27.2.26

Từ biện minh cho sự hiện hữu đến biện hộ cho trí thức: Một khao khát làm người

120 Năm Jean-Paul Sartre (1905-2025)

TỪ BIỆN MINH CHO SỰ HIỆN HỮU ĐẾN BIỆN HỘ CHO TRÍ THỨC:
MỘT KHAO KHÁT LÀM NGƯỜI

Bùi Văn Nam Sơn

Tưởng nhớ Phan Huy Đường

Một Voltaire của thế kỷ XX

Xin hãy hình dung một người Pháp vừa ra đi, cả Paris tang tóc. Hơn năm mươi nghìn người, trong thời buổi bận rộn, tề chỉnh một màu đen, lưu luyến tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Hơn cả một đám tang, người dân Paris – và đâu chỉ Paris! – đưa tiễn và lưu luyến tuổi trẻ “thao thức” của chính mình và của cả một thế hệ. Niềm thao thức vẫn khôn nguôi, mỗi khi nhớ lại đám tang ấy, con người ấy.

Chỉ với ngòi bút trong tay, người ấy để lại hơn 4000 trang “triết học thuần túy”, hơn 4000 trang tiểu sử – từ khi qua đời sách của ông còn tiếp tục công bố nhiều hơn bao tác giả khác đang sống –, thêm hơn 2000 trang truyện ngắn, truyện dài, kịch, kịch bản phim, và vô số tiểu luận, lời tựa, thư từ, luận chiến. Những quán cà phê khi sinh thời ông ngồi – đọc, viết tại chỗ – được du khách trầm trồ, chỉ chỏ, thích thú hơn cả tháp Eiffel. Sức viết đã vậy, sức đọc cũng ghê gớm. Sách ông đầy những lưu ý, ám chỉ vô số tác giả, tác phẩm văn chương Pháp và triết học Đức. Bên cạnh những tham khảo minh nhiên về Descartes, Hegel, Marx, Husserl và Heidegger, còn thấy bóng dáng thường trực của Kant, Schopenhauer, Kierkegaard, Nietzsche, Freud, Alfred Adler, của Dilthey, Scheler, Jaspers, Bergson... Trong học thuật, khó định danh ông là gì: triết gia, sử gia, nhà xã hội học? Trong văn nghệ, là nhà viết tiểu luận, nhà văn, nhà báo, nhà diễn thuyết? Sartre hầu như thành thạo đủ mọi thể loại.

Chỉ có ngòi bút và cái lưỡi, con người ấy không sống trong tháp ngà và đã từng khiến De Gaulle, ông tướng và ông tổng thống đầy quyền uy của nước Pháp đương thời, tương truyền phải than trời: “Không ai có thể bắt nhốt một Voltaire!”. Bởi Sartre không “ngán” gì cả và không “ngán” ai cả. Người ta thấy ông có mặt trong những cuộc hội thảo, xuống đường, đứng phát truyền đơn giữa ngày tuyết lạnh khi tuổi đã cao. Ông bênh vực, ủng hộ và chống đối tất cả những gì lương tâm thấy cần, bất kể dị nghị và mâu thuẫn. Ông có “nỗi đam mê hiểu người”. Nói như Phan Huy Đường, ông còn có “nỗi đam mê làm người”. Không “hiểu” làm sao “làm”? “Hiểu” mà không “làm” thì hiểu làm gì?

Print Friendly and PDF

25.2.26

Phả hệ nhỏ của trí tuệ nhân tạo thị giác

KỸ THUẬT SỐ

PHẢ HỆ NHỎ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO THỊ GIÁC

Tác giả: Gil Bartholeyns

Nhà sử học, giảng sư Đại học Lille

Chỉ trong vài ngày, những hình ảnh do trí tuệ nhân tạo tạo ra thể hiện Nicolás Maduro bị bắt cóc và bị giam đã xâm chiếm các mạng xã hội. Những sản phẩm được chụp thô này biểu thị một tương quan mới với hình ảnh, hơn là lấp đầy một khoảng trống thông tin: vui nhộn, tức thì, tổng hợp. Thông qua những deepfakes được lan truyền này tái hiện một câu chuyện dài về tính thị giác và niềm tin dành cho hình ảnh.

“Sự hình thành và phổ biến những hình ảnh được tạo ra bởi các phương tiện tin học mở màn cho sự xâm chiếm những “không gian” thị giác hoàn toàn được chế tạo ra và vượt xa khả năng bắt chước của điện ảnh, nhiếp ảnh, và truyền hình, những phương tiện này tương ứng với một góc nhìn nằm trong không gian thực[1].”

Chỉ trong vài ngày, hàng chục hình ảnh và video được trí tuệ nhân tạo tạo ra phô bày tổng thống Nicolás Maduro mặc áo khoác Nike, từ nay trở thành biểu tượng của việc bắt cóc ông, đã xâm chiếm các mạng xã hội. Rất nhiều những hình ảnh siêu giả mạo này đã được tạo ra cùng với diễn tiến của các sự kiện, như để đáp trả việc thiếu thông tin bằng hình ảnh, và được tiếp sức nguyên xi bởi những nhân vật của công chúng và những chính trị gia.

Print Friendly and PDF

24.2.26

Về sự ra đời của Mỹ thuật Việt Nam và vai trò của Trường Mỹ thuật Đông Dương (EBAI)

VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA MỸ THUẬT VIỆT NAM
VÀ VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG MỸ THUẬT ĐÔNG DƯƠNG (EBAI)

Phạm Thị Điệp Giang

Năm 2024, tôi làm chung dự án nhóm “cặp đôi” với một bạn Trung Quốc về triển lãm “Magiciens de la terre” (Những pháp sư của trái đất) do Jean-Hubert Martin làm giám tuyển tại Centre Pompidou (1989). Đây được coi là triển lãm đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật hiện đại đặt vấn đề về việc đưa nghệ thuật ngoài phương Tây vào trong một đối chiếu công bằng với Tây phương, với việc trưng bày tác phẩm và chọn lựa 50 tác giả đến từ Tây phương và 50 tác giả ngoài Tây phương (châu Phi, Mỹ Latinh, Úc, Á, …).

Ở thời điểm năm 1989, triển lãm thu hút khoảng 400 ngàn lượt khách tham quan tại không gian ở Paris và một không gian phụ cận.

Tầm quan trọng của Triển lãm này trong lịch sử được ghi nhận và tới năm 2014, sau 25 năm, triển lãm đã được tái lập tại Centre Pompidou. Điều đáng nói là, trong khi nỗ lực xoá nhoà ranh giới giữa nghệ thuật của Tây phương (được cho là mang đặc tính của chủ nghĩa thực dân và thuộc địa) của Jean-Hubert Martin là điều không thể phủ nhận, thì cách ông lựa chọn nghệ sĩ, trưng bày tác phẩm, tổ chức các sự kiện bên lề (như giao lưu nghệ sĩ không thuộc Tây phương với khách tham quan, …) lại bị phê phán là phản ánh hoàn toàn các đặc điểm “thượng đẳng” Tây phương mà triển lãm đang cố gắng tháo bỏ: – việc gọi tên các nghệ sĩ là “pháp sư” (mang tính chất tâm linh, phù thuỷ chứ không phải sáng tác như một nghề nghiệp chuyên nghiệp) chứ không phải nghệ sĩ; – chọn lựa các “nghệ nhân” từ các làng văn hoá truyền thống ngoài châu Âu hơn là các nghệ sĩ đã và đang thực hành nghệ thuật tương ứng các trào lưu nghệ thuật bấy giờ trên toàn cầu (vì cho rằng các nghệ sĩ địa phương này đã bị pha trộn và chịu ảnh hưởng từ Tây phương chứ không có tính nguyên bản); – lựa chọn mang tính độc tôn thể hiện quyền lực trong việc cho phép ai được gọi tên hay định danh là “nghệ sĩ” và cái gì là “nghệ thuật” (theo nghĩa fine-art) ngoài châu Âu. Những phê bình, chỉ trích này vẫn tiếp tục hiện diện trong đời sống phê bình mỹ thuật cho đến ngày nay, và nó được coi như một “điển cứu” cho ngành giám tuyển trong việc cẩn trọng với các dự án mang tính “hậu thuộc địa” để không phạm sai lầm trong tư duy đã mang sẵn tinh thần thuộc địa trong kể chuyện, sáng tác, thực hành…

Print Friendly and PDF

22.2.26

Canh bạc của Sanae Takaichi đã thành công: liên minh của bà giành được đa số áp đảo

CANH BẠC CỦA SANAE TAKAICHI ĐÃ THÀNH CÔNG: LIÊN MINH CỦA BÀ GIÀNH ĐƯỢC ĐA SỐ ÁP ĐẢO

Tác giả: Sébastien Raineri

Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi bình luận về kết quả bầu cử hôm Chủ nhật. DR.

Thủ tướng Nhật Bản, chủ nhật vừa rồi, bà Sanae Takaichi đã giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử, khi liên minh do Đảng Dân chủ Tự do (PLD) lãnh đạo giành được đa số áp đảo trong cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức trước hạn. Kết quả chưa từng có này sẽ cho phép bà điều hành đất nước với quyền tự do hành động đặc biệt, cả trong nước và quốc tế, với mục tiêu trọng tâm là khôi phục niềm tin của người dân Nhật Bản.

----------------------------------------------

Ngày 8 tháng 2 năm 2026 sẽ mãi được ghi nhớ trong lịch sử đương đại Nhật Bản như một bước ngoặt lớn trong đời sống chính trị của đất nước. Bằng việc tổ chức một cuộc bầu cử đầy rủi ro chỉ ba tháng sau khi nhậm chức, Sanae Takaichi đã đặt cược nhiều hơn là chỉ sự tồn tại của nội các của bà. Bà đã đặt lên bàn cân tính chính danh cá nhân, phong cách lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của mình về Nhật Bản. Cuộc đánh cược đã thành công.

Kết quả vượt quá mong đợi. Bằng việc giành được 316 trong số 465 ghế tại Hạ viện, Đảng Dân chủ Tự do (PLD), vốn đang trên đà suy thoái không ngừng trong những năm gần đây, đã đạt được một chiến thắng bất ngờ, định hình lại các cán cân thể chế, làm suy yếu lâu dài phe đối lập và trao cho Thủ tướng quyền lực chính trị cho phép bà thực hiện những cải cách sâu rộng, trái ngược với tình trạng tê liệt trong những năm gần đây.

Trên thực tế, đây là thành tích tốt nhất mà PLD từng đạt được kể từ khi thành lập năm 1955. Nó vượt xa ngưỡng hai phần ba cần thiết để áp đặt chương trình lập pháp và bỏ qua phe đối lập tại Thượng viện. Chiến thắng áp đảo này mang lại cho người phụ nữ đầu tiên đứng đầu chính phủ Nhật Bản một quyền lực thể chế chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản đương đại, có thể so sánh hoặc thậm chí vượt qua quyền lực mà một trong những người tiền nhiệm và người thầy của bà, Shinzō Abe, từng có được ở đỉnh cao quyền lực.

Print Friendly and PDF

21.2.26

Tết Bính Ngọ: Mùa xuân đến trong khoảng lặng chuyển mình

TẾT BÍNH NGỌ: MÙA XUÂN ĐẾN TRONG KHOẢNG LẶNG CHUYỂN MÌNH

Tô Văn Trường

Hình minh hoạ của PTKT (sử dụng A.I.)

Tết, trong ký ức nhiều thế hệ người Việt, luôn bắt đầu bằng những nhịp điệu rất quen. Đó là những buổi chợ cuối năm đông đúc, nơi người lớn tất bật lo toan từng khoản sắm sửa, từng món ăn cho mâm cỗ ngày đầu xuân. Đó là cảm giác háo hức của trẻ nhỏ khi được may quần áo mới, được theo chân cha mẹ đi chợ hoa, được ngóng chờ những phong bao lì xì đỏ thắm như một phần thưởng cho cả năm ngoan ngoãn.

Trong suốt một thời gian dài, Tết không chỉ là dịp đoàn viên, mà còn là thời điểm tiêu dùng mạnh mẽ nhất trong năm. Người ta sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn, mua sắm rộng tay hơn, không hẳn vì dư dả, mà vì một niềm tin rất đời: năm mới sẽ tốt hơn năm cũ.

Nhưng Tết Bính Ngọ năm nay, dù vẫn mang đầy đủ hình hài quen thuộc của mùa xuân, lại xuất hiện trong một không khí khác – trầm hơn, chậm hơn và nhiều suy tư hơn.

Print Friendly and PDF

19.2.26

Khai thác dữ liệu: một sự thay đổi khế ước xã hội ít gây ồn ào

KHAI THÁC DỮ LIỆU: MỘT SỰ THAY ĐỔI KHẾ ƯỚC XÃ HỘI ÍT GÂY ỒN ÀO

Tác giả: Adrien Tallent

Nghiên cứu sinh triết học chính trị và đạo đức, Đại Học Sorbonne

Các hệ thống công nghệ được cho là phi chính trị đang ngày càng tác động mạnh mẽ đến nền dân chủ của chúng ta. EV/Unsplash

Tuyển chọn ở đại học, nội dung nổi bật trên các mạng xã hội, nền tư phápy học dự đoán, xe tự lái, giám sát đám đông… Ngày nay thuật toán được sử dụng đại trà trong nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội và kinh tế.

Các thuật ngữ “thuật toán”, “dữ liệu” hay “trí tuệ nhân tạo” (AI) thường được đồng nhất với những từ kỳ diệu. Một số người nhìn thấy trong những “công cụ” này những vật thể không thể sai lầm, hoàn toàn thuần lý mà sự giúp đỡ có thể rất quý báu để ủy thác một số nhiệm vụ – thậm chí là một số trách nhiệm nhất định.

Nhưng việc thu thập dữ liệu khổng lồ và việc sử dụng các thuật toán một cách đại trà cũng tạo thành một mối đe dọa đối với xã hội, nền dân chủ và cuối cùng là khế ước xã hội, vốn vẫn là nền tảng của quan niệm hiện đại về Nhà nước. Để đổi lấy một dịch vụ (thường là miễn phí), người dùng sau đó ủy quyền một cách có ý thức hoặc vô thức một phần quyền quyết định cũng như khả năng hành động về các lựa chọn và các ý kiến ​​của họ.

Print Friendly and PDF

17.2.26

Nguyễn Duy: thơ chúc Tết

Nguyễn Duy

Chúc Tết Bính Ngọ

 

Tai ương như rắn bò đi

Mừng năm mới vó ngựa phi vươn mình

Chúc cho thiên hạ thái bình

Triều đình cùng với chúng sinh say mèm!

 

Thy sĩ Ủa

(Tết Bính Ngọ - 2026)

Print Friendly and PDF

Chúc mừng Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026

Nhân dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026,

Phân Tích Kinh Tế xin trân trọng gửi tới Quý Bạn đọc, Dịch giả và Cộng tác viên lời Chúc mừng Năm mới Sức khỏe dồi dào, Bình an viên mãn và Vạn sự tốt lành.

Trong không khí thiêng liêng của thời khắc chuyển giao năm mới, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với sự tin tưởng, đồng hành và những đóng góp quý báu của Quý vị trong suốt thời gian qua. Sự quan tâm, chia sẻ tri thức và tinh thần trách nhiệm của cộng đồng chính là nền tảng quan trọng góp phần xây dựng và phát triển Phân Tích Kinh Tế theo định hướng học thuật nghiêm túc, khách quan và bền vững.

Bước sang năm mới, chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ và hợp tác của Quý vị, để cùng nhau lan tỏa tri thức và đóng góp tích cực cho cộng đồng nghiên cứu và bạn đọc quan tâm.

Kính chúc Quý vị và gia quyến một Năm mới An khang và Thịnh vượng.

Trân trọng,

Ban Biên Tập Phân Tích Kinh Tế

Print Friendly and PDF

15.2.26

Các sách của Bourdieu trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

Các mục về sách của Bourdieu và các mục liên quan đến Algérie trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

BỊ BẬT GỐC. CUỘC KHỦNG HOẢNG CUẢ NỀN NÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG Ở ALGÉRIE [DÉRACINEMENT (LE). LA CRISE DE L’AGRICULTURE TRADITIONNELLE EN ALGÉRIE]

Với tựa đề phụ “La crise de l’agriculture traditionnelle en Algérie/Cuộc khủng hoảng của nền nông nghiệp truyền thống ở Algérie”, cuốn sách này, được soạn thảo cùng với Abdelmalek Sayad, được Nhà xuất bản Minuit xuất bản năm 1964. Đây là kết quả của một cuộc điều tra được thực hiện trong cùng điều kiện và cùng thời kỳ (từ năm 1959 đến năm 1960) với tác phẩm Travail et travailleurs en Algérie/Lao động và người lao động ở Algérie. Để hiểu được tác động của chiến tranh và của sự đàn áp đối với dân thường, Pierre Bourdieu và nhóm của ông đã đi vào các vùng chiến sự để gặp gỡ những người nông dân bị ồ ạt tập trung lại trong các trại tập trung, trong những điều kiện mà chính ông cho là “nguy hiểm”. Mục tiêu của các tác giả là mô tả các trại tập trung do quân đội khởi xướng chứ không phải ghi chép một cách có hệ thống các cuộc can thiệp của quân đội vào các làng mạc truyền thống, trong số đó một số vẫn còn hoạt động một phần lâu sau khi Algérie giành được độc lập. Điều này được minh chứng qua các bộ phim của Ahmed Rachedi, L’Opium et le bâton, về Chiến tranh Algérie, La Colline oubliée của Abderrahmane Bouguermouh và La Montagne de Baya của Azzedine Meddour, được quay tại các ngôi làng Kabyle trước chiến tranh.

Chính sách tập trung này do chính quyền Pháp thực hiện nhằm mục đích kiểm soát hoàn toàn mọi hoạt động của người dân và ngăn chặn họ cung cấp thông tin và tiếp tế cho các thành viên của ALN (Quân đội Giải phóng Dân Tộc). Chiến dịch này nhằm mục đích biện minh cho sự đàn áp bằng cách tuyên bố bất kỳ ai ở lại các khu vực bị cấm là “phiến quân”, trái ngược với những cư dân của các ngôi làng vẫn giữ được kiến ​​trúc và phần nào lối sống của họ (múc nước từ nguồn nước, thu hoạch ô liu, làm việc trên đồng ruộng) dưới sự giám sát của quân đội. Trong trường hợp này, chính quân đội đã định cư ngay tại làng.

Quá trình này dần dần lan rộng khắp cả nước, nơi mà vào tháng 1 năm 1959, không dưới 936 trại đã được kiểm kê. Ngay từ năm 1955 trở đi, mục tiêu là tập trung dân chúng dựa trên học thuyết “chiến tranh cách mạng” được phát triển từ kinh nghiệm ở Đông Dương và được phổ biến trong bộ tổng tham mưu. Do đó, nhiệm vụ của quân đội Pháp không chỉ giới hạn ở cuộc chiến chống lại Quân Đội Giải Phóng Dân Tộc (ALN), nó còn bao gồm các hành động nhắm vào các nhóm dân cư được tập hợp lại với mục đích khuyến khích họ ủng hộ Pháp. Với mong muốn cắt đứt phong trào kháng chiến với những người ủng hộ ở địa phương, quân đội đã phá hủy các cấu trúc xã hội và kinh tế cũng như nhịp sống trong không gian-thời gian của dân chúng (thay đổi nơi sống và tước đoạt đất đai), như Bourdieu và Sayad đã chỉ ra sau nhiều tháng điều tra (từ năm 1959 đến năm 1961) tại các trại tập trung nông dân [PB 1964a]. Cuộc điều tra này do đó đã tiết lộ những tác động của một chính sách được giữ bí mật, được thiết lập từ năm 1955 và trở nên có hệ thống vào năm 1958, bởi một thế lực quân sự đã thách thức luật pháp của nền Cộng hòa.

Print Friendly and PDF

14.2.26

Vì sao Aristotle lại ghét ngày Valentine – và năm bước để yêu theo ông

VÌ SAO ARISTOTLE LẠI GHÉT NGÀY VALENTINE – VÀ NĂM BƯỚC ĐỂ YÊU THEO ÔNG

Canvas

Ngày lễ Tình nhân theo truyền thống là dịp của những quả bóng bay hình trái tim, những bông hồng giá trên trời và các nhà hàng kín hết chỗ. Các cặp đôi hôn nhau và nắm tay, những bức ảnh tự sướng cười tươi để kỷ niệm cho ngày phô bày tình cảm công khai.

Tại sao nhiều người trong chúng ta lại cảm thấy áp lực phải có những hành động bày tỏ tình cảm hoành tráng, mua quà đắt đỏ và bày ra đủ kiểu thể hiện tình cảm cầu kỳ đến vậy? Có lẽ là để chứng minh tình yêu. Ngày Valentine là màn thể hiện đầy phô trương, chỉ một lần mỗi năm, và hứa hẹn làm đúng mỗi điều đó.

Tuy nhiên, đối với triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle (384-322 TCN), cách tiếp cận như trên là đã hiểu sai bản chất của tình yêu. Với ông, dạng thức đích thực của tình yêu không phải là niềm đam mê mãnh liệt hay hành động hoành tráng vào một ngày duy nhất trong năm. Thay vào đấy, đó là sự cam kết bền bỉ để giúp người mình yêu trở thành phiên bản tốt nhất của chính họ thông qua những thực hành chăm sóc thường nhật.

Aristotle đã viết rất nhiều về tình yêu, tình bạn và vị trí của chúng trong một đời sống tốt đẹp. Cuốn sách chính của ông về đạo đức, “Đạo đức Nicomachean” (350 trước Công nguyên) – được đặt theo tên con trai ông một cách đầy trìu mến – là tác phẩm kinh điển về đức hạnh và hạnh phúc.

Aristotle vốn là người quan sát tinh tường về cuộc sống con người, triết học của ông dựa trên sự hiểu biết thực sự về nhân loại – cảm xúc, nhu cầu, thói quen và cách chúng ta sống cùng nhau. Ông lập luận rằng con người là động vật xã hội, vì vậy chúng ta phải sống trong xã hội và nỗ lực vì lợi ích chung. Hơn thế nữa, chúng ta là những sinh vật có xu hướng “ghép cặp”. Việc kết đôi và chia sẻ cuộc đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều thú vị là, ông tin rằng điều này đồng nghĩa với học cách yêu thương bản thân, cũng như yêu thương người khác.

Print Friendly and PDF