành một đối tượng đối đầu giữa các phe phái.

Đọc thêm: Pourquoi Trump installe une cage de combat devant la Maison-Blanche – Tại sao Trump lắp đặt một một cái lồng võ đài trước Nhà Trắng

Còn hơn thế, bộ mặt của “kẻ thù trong nước” – giới tinh hoa, đại học, truyền thông, những người chống đối – từ nay chiếm một vị trí trung tâm trong câu chuyện của Trump. Cái mới không phải là dùng lễ kỷ niêm cho các mục đích chính trị, mà biến lễ kỷ niệm thành một công cụ rõ ràng để huy động phe phái ủng hộ, được thiết kế chung quanh hình ảnh của một lãnh tụ như là người duy nhất có khả năng khôi phục sự vĩ đại của quốc gia.

Lễ kỷ niệm 250 năm độc lập diễn ra trong một bối cảnh khủng hoảng quốc gia không phải là điều mới: năm 1876 là sự tái thiết sự thống nhất quốc gia đầy khó khăn, còn mong manh 11 năm sau cuộc nội chiến đẫm máu; năm 1976 mang dấu ấn của những hậu quả của vụ bê bối Watergate với cái kết là Nixon từ chức hai năm trước đó.

Điều khác biệt của năm 2026, là định hướng của câu chuyện. Nơi mà các lễ kỷ niệm trước hướng đất nước tới tương lai thì Trump chủ yếu hướng lễ kỷ niệm của ông đến một quá khứ đầy ảo tưởng. Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại, Nước Mỹ trên hết, một tham chiếu về một “thời kỳ vàng son mới” được lặp đi lặp lại: tất cả những khẩu hiệu này giả định có một quá khứ vĩ đại cần được khôi phục. Điều mới không hẳn nằm ở chính lòng hoài cổ, mà ở vị trí trung tâm của nó trong việc xác định dự án chính trị.

Ngay cả khi Trump huy động một tưởng tượng vị laitrí tuệ nhân tạo, chinh phục không gian –, cũng không nên nhầm lẫn: tương lai mà ông ta phác họa không mở ra điều gì thực sự mới mẻ; nó chỉ xác quyết rằng nước Mỹ, ngay từ buổi đầu lập quốc, đã được định sẵn cho sự vĩ đại. Đó là một tự sự phản động theo đúng nghĩa đen: một tương lai ngoái nhìn về quá khứ.

Cuối cùng, điều mà lễ kỷ niệm 250 năm bộc lộ, là cuộc tranh luận vượt xa sự đối đầu giữa phe dân chủ và phe cộng hòa: nó liên quan đến một vấn đề căn bản hơn. Chính xác là người ta kỷ niệm gì khi người ta làm lễ kỷ niệm nước Mỹ?

Câu chuyện của Trump không chỉ nhắm đến đnh nghĩa quốc gia là gì; nó cũng hướng đến xác đnh rõ ai sẽ là người tiếp nhận chính đáng. Đàng sau sự viện dẫn một thời vàng son đã mất, là một hình ảnh nhất định của nước Mỹ được phác họa – da trắng, theo Cơ Đốc giáo, bảo thủ về mặt xã hội –, mà những biến chuyển về nhân khẩu và văn hóa gần đây có thể đã đe dọa bản sắc lịch sử. Cuộc tranh luận không chỉ bàn về nước Mỹ là gì, mà về ai có thể tự cho mình sẽ thể hiện nó một cách hợp pháp.

Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư

Nguồn:Le 4 Juillet: une date inventée, un mythe construit, un récit disputé, The Conversation, 1.7.2026.

Print Friendly and PDF