18.4.26

Liệu cuộc khủng hoảng năng lượng này có ảnh hưởng tồi tệ hơn cả COVID lên nền kinh tế toàn cầu?

LIỆU CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂNG LƯỢNG NÀY CÓ ẢNH HƯỞNG TỒI TỆ HƠN CẢ COVID LÊN NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU?

Alex_An_Der/Shutterstock

Bất chấp các báo cáo về các cuộc đàm phán giữa Mỹ và chính quyền Iran, eo biển Hormuz về cơ bản vẫn bị chặn đối với hầu hết tàu chở dầu, chỉ một số ít được phép đi qua. Kết quả là thị trường toàn cầu mất khoảng 11 triệu thùng dầu thô và chất lỏng dầu mỏ mỗi ngày. Con số này chiếm hơn 10% nguồn cung toàn cầu.

Thoạt nhìn, mức gián đoạn 10% có thể chưa phải là thảm họa. Nhưng trong thị trường dầu mỏ, ngay cả mức mất cân bằng 10% giữa cung và cầu cũng có thể gây ra những tác động kinh tế rất lớn.

Sẽ rất hữu ích nếu so sánh hiện trạng này với đỉnh điểm đại dịch COVID hồi năm 2020 để hiểu được quy mô của sự gián đoạn này. Trong thời gian phong tỏa toàn cầu, đường sá vắng vẻ, máy bay nằm im và các bến xe buýt, ga tàu hỏa vắng bóng người trở nên bình thường khi hoạt động đi lại và kinh tế sụp đổ. Vào thời điểm đó, nhu cầu dầu mỏ toàn cầu giảm khoảng 8 triệu thùng/ngày, cú sốc nhu cầu lớn nhất trong lịch sử.

Tình hình hiện nay thì ngược lại. Thay vì sự sụp đổ về nhu cầu, thế giới đang trải qua một cú sốc lớn về nguồn cung. Nhưng tác động đến cuộc sống hằng ngày có thể đi đến cảnh tương tự: giảm đi lại, chi phí vận chuyển tăng cao, hoạt động kinh tế chậm lại và áp lực lên ngân sách hộ gia đình.

Lý do là cả nguồn cung và cầu dầu mỏ đều rất kém linh hoạt trong ngắn hạn. Mọi người vẫn cần lái xe đi làm, hàng hóa vẫn cần được vận chuyển và máy bay vẫn cần nhiên liệu. Khi nguồn cung giảm đột ngột, giá cả phải tăng đáng kể để ép cầu giảm xuống.

Print Friendly and PDF

16.4.26

OpenAI vào Thị trường chứng khoán: liệu các thị trường có thể điều khiển ChatGPT và trí tuệ nhân tạo?

OPENAI VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: LIỆU CÁC THỊ TRƯỜNG CÓ THỂ ĐIỀU KHIỂN CHATGPT VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO?

Tác giả: Frédéric Fréry

Giáo sư về chiến lược tại CentraleSupélec, ESCP Business School

Các văn phòng của OpenAI tại San Francisco (Califfornia) khi công ty được thành lập năm 2015.HaeB/WikimediaCC BY-SA

OpenAI, công ty sáng tạo ra ChatGPT, có lẽ sắp vào Thị trường chứng khoán. Đàng sau thao tác tài chính này còn có điều quan trọng hơn là huy động vốn: chuyển hướng một dự án được thiết kế vì lợi ích chung ngã về một logic của thị trường. Vào lúc trí tuệ nhân tạo trở thành một cơ sở hạ tầng cốt tử, một câu hỏi được đặt ra: có thể nào ta chỉ giao phó sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cho duy nhất các thị trường tài chính?

OpenAI ra đời năm 2015 trong bối cảnh có sự lo lắng ngày càng tăng chung quanh trí tuệ nhân tạo. Đáng chú ý là được thành lập bởi Sam Altmen và Elon Musk, OpenAI đã thiết lập một cơ cấu phi lợi nhuận. Mục tiêu rõ ràng của OpenAI là phát triển một trí tuệ nhân tạo “ích lợi cho nhân loại” và tránh việc nó bị thâu tóm bởi vài tác nhân thống trị. Tham vọng này làm cho nó khác với các đại doanh nghiệp công nghệ như Google, Microsoft, Meta hay Amazon, vốn được xây dựng dựa trên các mô hình chủ sở hữu và các hiệu ứng độc quyền.

Trái lại, OpenAI muốn bảo vệ lợi ích chung bằng cách coi trọng tìm kiếm mở và phổ biến kiến thức. Thế nhưng, định hướng này mà biểu trưng là tên của nó, OpenAI (“trí tuệ nhân tạo mở”), đã nhanh chóng vấp phải một ràng buộc về cấu trúc, chi phí khổng lồ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh.

Print Friendly and PDF

14.4.26

Xứ sở của sự giám sát công nghệ, “Giám sát và trừng phạt ở Trung Quốc”

XỨ SỞ CỦA SỰ GIÁM SÁT CÔNG NGHỆ, “GIÁM SÁT VÀ TRỪNG PHẠT Ở TRUNG QUỐC”

Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Ảnh bìa: Jean-Philippe Béja tại nhà riêng. DR.

Trong cuốn sách mới nhất của mình, “Giám sát và Trừng phạt ở Trung Quốc: Trại lao động cải tạo và Giám sát công nghệ từ năm 1946 đến nay”, do nhà xuất bản La Découverte phát hành, nhà Hán học người Pháp Jean-Philippe Béja đã tiết lộ mức độ mà công nghệ cho phép chính quyền Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự hiện diện khắp nơi của việc giám sát người dân. Ông nhấn mạnh: “Các trại không biến mất cùng với cái chết của Mao Trạch Đông. Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, trại lao động cải tạo (Laogai) đã được sử dụng ở Tân Cương để biến người Duy Ngô Nhĩ thành ‘công dân kiểu mẫu’. Được hỗ trợ bởi một hệ thống giám sát công nghệ quy mô lớn, nó vẫn là một công cụ thiết yếu của Đảng trong suốt tám mươi năm qua.

PHỎNG VẤN JEAN-PHILIPPE BÉJA

Sinh năm 1949, Jean-Philippe Béja tốt nghiệp Viện Nghiên cứu Chính trị Paris (Sciences Po), Đại học Paris VII (Nghiên cứu Trung Quốc), Trung tâm Đào tạo Báo chí (CFJ) và Đại học Liêu Ninh (Văn học Trung Quốc). Với bằng tiến sĩ Nghiên cứu Châu Á tại Đại học Paris VII, ông gia nhập Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (CERI) năm 1975. Ông từng là giám đốc nghiên cứu tại CNRS (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp) và giám đốc khoa học của Trung tâm Nghiên cứu của Pháp về Trung Quốc Đương đại tại Hồng Kông từ năm 1993 đến 1997.

Là người đồng sáng lập tạp chí *Perspectives chinoises*, ông hiện là giám đốc nghiên cứu danh dự tại CERI. Công trình nghiên cứu của ông tập trung vào mối quan hệ giữa công dân và quyền lực tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đặc biệt là phong trào dân chủ. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm, trong đó có *Đi tìm bóng dáng Trung Quốc. Phong trào dân chủ ở Trung Quốc (1919-2004), nhà xuất bản Seuil, “Trận động đất Bắc Kinh” với Michel Bonnin và Alain Peyraube, lời tựa của Simon Leys, nhà xuất bản Gallimard.

Editions La Découverte, 318 pages, 23 Euros.

Lý do sâu xa nào khiến Tập Cận Bình coi xã hội dân sự và mọi thứ cấu thành nên nó là mục tiêu ưu tiên ngay từ năm 2012?

Print Friendly and PDF

12.4.26

Vì sao Sigmund Freud đang trở lại mạnh mẽ trong thời đại của chủ nghĩa độc tài và trí tuệ nhân tạo

VÌ SAO SIGMUND FREUD ĐANG TRỞ LẠI MẠNH MẼ TRONG THỜI ĐẠI CỦA CHỦ NGHĨA ĐỘC TÀI VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO?

Tác giả: Carolyn Laubender

Old Malvina – Chân dung của Thiên tài

Tâm phân học hiện đang trải qua một “khoảnh khắc” trở lại đầy ấn tượng. Các tài khoản Instagram chuyên về lý thuyết của Freud đã thu hút gần 1,5 triệu người theo dõi. Các chương trình truyền hình như Liệu pháp cặp đôi của Orna Guralnik trở nên cuốn hút tới mức người xem khó có thể rời mắt. Các bài bình luận trên tờ The New York Times, tờ The London Review of Books, tờ Harper's, tờ New Statesman, tờ The Guardian và tờ Vulture đều tuyên bố sự hồi sinh của tâm phân học. Như Joseph Bernstein của tờ New York Times nhận xét: “Sigmund Freud đang tận hưởng một sự trở lại đầy ấn tượng.”

Với nhiều người, sự hồi sinh này là điều bất ngờ. Trong nửa thế kỷ qua, tâm phân học – vừa là phong trào trí thức vừa là phương cách thực hành trị liệu do Sigmund Freud sáng lập vào năm 1900 tại Vienna – đã bị xa lánh và bị coi thường trong nhiều giới khoa học. Đặc biệt là trong thế giới của các nước nói tiếng Anh, sự trỗi dậy của tâm lý học hành vi cùng với sự bùng nổ của ngành công nghiệp dược phẩm đã đẩy các liệu pháp trò chuyện dài hạn như tâm phân học ra bên lề.

Print Friendly and PDF

10.4.26

Tại sao khó phòng ngừa sự ngăn chặn vận chuyển dầu mỏ qua Eo biển Hormuz

TẠI SAO KHÓ PHÒNG NGỪA SỰ NGĂN CHẶN VẬN CHUYỂN DẦU MỎ QUA EO BIỂN HORMUZ?

Tác giả: Rebecca F. ElliottVivian Nereim

Chú thích: Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế IAE, trước khi có chiến tranh với Iran, 20 triệu thùng dầu của các nước khu vùng vịnh hàng ngày đi qua eo biển Hormuz, chiếm 20% lượng tiêu dùng của thế giới, giờ chỉ còn không đáng kể; sản xuất của khu vực cũng giảm xuống ít nhất một nửa so với trước đây. Chỉ có Saudi Arabia là có thể chuyển dầu, với mức độ 3.5-5.5 triệu thùng một ngày (khoảng 17-27% cung của các nước vùng vịnh), qua đường ống để chuyển qua Biển Đỏ (Red Sea) tới khách hàng. Sản xuất khí đốt của khu vực, chủ yếu là của Qatar và Các Tiểu vương quốc Á rập Thống nhất (UAE), 90% là cung cấp cho các nước Á châu, cũng chỉ còn 20% so với trước đây.

Đường ống dẫn dầu của Saudi Arabia từ Vịnh Trung Đông (cũng gọi là Vịnh Ba Tư) sang Biển Đỏ (Red Sea).
Bản đồ Diễn Đàn thêm vào để bạn đọc dễ theo dõi.

Yếu tố địa lý và những sự đối địch trong khu vực đã ngăn cản các quốc gia vùng Vịnh tìm ra một giải pháp thay thế thực sự cho eo biển này—nơi mà cuộc chiến với Iran đã khiến gần như tê liệt.

Trong số tất cả những rủi ro mà hệ thống năng lượng toàn cầu đã phải đối mặt từ lâu, không có rủi ro nào lớn hơn hay được biết đến rộng rãi hơn nguy cơ eo biển Hormuz bị đóng cửa.

Lối đi hẹp dẫn ra khỏi Vịnh Ba Tư (Persian Gulf) này vừa mang tính sống còn — đóng vai trò là cửa ngõ duy nhất kết nối lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên khổng lồ với phần còn lại của thế giới — lại vừa cực kỳ dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công.

Print Friendly and PDF

8.4.26

Điếu văn bên quan tài của Jürgen Habermas

ĐIẾU VĂN BÊN QUAN TÀI CỦA JÜRGEN HABERMAS

Tác giả: Nhà thần học Friedrich Wilhelm Graf

Báo Frankfurter Allgemeine Zeitung (F.A.Z.) MITTWOCH, 1. APRIL 2026 · NR. 77 · SEITE N 3

Nguyễn Xuân Xanh dịch

Một tôn giáo duy lý chỉ tồn tại khi thế giới quan của nó chứa đựng những yếu tố duy lý thúc đẩy sự nhân văn hóa của nhân loại. Ý niệm về sự phán xét của thần thánh là một trong những yếu tố đó.

— Friedrich Wilhelm Graf

Jürgen Habermas (sinh ngày 18 tháng 7, 1929, Düsseldorf — mất ngày 14 tháng 3, 2026, Starnberg, gần Munich)

Jürgen Habermas, sinh năm 1929, học triết học, lịch sử, tâm lý học, văn học và kinh tế học tại Göttingen, Zurich và Bonn. Năm 1956, với tư cách là nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu Xã hội, ông đã tiếp xúc với các nhân vật chủ chốt của Trường phái Frankfurt, bao gồm Theodor W. Adorno, Max Horkheimer và Herbert Marcuse. Sau khi làm việc tại Marburg, Bonn và Heidelberg, ông trở lại Frankfurt vào năm 1964, nơi ông kế nhiệm Max Horkheimer làm chủ nhiệm khoa triết học và xã hội học. Ông giữ vị trí này cho đến năm 1971, trong thời gian đó ông đã định hình đáng kể thế hệ thứ hai của Lý thuyết Phê phán. Từ năm 1983 cho đến khi nghỉ hưu năm 1994, ông lại giảng dạy tại Đại học Goethe, Frankfurt, nơi ông giữ chức giáo sư triết học với trọng tâm là triết học xã hội và lịch sử triết học. Habermas là một trong những nhà triết học và xã hội học được đọc nhiều nhất trong thời đại chúng ta. Jürgen Habermas từng giảng dạy nhiều năm với tư cách giáo sư tại Đại học Goethe Frankfurt, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến diễn ngôn về dân chủ, xã hội và truyền thông ở Đức. Giờ đây, ông đã trao lại cho trường cũ phần thứ hai trong di sản ban đầu của mình, bao gồm các bài viết và thư từ từ giai đoạn sau năm 1994.

Print Friendly and PDF

6.4.26

Khủng hoảng dầu khí do chiến tranh vùng Vịnh: ảnh hưởng đối với Việt Nam

KHỦNG HOẢNG DẦU KHÍ DO CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH: ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trần Quốc Hùng

(Kinh tế gia tại Hoa Kỳ)

Hình minh hoạ của PTKT, lấy từ trang businessindia.co

Chiến tranh Mỹ/Do Thái với Iran đã gây nhiều tổn hại cho các cơ sở sản xuất dầu khí trong vùng Vịnh Ba Tư, và nhất là việc đóng cửa gần như hoàn toàn eo biển Hormuz—nơi khoảng 20% lượng dầu và khí hoá lỏng trên thế giới vận chuyển bằng đường biển phải đi qua. Tình hình này đã đẩy giá dầu thô Brent từ 60 đôla lên trên 100 đô la  - tăng 67% - và có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với Việt Nam vì phải nhập vừa dầu thô vừa xăng dầu đã chế biến.

Ngành dầu khí VN dựa vào việc khai thác và xuất khẩu dầu thô (loại nhẹ có ít lưu huỳnh và giá trị cao). Hiện nay sản lượng đã giảm, còn khoảng 10 triệu tấn dầu thô năm 2025 so với mức đỉnh là 16 triệu tấn năm 2010; và 6 tỷ mét khối khí đốt. Ngược lại, VN phải nhập dầu thô (phần lớn loại nặng từ Trung Đông) để làm nguyên liệu đầu vào cho hai nhà máy lọc dầu Dung Quất (công suất 6,5 triệu tấn/năm) và Nghi Sơn (công suất 10 triệu tấn/năm). Mô hình kinh doanh này hữu hiệu nếu chuỗi cung ứng toàn cầu hoạt động bình thường liên tục. Nhưng nếu chuỗi cung ứng bị gián đoạn do chính sách mậu dịch của nước ngoài như quan thuế và cấm vận, đại dịch như Covid-19, hay chiến tranh, thì sẽ bị động và chịu hậu quả xấu: nguồn cung không ổn định và giá dầu khí tăng cao.

Print Friendly and PDF

4.4.26

VIỆT NAM HÔM NAY - Ghi chép của một người vừa trở về

VIỆT NAM HÔM NAY - GHI CHÉP CỦA MỘT NGƯỜI VỪA TRỞ VỀ

Ảnh Tác giả - Trước công viên tượng đài Vua Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu.

Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội.

Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.

Print Friendly and PDF

2.4.26

Jürgen Habermas qua đời, một nhà tư tưởng lớn của hai thế kỷ và là một trí thức dấn thân

JÜRGEN HABERMAS QUA ĐỜI, MỘT NHÀ TƯ TƯỞNG LỚN CỦA HAI THẾ KỶ VÀ LÀ MỘT TRÍ THỨC DẤN THÂN

Triết gia Đức Jürgen Habermas đã từ trần ở tuổi 96. Được công nhận trên toàn thế giới qua những tác phẩm của mình, chuyển tiếp giữa thế kỷ XX và thế kỷ XXI, ông còn được kính trọng vì đã bày tỏ các quan điểm của ông về những vấn đề chính trị quan trọng thời hậu chiến.

Le Temps - l’AFP

Công bố ngày 14 tháng ba năm 2026.

Jürgen Habermas ở Paulskirche, tháng 10 năm 2016.— © ARNE DEDERT/KEYSTONE

Triết gia người Đức Jürgen Habermas đã từ trần, theo thông báo của một nữ phát ngôn viên của nhà xuất bản Suhrkamp Verlag, cho thông tấn xã AFP. Bà đã xác nhận rằng ông từ trần ở tuổi 96 tại Starnberg, ở miền nam nước Đức, căn cứ vào thông tin của gia đình của nhà trí thức dấn thân này.

Chào đời năm 1929, Jürgen Habermas, tác giả của một sự nghiệp triết học đã thu phục được rộng rãi công chúng trên thế giới, được xem là nhà tư tưởng lớn nhất còn tại thế. Ông cũng là một trí thức dấn thân xuất hiện nhiều nhất trên diễn đàn chính trị của Đức và châu Âu, tham gia tất cả các cuộc thảo luận quan trọng thời hậu chiến và ông nhìn thấy châu Âu là phương thuốc duy nhất chống lại trào lưu đang lên của các chủ nghĩa dân tộc. Theo ông, “dấn thân vào việc chung là nhiệm vụ quan trọng nhất của triết học”.

Print Friendly and PDF

31.3.26

Phong tỏa eo biển Hormuz: Châu Á bị mắc bẫy

PHONG TỎA EO BIỂN HORMUZ: CHÂU Á BỊ MẮC BẪY

Tác giả: Hubert Testard

Eo biển Hormuz. Ảnh vệ tinh. Nguồn: Wikimedia Commons.

Việc chiến tranh ở Iran lan rộng sang các quốc gia quân chủ vùng Vịnh và eo biển Hormuz đẩy Châu Á lên tuyến đầu. Châu Á là điểm đến chính cho xuất khẩu dầu thô, khí hóa lỏng (LNG) và các sản phẩm dầu mỏ đi qua eo biển này. Đối với Châu Á, cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay không chỉ là vấn đề giá cả. Sự gián đoạn nguồn cung đe dọa một số nền kinh tế của khu vực. Từ góc nhìn Châu Á, việc phong tỏa eo biển không thể tiếp tục.

------------------------------------------------

Không được phép đi qua eo biển Hormuz.” Tuyên bố này từ Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran đã được phát sóng trên các kênh liên lạc vô tuyến hàng hải ngay từ ngày 28 tháng 2, ngày đầu tiên của cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Kể từ thông báo này, 18 tàu đã bị tấn công trong eo biển, bao gồm cả tàu kéo. Ngoại trừ các tàu chở dầu của Iran, dường như vẫn tiếp tục bốc hàng từ đảo Kharg và đi qua eo biển, hoạt động vận tải biển gần như bị đình trệ hoàn toàn, với số lượng tàu qua lại hàng ngày giảm từ 150 xuống còn khoảng hàng chục. Chỉ một vài tàu mang cờ Trung Quốc có thể đi qua eo biển, và hai tàu chở khí dầu mỏ hóa lỏng (LNG) đã có thể hướng tới Ấn Độ vào ngày 13 tháng 3. Một số tàu đăng ký dưới cờ “trung lập”, chẳng hạn như Panama hoặc quần đảo Marshall, đã sửa đổi chữ ký điện tử của mình để khai báo là “Trung Quốc hoặc thuộc sở hữu của Trung Quốc” nhằm được phép đi qua eo biển. Những trường hợp ngoại lệ này vẫn rất hạn chế so với mức lưu lượng giao thông trước đây.

Print Friendly and PDF

29.3.26

Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Phan Châu Trinh

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY MẤT CỦA PHAN CHÂU TRINH (24/3/1926-24/3/2026)

NGUYÊN NGỌC

Ngày 24/3/2026, chúng ta có một kỷ niệm lớn: 100 năm ngày mất của Phan Châu Trinh và mấy ngày sau là đám tang vĩ đại của ông mà Nguyễn Ái Quốc, trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản hồi đó đã viết: “trong lịch sử người An Nam chưa hề được chứng kiến một sự kiện to lớn như vậy bao giờ…”.

Quả thật là một đám tang vĩ đại, theo các con số đáng tin cậy 100.000 người đã đi theo linh cữu ông, kéo dài trên 2 cây số trong khi năm 1926, dân số cả Sài Gòn và Chợ Lớn cộng lại là 345.000 người. Hơn một phần tư người Sài Gòn - Chợ Lớn đã long trọng tiễn đưa nhà ái quốc yêu quý của mình đến nơi an nghỉ cuối cùng. Rõ ràng không chỉ là một đám tang, mà là một cuộc biểu dương lực lượng hùng vĩ của quần chúng yêu nước, báo hiệu những chuyển động xã hội sẽ không còn gì ngăn cản được. Lại còn thêm một động thái khác thường nữa: hầu hết các tỉnh trong nước đều cử người về Sài Gòn dự đám tang, sau đó trở về địa phương mình tổ chức lễ truy điệu: thật sự đã diễn ra một quốc tang, trong toàn quốc, mà lại ngay trong lòng chế độ thực dân vô cùng khắc nghiệt và tàn bạo. Từ đám tang Phan Châu Trinh, có thể nói cả một lớp người mới, được chấn động bởi sự kiện hùng tráng đó, đã lên đường, một thế hệ cách mạng mới đã bước vào cuộc đấu tranh.

Print Friendly and PDF

27.3.26

Jürgen Habermas đã định hình trật tự thời hậu chiến – Cái chết của ông không nên là dấu chấm hết cho trật tự này

JÜRGEN HABERMAS ĐÃ ĐỊNH HÌNH TRẬT TỰ THỜI HẬU CHIẾN – CÁI CHẾT CỦA ÔNG KHÔNG NÊN LÀ DẤU CHẤM HẾT CHO TRẬT TỰ NÀY

Nhà lý luận dân chủ vĩ đại nhất thời hậu chiến đã để lại sau lưng một thế giới đang tháo dỡ mọi thứ mà ông từng bảo vệ.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH:

  • Một cuộc đời tôi luyện bởi thảm họa: Năm 16 tuổi Habermas vỡ lẽ ra rằng mình lớn lên trong chế độ tội phạm, chính điều này đã thúc đẩy ông dấn thân vào triết học và chính trị trong sáu thập kỷ kế tiếp.
  • Dân chủ như một hình thức diễn ngôn: Lý thuyết của ông về không gian công cộng – đặt nền tảng cho tính chính danh dựa trên tranh luận lý tính chứ không chỉ dựa vào bầu cử – đã trở thành một trong những ý tưởng có ảnh hưởng nhất trong tư tưởng dân chủ hiện đại.
  • Châu Âu như một dự án còn dang dở: Habermas đấu tranh cho một EU được trao quyền dân chủ như là phương tiện duy nhất có khả năng đặt thị trường toàn cầu hóa dưới quyền tự quyết dân chủ.
  • Là một nhà tư tưởng quyết liệt, không phải người xa rời thế sự: Khác xa với hình ảnh nhà duy lý sống trong tháp ngà mà các nhà phê bình mô tả, Habermas là một người luôn hăng say khơi mào, định hình hầu hết mọi cuộc tranh luận lớn trong đời sống công cộng của Đức thời hậu chiến.
  • Thế giới chúng ta đang sống: Trong những năm cuối đời, chính Habermas đã tuyệt vọng vì “mọi thứ làm nên cuộc đời ông đang dần mất đi từng chút một.”

Chúng ta đang sống trong thời kỳ được định hình bởi điều mà nhà triết học, xã hội học, trí thức công chúng nhà luận phê phán dấn thân người Đức quá cố Jürgen Habermas đã mô tả là “sự kỳ lạ đầy bất an của thời đại này” (từ gốc tiếng Đức là Unheimlichkeit - ND) Dù biểu hiện qua sự thoái trào của luật pháp quốc tế, sự sụp đổ của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, qua kết thúc của nền dân chủ tự do hay việc  ức về Holocaust như hòn “đá thử vàng” cho cái ác trong chính trị đang dần phai nhạt – chỉ cần kể ra một vài triệu chứng – các nhà bình luận trên toàn bộ phổ chính trị đều đồng ý rằng chính trị toàn cầu đang trong trạng thái biến động, thời kỳ chuyển tiếp nơi thế giới cũ đã chết nhưng thế giới mới vẫn chưa ra đời. Vì cuộc đời và sự nghiệp của Habermas vừa phản ánh vừa định hình sâu sắc thời kỳ hậu chiến, nên nếu ta cho rằng các nhà sử học tư tưởng tương lai sẽ xác định thời điểm kết thúc của trật tự thế giới hậu 1945 chính là ngày ông qua đời, 14 tháng 3 năm 2026, thì cũng không phải vô căn cứ.

Print Friendly and PDF

25.3.26

Trí thông minh chết người

TRÍ THÔNG MINH CHẾT NGƯỜI

Tác giả: Simon Book, René Pfister, Marcel Rosenbach DER SPIEGEL, Số: 10/2026.

Biên dịch: Tôn Thất Thông

Trên nhiều khía cạnh, sự trỗi dậy của A.I. còn đáng đe dọa hơn việc phát minh ra bom nguyên tử. Nó khiến việc giết chóc trong chiến tranh nhanh hơn và việc chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt dễ dàng hơn. Sự thành công của Ukraine trong công nghệ Drone chỉ là thí dụ đầu tiên. Con người tạo ra một công nghệ mới mà không ai chế ngự được. Chuyên gia cảnh báo về vũ khí có trí tuệ nhân tạo hỗ trợ, và đòi hỏi những quy trình kiểm soát chặt chẽ. Liệu nhân loại có thành công trong việc thiết lập một bộ quy tắc ứng xử hiệu quả? 

Vào tháng 11 năm 2017, một bộ phim kinh dị dài tám phút đã gây bão trên mạng. “Slaughterbots” – Những robot giết người – là một câu chuyện viễn tưởng đen tối, trong đó các thiết bị sát thương không người lái được trang bị phần mềm nhận diện khuôn mặt đã xâm nhập vào Quốc hội Mỹ và các trường đại học để tiêu diệt có mục tiêu các nghị sĩ và sinh viên đấu tranh chống tham nhũng. Trong phim, không rõ ai đứng sau các vụ tấn công: một chính phủ, một nhóm khủng bố – hay một xưởng vũ khí cực kỳ hiện đại chuyên sản xuất các loại vũ khí mới có sự hỗ trợ A.I., với một ông chủ trẻ trung, đầy sức hút đang quảng bá drone giết người tự động là tương lai của chiến tranh?

Print Friendly and PDF

23.3.26

Trung Quốc sẽ phải gánh chịu hậu quả từ sự hỗn loạn ở Trung Đông nhưng về lâu dài nước này sẽ được lợi

TRUNG QUỐC SẼ PHẢI GÁNH CHỊU HẬU QUẢ TỪ SỰ HỖN LOẠN Ở TRUNG ĐÔNG NHƯNG VỀ LÂU DÀI NƯỚC NÀY SẼ ĐƯỢC LỢI

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Ngoại trưởng Vương Nghị tham dự một cuộc họp tại Bắc Kinh vào tháng 2 năm 2026. Jessica Lee/EPA

Trung Quốc đã đáp trả các cuộc tấn công chung của Mỹ và Israel vào Iran bằng cách lên án mạnh mẽ về mặt ngoại giao. Trong một bài báo được đăng tải ngày 1 tháng 3, hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc Tân Hoa Xã gọi các cuộc tấn công này là “sự vi phạm trắng trợn” các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Bài báo cũng gọi hành động can thiệp này là sự đi ngược lại “các chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế”.

Phản ứng này tương tự như phản ứng của Trung Quốc trước việc Mỹ bắt giữ cựu lãnh đạo Venezuela, Nicolás Maduro, hồi đầu tháng Một. Khi đó, các quan chức Trung Quốc đã lên án cái họ gọi là vi phạm luật pháp quốc tế. Ngoại trưởng Trung Quốc, Vương Nghị, cảnh báo rằng không quốc gia nào được phép đóng vai “cảnh sát thế giới” hay “tự nhận mình là thẩm phán quốc tế”.

Ngoài những lời lên án về mặt ngoại giao, cho đến nay, đóng góp quan trọng nhất của Trung Quốc vào cuộc xung đột ở Iran thể hiện qua hệ thống định vị vệ tinh Bắc Đẩu (BeiDou). Trong những năm gần đây, Bắc Đẩu đã nổi lên như một lựa chọn thay thế khả thi cho Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) đang giữ thế thống trị, vốn thuộc sở hữu và kiểm soát của chính phủ Mỹ.

Trong cuộc chiến 12 ngày giữa Iran và Israel năm 2025, việc gây nhiễu GPS trên diện rộng đã gây ra sự gián đoạn đáng kể cho các hệ thống dân sự và quân sự của Iran. Việc vô hiệu hóa GPS và chuyển sang sử dụng hệ thống Bắc Đẩu đã đem lại chiều sâu chiến lược lớn hơn cho quân đội Iran. Ví dụ, hệ thống mới cho phép giám sát các khí tài quân sự của Mỹ hiệu quả hơn.

Print Friendly and PDF

21.3.26

Chúng ta là loài người hay là Homo Economicus? Tại sao kinh tế học cần tiến hóa vượt ra ngoài tăng trưởng?

CHÚNG TA LÀ LOÀI NGƯỜI HAY LÀ HOMO ECONOMICUS? TẠI SAO KINH TẾ HỌC CẦN TIẾN HÓA VƯỢT RA NGOÀI TĂNG TRƯỞNG?

Kinh tế học thường giả định rằng con người hành xử giống loài tinh tinh, trong khi trên thực tế, loài người hợp tác với nhau ở mức độ cao hơn rất nhiều – và các mô hình kinh tế cần phải phản ánh được điều đó.

Bạn cư xử giống loài vượn hay giống loài người hơn? Nếu phải chia tiền (hay thậm chí là nho khô!), bạn sẽ cho đi ít nhất có thể để giữ lại nhiều nhất cho mình, hay chọn cách chia đều? Lý thuyết kinh tế dòng chính truyền thống vận hành dựa trên giả định rằng phần lớn hành vi của con người có thể được giải thích bằng sự tư lợi vốn có – tức xu hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân. Từ thế kỷ XIX, các nhà kinh tế đã sử dụng khái niệm homo economicus, hay “con người kinh tế”, để mô tả con người như một thực thể duy lý và vị kỷ, dựa trên những luận điểm của John Stuart Mill và Adam Smith rằng chúng ta luôn tìm cách làm ít nhất để thu về nhiều nhất, và rằng ta không thể trông chờ vào lòng tốt của người khác mà phải tự lo cho lợi ích của chính mình.

Rõ ràng, đây chỉ là một cách khái quát hóa đơn giản các thiên hướng vị lợi trong con người; tuy nhiên, cách tiếp cận này đã hỗ trợ cho những khẳng định như trong cuốn Kinh tế học hài hước (Freakonomics, 2005) của Steven D. Levitt và Stephen J. Dubner rằng hành vi của chúng ta, cả ở mức ý thức lẫn tiềm thức, đều bị định hình bởi sự tư lợi – thứ mà hai tác giả gọi là “mặt khuất của mọi sự”.

Print Friendly and PDF

19.3.26

StatGPT: Những mối hiểm nguy khi hỏi AI về thống kê

STATGPT: NHỮNG MỐI HIỂM NGUY KHI HỎI A.I. VỀ THỐNG KÊ

Hình minh hoạ của PTKT (do A.I. tạo)

Việc đặt câu hỏi cho các công cụ trí tuệ nhân tạo tạo sinh thường tạo ra bản nháp đầu tiên ở mức chấp nhận được theo như kết quả mong muốn. Chắc rồi, nó có thể chứa một số điểm không chính xác và thậm chí là các ảo giác [hallucinations], nhưng bản nháp đầu tiên chẳng bao giờ hoàn mỹ cả. Việc của tác giả là sửa lại chúng. (Bạn có thể nói rằng bản nháp đầu tiên của mình không bị ảo giác. Thật ư? Chẳng lẽ bạn chưa từng viết bản nháp nào mà trong đó bạn đinh ninh mình nhớ đúng một bài báo, một câu trích dẫn hay số liệu thống kê nào đó, nhưng rồi khi chỉnh sửa bản nháp và phải rà soát lại, bạn mới vỡ lẽ rằng mình đã nhớ nhầm hoàn toàn?) Là một biên tập viên lâu năm, tôi thường bảo rằng các công cụ AI mới đã làm mất giá khả năng tạo ra bản nháp đầu tiên tạm ổn – vì hiện tại trong hầu hết các trường hợp thì đây là chuyện dễ dàng – nhưng lại đề cao khả năng bồi đắp giá trị (cho bản thảo) qua quá trình biên tập.

Nhưng nếu bạn hỏi AI về các số liệu thống kê cụ thể thì tiêu chuẩn về “bản nháp đầu tiên ở mức chấp nhận được” này không còn phù hợp nữa, bởi vì bạn không muốn một “bản nháp đầu tiên hợp lý” của số liệu thống kê – bạn cần dữ liệu thực tế từ nguồn chính thức có liên quan. Nếu bạn không hỏi một cách cẩn thận, công cụ AI sẽ không trả về thứ bạn muốn.

Print Friendly and PDF

17.3.26

Điếu văn tiễn Jürgen Habermas - Thất bại rực rỡ của những bậc trí giả

ĐIẾU VĂN TIỄN JÜRGEN HABERMAS

THẤT BẠI RỰC RỠ CỦA NHỮNG BẬC TRÍ GIẢ

Tác giả: Thomas Schmid

Biên dịch: Hoàng Lan Anh

Triết gia Jürgen Habermas muốn mang lại sức nặng cho ý tưởng về một hình thái xã hội dựa trên sự tương giao chứ không phải quyền lực. Cuối đời, tư duy của ông dường như rơi vào ngõ cụt. Nhưng tại sao mọi chuyện không đơn giản như vậy?

* * *

Jürgen Habermas (1929-2026). Nguồn: Martin Gerten/dpa

Có lẽ không ai tin tưởng vào phương Tây một cách kiên định và không lay chuyển như Jürgen Habermas. Toàn bộ các tác phẩm đồ sộ của ông có thể được hiểu là một nỗ lực lớn lao duy nhất nhằm giúp lý tính phương Tây – vốn được nuôi dưỡng từ nhiều nguồn cội – cuối cùng cũng đạt được sự đột phá, nếu không muốn nói là chiến thắng. Giờ đây, Jürgen Habermas, một nhà tư tưởng luôn can thiệp vào thời cuộc cho đến tận phút cuối, đã qua đời ở tuổi 96. Và thế giới hiện tại hoàn toàn không mang lại ấn tượng rằng kỷ nguyên của lý tính toàn cầu đã bắt đầu.

Vì thế, người ta có thể đi đến kết luận rằng Habermas đã thất bại với tư duy của mình. Điều đó có lẽ không hoàn toàn sai. Nhưng nếu ông có thất bại, thì đó là thất bại ở một trình độ rất cao. Một trình độ mà trên đó, ông vượt xa nhiều người tự coi mình là những nhà thực tế. Có những thất bại thảm hại của kẻ khờ, và có những thất bại rực rỡ của những bậc trí giả.

Print Friendly and PDF

15.3.26

Luận văn tiến sĩ của Albert Einstein (1906)

 LUẬN VĂN TIẾN SĨ CỦA

ALBERT EINSTEIN

(1906)

Mỗi sở hữu đều là một cục đá ở dưới chân. Không có gì tôi không từ bỏ được, bất cứ lúc nào.

— Albert Einstein

Einstein, Mileva và con trai đầu lòng Hans Albert (1904) trong căn hộ tại số 49 đường Kramgasse lịch sử.

Lời nói đầu

Ngày 14 tháng 3 vừa qua là ngày sinh nhật thứ 147 của Albert Einstein. Tôi xin đăng bài dưới đây, gọi là để nhớ đến ông, một tấm gương con người rất đặc biệt được thể hiện trong giai đoạn thanh niên, giai đoạn có lẽ quan trọng nhất trong sự phát triển con người, những năm hình thành, “formative”, có rất nhiều điều để suy ngẫm và đối với tuổi trẻ để học hỏi. Trong lần tái bản tới, tôi hy vọng trong năm nay, những năm hình thành này sẽ được trình bày chi tiết và hệ thống hơn, bao gồm triết lý giáo dục của ông được thể hiện qua chính bản thân ông.

Nguyễn Xuân Xanh

Trong Năm thần kỳ, annus mirabilis, 1905, Albert Einstein công bố bốn (hay năm tùy cách tính) bài báo tại tạp chí Đức Annalen der Physik. Bài đầu tiên về giả thuyết photon của ánh sáng, là bài sau này giúp ông đạt Giải Nobel năm 1921. Bài thứ hai về chuyển động Brown và chứng minh sự tồn tại của nguyên tử, trong nhiều thứ khác. Đây là bài mà sau đó Einstein nộp vào tại Đại học Zurich để xin cấp bằng tiến sĩ. Bài thứ ba là thuyết tương đối hẹp, v.v.. Và năm 1906, ông thực sự được công nhận chính thức trở thành tiến sĩ!

Print Friendly and PDF

13.3.26

Cuộc chiến ở Iran: một thất bại ngắn hạn đối với Trung Quốc, nhưng sau này thì sao?

CUỘC CHIẾN Ở IRAN: MỘT THẤT BẠI NGẮN HẠN ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC, NHƯNG SAU NÀY THÌ SAO?

Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Chuyến thăm chính thức của Tập Cận Bình tới Iran năm 2016. DR.

Cuộc chiến do Hoa Kỳ và Israel phát động chống lại Iran kể từ ngày 28 tháng 2, một lần nữa, đã biến Trung Quốc thành một bên ngoài cuộc và tiềm ẩn nguy cơ gây ra những tổn thất về kinh tế và địa chính trị cho nước này. Tuy nhiên, ngược lại, Trung Quốc có thể thu được lợi ích đáng kể ở Châu Á nếu Hoa Kỳ sa lầy trong một thời gian dài ở chiến trường Iran đầy rủi ro.

------------------------------------------------

Nếu, khi cuộc xung đột kết thúc - mà hiện tại không ai có thể dự đoán được kết quả - chế độ của các giáo sĩ Hồi giáo sụp đổ ở Iran và nước này rơi vào vùng ảnh hưởng của Mỹ, Trung Quốc sẽ mất đi một đối tác quan trọng ở Trung Đông, chiếm 13% nguồn cung dầu mỏ, một loại hydrocarbon thiết yếu cho nền kinh tế của Trung Quốc.

Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, bao gồm cả dầu của Iran, hấp thụ phần lớn lượng dầu xuất khẩu bằng đường biển của Iran với giá rất ưu đãi. Hai nước đã ký một thỏa thuận hợp tác 25 năm vào năm 2021, trong đó Trung Quốc cam kết đầu tư lên tới 400 tỷ đô la. Lời hứa này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Nếu cần thiết, Trung Quốc hoàn toàn có thể bù đắp cho sự thiếu hụt dầu mỏ của Iran bằng cách tăng nhập khẩu hydrocarbon từ Nga, cũng với giá chiết khấu rất lớn.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng sẽ gây ra những hậu quả kinh tế nghiêm trọng hơn đối với Trung Quốc nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa trong một thời gian dài. Tổng cộng, một phần ba lượng dầu nhập khẩu và 25% lượng khí đốt nhập khẩu của Trung Quốc đi qua eo biển Hormuz, nơi giao thông gần như bị đình trệ kể từ khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran đẩy khu vực vào khủng hoảng.

Print Friendly and PDF

11.3.26

Trump hay sự biến dạng của thế giới

TRUMP HAY SỰ BIẾN DẠNG CỦA THẾ GIỚI

Tác giả: Christian Salmon

Nhà văn, cựu nghiên cứu viên ở CRAL

 Trung tâm Nghiên cứu Vật lý Thiên văn Lyon – (CNRS-EHESS)

Điều đang bị phá vỡ trước mắt chúng ta dưới những đòn mà Trump giáng xuống từ một năm nay không chỉ là thế cân bằng địa chính trị được hiện thực hóa từ năm 1945, mà còn là một ngữ pháp chính trị: một tập hợp các quy tắc đã tổ chức tính dễ đọc của thế giới và trao cho các sự kiện một hình thức có thể nhận biết được.

Hình minh hoạ của PTKT (do A.I. thực hiện)

Đó là một tập bị lãng quên của bộ phim nhiều tập của Trump. Từ lần đắc cử đầu tiên của ông vào năm 2016, Donald Trump đã tỏ rõ ý muốn duy trì vai trò giám đốc sản xuất của ông về chương trình truyền hình thực tế Celebrity Apprentice. Quyết định của ông có vẻ đã đủ chín muồi và đáng tin nên trường quay MGM thông báo quyết định này ngay từ ngày 9 tháng 12 năm 2016, một tháng trước lễ nhậm chức chính thức của vị tổng thống mới. Một quyết định gây ngạc nhiên của tổng thống đắc cử vốn không cần đến sự phù phiếm về truyền thông này để bảo đảm sự ủng hộ của dân chúng. Mối liên hệ mà Trump muốn duy trì với chương trình truyền hình thực tế mang tính biểu tượng của ông có những lý do sâu xa hơn vẻ bề ngoài của nó.

Chương trình truyền hình này không những khiến ông trở thành nhân vật trung tâm của nền văn hoá đại chúng, nó còn đồng hành với sự chuyển hướng chính trị của ông và đóng vai trò là phòng thí nghiệm cho các khẩu hiệu và các màn trình diễn của chương trình tranh cử của ông. “Celebrity Apprentice” đã giúp ông thực tập về quyền lực. Trong chương trình ấy, Trump đã rà thử những tư thế lố bịch của ông, những điều quá đáng, những khiêu khích của ông để định hình một uy tín mới về chính sách đoạn tuyệt. Rất lâu trước khi Barack Obama trở thành nhà sản xuất phim tập cho Netflix sau khi hoàn thành hai nhiệm kỳ, Trump đã tự phóng chiếu mình trong nhân vật tổng thống và đã là nhà sản xuất truyền hình thực tế. Việc đảm nhận cùng lúc các đặc quyền hiến định của chức vụ một tổng thống với các đặc quyền tầm thường hơn của một nhà sản xuất chương trình truyền hình thực tế là không hiển nhiên và điều này gây tranh cãi trong nội bộ ê-kíp phụ trách chuyển giao quyền lực cho ông. Liệu một vị tổng thống Mỹ có thể thực hiện hai nhiệm vụ này cùng lúc, một về chính trị và một về truyền thông? Liệu nhà sản xuất có làm lu mờ vai trò tổng thống không? Liệu có nguy cơ tầm thường hoá chức vụ tổng thống?

Print Friendly and PDF