13.2.26

Tôi đọc anh là để mến yêu anh

TÔI ĐỌC ANH LÀ ĐỂ MẾN YÊU ANH

TS Hoàng Thị Thu Thủy

Khi đọc tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng, tôi thực sự xúc động. Xúc động vì thể loại tiểu thuyết về nhiều phương diện đã và đang báo trước sự phát triển tương lai của một nền văn học (tiểu thuyết là nơi người đọc được trau dồi ngôn ngữ). Và còn bởi vì, vào năm 2020, tôi tình cờ đọc bài thơ “Chúng ta không cần phải đẹp lắm” của anh đăng trong mục “Thơ tình thứ bảy”, tôi hăm hở viết lời bình vì thấy quá hay. Lúc đó tôi biết về anh rất ít, nên lần này được gặp anh quả là một ân huệ.

Khi nhận sách từ anh tặng, tôi đọc “Thuyền” mà như đang thực hiện một nghi lễ nào đó rất thiêng liêng, đọc chậm, đọc kĩ.

“Tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài.”[1]

Tiểu thuyết “Thuyền” gần như một biên niên sử về một giai đoạn lịch sử của một dân tộc lắm tai nhiều họa, nơi mà thân phận con người chịu nhiều đau thương trong những biến động dữ dội. Cuộc ra đi của đoàn người qua các địa danh: Bến Ninh Kiều, Cầu Khỉ, Chợ Cầu Muối, Sông Hậu… không hề suôn sẻ, lúc bị đuổi, lúc bị bắn, lúc trốn chui trốn lủi… trong chặng đường mờ mịt đó có những chi tiết khiến lòng người se thắt: cô gái bảo anh mua đôi dép, chỉ đường cho anh đến bến xe, không bắt anh (Cái giếng, tr.38–tr.47), chi tiết người phụ nữ bước đến cho đứa trẻ khát sữa bú (Sữa, tr.66-tr.71), hay chi tiết “đôi dép” trong chương Thủy táng (tr.124-128) thấm đẫm nhân văn. Chi tiết nghệ thuật là nơi nhà văn gửi gắm quan niệm nghệ thuật về con người, là nơi kí thác những dằn vặt, trăn trở của nhà văn trước cuộc đời.

Với “Thuyền”, Nguyễn Đức Tùng rất giỏi xử lý chi tiết, ở đó bộc lộ sự sáng tạo, tài năng và tầm vóc tư tưởng của nhà văn.

Print Friendly and PDF

11.2.26

Tuyên ngôn của phần bản chất tốt đẹp của nhân dân Mỹ (Abraham Lincoln)

THE BETTER ANGELS OF OUR NATURE

Hay là Tuyên ngôn của phần bản chất tốt đẹp của nhân dân Mỹ

Abraham Lincoln

Chúng ta không phải là kẻ thù, mà là bạn. Chúng ta không được phép là kẻ thù. Ngay cả khi sự cuồng nộ có thể đã làm chúng ta căng thẳng, nhưng nó không được phép phá vỡ sợi dây tình cảm của chúng ta. Những sợi dây đàn ký ức huyền bí, …, chắc chắn sẽ được chạm đến, bởi những thiên thần tốt đẹp hơn trong bản chất của chúng ta.

— Abraham Lincoln

Ảnh Abraham Lincoln (1860) của George Peter Alexander Healy. PHOTO CORBISGETTY IMAGES

 

Xem thêm:

Diễn văn Gettysburg:

https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/dien-van-gettysburg/

Abraham Lincoln: Phác họa tiểu sử

https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/abraham-lincoln-phac-hoa-tieu-su/

 

Trong ngôn ngữ Anh (Mỹ) có một số cụm từ trở thành thành ngữ xuất phát từ văn từ và ý tưởng của Abraham Lincoln. Một trong số đó là cụm The Better Angels of Our Nature. Một trong những tác giả đương đại đưa nó vào tên của sách mình là nhà tâm lý học Canada Steven Pinker trong tác phẩm nổi tiếng The Better Angels of Our Nature: Why Violence Has Declined (2011)Quyển sách này đã trở thành gối đầu giường của Bill Gates. Hay quyển sách của Jon Meacham, The Soul of America. The battle for our better angels (2018). Abraham Lincoln là một “poet”, văn ông là Dichtung.

Print Friendly and PDF

9.2.26

Tại sao sách thiếu nhi lại quan trọng

TẠI SAO SÁCH THIẾU NHI LẠI QUAN TRỌNG

Truyện hư cấu của thiếu nhi có sức mạnh gợi mở một thể cách tồn tại khác. Lúc này chúng ta cần điều đó hơn bao giờ hết.

Tác giả: Penelope Lively

Minh họa của John Tenniel từ tác phẩm Alice's Adventures in Wonderland (Alice ở xứ sở thần tiên)/Alamy

Tại sao văn học thiếu nhi lại quan trọng? Trong một bài luận dài về về tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên và tác giả Lewis Carroll, W.H. Auden phát biểu: “Có những cuốn sách hay chỉ dành cho người lớn, bởi để hiểu chúng thì đòi hỏi chúng ta cần có những trải nghiệm sống của người lớn, nhưng chẳng có cuốn sách hay nào chỉ dành riêng cho trẻ em cả.”

Chính xác là vậy. Vậy điều gì chứa đựng trong những cuốn sách có ý nghĩa với mọi lứa tuổi này? Tôi nghĩ rằng chúng ta, những người viết cho cả người lớn lẫn trẻ em - và không có nhiều người như thế - đều biết rằng sách thiếu nhi là một nỗ lực đặc biệt. Bạn đang viết cho một người hoàn toàn không biết gì về văn chương, không có định kiến ​​về việc một câu chuyện nên ra sao, nên diễn ra thế nào. Vậy nên… hãy buông bỏ những định kiến và để trí óc được tự do bay bổng mà không bị ràng buộc bởi những giả định của chính mình về cách kể chuyện.

Tất nhiên có thay đổi về phong cách khi viết cho trẻ em, nhưng bạn không [hạ mình xuống mà] viết cho chúng, mà bạn viết dựa trên những mối quan tâm và sở thích của người lớn. Bạn làm dịu lại, chỉnh sửa và bổ sung những điều đó - như Auden cũng từng nói - nhưng trải nghiệm của người lớn phải lùi về phía sau: bạn trở lại chính mình ngày xưa cũ, nhưng được phú cho quyền năng diệu kì là khả năng diễn đạt của người lớn.

Print Friendly and PDF

7.2.26

Một địa điểm, hai bài phát biểu – Mark Carney đã bỏ xa Donald Trump như thế nào tại Davos?

MỘT ĐỊA ĐIỂM, HAI BÀI PHÁT BIỂU – MARK CARNEY ĐÃ BỎ XA DONALD TRUMP NHƯ THẾ NÀO TẠI DAVOS?

Thủ tướng Canada, Mark Carney, đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi cho bài phát biểu được trình bày bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh của mình tại Davos. EPA/Gian Ehrenzeller

Hội nghị và địa điểm tổ chức vẫn là một nhưng phong cách và giọng điệu của hai bài phát biểu chủ đạo được mong đợi nhất tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở thị trấn Davos của Thụy Sĩ lại hoàn toàn khác biệt. Vào thứ Ba, ngày 20 tháng 1, Thủ tướng Canada Mark Carney đã phát biểu trước các nhà lãnh đạo chính trị và doanh nghiệp đang tề tựu tại đó như một người thuộc nhóm này: một nhà lãnh đạo quốc gia có chuyên môn sâu rộng về tài chính.

Ông nói về “sự đứt gãy” trong trật tự thế giới và nghĩa vụ của các quốc gia phải hợp lực thông qua các liên minh phù hợp vì lợi ích chung. Đó là lời tụng ca chủ nghĩa đa phương, nhưng đồng thời cũng thừa nhận rằng Mỹ sẽ không còn là chất keo kết dính các liên minh nữa. Ông Carney không hề nhắc đến tên Hoa Kỳ trong bài phát biểu của mình, thay vào đó ông nói về “các cường quốc” và “các quốc gia bá quyền”.

Print Friendly and PDF

5.2.26

Sartre trong tôi: một hoài niệm triết học và sự dấn thân

SARTRE TRONG TÔI

MỘT HOÀI NIỆM TRIẾT HỌC VÀ SỰ DẤN THÂN

Bùi Văn Nam Sơn

Trình bày tại Khoa triết, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Hà Nội ngày 11.12.2025

 Riêng kính tặng Anh Lữ Phương

Tóm Tắt (Abstract)

Bài thuyết trình là một hồi niệm cá nhân về tác động sâu sắc của triết học Jean-Paul Sartre, đặc biệt là “triết học hiện sinh”, đối với một bộ phận không nhỏ giới trí thức trẻ ở Miền Nam Việt Nam vào những năm 1960 thế kỷ trước.

1. Bối cảnh tiếp nhận độc đáo

- Miền Nam thập niên 1960 sống trong không khí căng thẳng, vừa ngột ngạt vừa sôi sục do chiến tranh, bom đạn và sự lo âu thường trực về cái chết, khiến các hệ thống triết học cổ điển trở nên quá xa vời và lạnh lùng.

- Thế hệ trẻ khao khát một triết học không chỉ để giải thích thế giới mà trước hết để góp phần giải quyết nỗi đau, sự lo âu và chỉ ra cách sống, cách hành động, giữ gìn phẩm giá con người giữa thế giới vỡ vụn.

- Trong khi tại Châu Âu, triết học Sartre bắt đầu bị xem là “lỗi thời” và bị văn hóa đại chúng xuyên tạc thành lối sống buông thả, nổi loạn vô mục đích; thì tại Miền Nam (thuộc cái gọi là “thế giới thứ ba” lúc bấy giờ đang oằn mình trong bom đạn), Sartre lại được đón nhận với sự nghiêm túc và được xem như một vũ khí tinh thần. Triết lý của ông khẳng định phẩm giá con người và trở thành sức mạnh để chống lại định mệnh “nhược tiểu”.

2. Tác động cốt lõi của tư tưởng Sartre

Tư tưởng Sartre đã để lại bốn dấu ấn khó phai mờ:

- Ý nghĩa trong phi lý: Khẳng định thế giới tự nó vô nghĩa, nhưng chính vì thế, con người bị “kết án” phải tự mình sáng tạo ra giá trị. Chiến tranh là lời thách thức để khắc tạc ý nghĩa lên cuộc đời bằng hành động.

- Chống lại “ngụy tín” (Mauvaise foi): Sartre lột trần hành vi tự lừa dối mình, biến mình thành nạn nhân thụ động của hoàn cảnh (như than vãn “chỉ là hạt cát trong cơn bão lịch sử” hay “thân phận nhược tiểu”). Ông bảo rằng đó là sự hèn nhát hữu thể học và con người luôn có tự do để vượt qua “kiện tính/facticité” đó.

- Dũng khí của Tự do: Tự do mà Sartre nói đến là “Tự do trong cảnh ngộ”. Chiến tranh là cảnh ngộ, nhưng sự lựa chọn hành động trước cảnh ngộ đó là tự do. Triết học của ông trao dũng khí để chịu trách nhiệm tuyệt đối, đơn độc cho mọi lựa chọn của mình.

- Tâm phân học hiện sinh và Đạo đức học liên đới: Sartre hướng con người nhìn về tương lai bằng lựa chọn nguyên thủy và dự phóng nền tảng (khác với tâm phân học của Freud hướng về quá khứ), giúp tái định hướng cuộc đời. Ông cũng gợi mở một nền đạo đức học liên đới, khẳng định “Khi tôi chọn cho mình, tôi chọn cho toàn thể nhân loại”.

3. Sự hạnh ngộ độc đáo: Sartre và Marx

- Chiếc cầu nối: Sartre đóng vai trò là chiếc cầu nối để bộ phận tích cực trong giới trí thức thành thị tiếp cận Chủ nghĩa Marx. Ông nói ngôn ngữ của tự do cá nhân, nhưng dẫn đến những kết luận của Marx một cách tự nhiên. Sartre góp phần khai quật tiềm năng và di sản quý báu nhất: tư duy phê phán triệt để và khát vọng chống mọi hình thức tha hóa của Marx.

- Dấn thân: Khái niệm này là nhịp cầu quan trọng nhất. Sartre đập tan ảo tưởng về sự “vô tư” của trí thức, khẳng định “Không dấn thân cũng là một cách dấn thân”. Lời kêu gọi này thúc đẩy trí thức rời “tháp ngà” ra đường phố đấu tranh.

- Sartre khẳng định Marx là “triết học không thể vượt qua của thời đại”, nhưng cảnh báo nguy cơ xơ cứng nếu thiếu đi cái nhìn hiện sinh về con người và phẩm giá cá nhân.

- Sự kết hợp này nuôi dưỡng một tinh thần phê phán (“esprit critique”) thường trực, tạo ra một thế hệ trí thức dấn thân, nhưng tỉnh táo, khao khát sự phồn vinh cho dân tộc nhưng không quên cảnh giác trước các hình thức mới của sự suy thoái, tha hóa, khép kín và giáo điều. Hơn 50 năm nhìn lại, cần một sự công bằng và bao dung, không phải của sự đúng/sai nhất thời mà như một hiện tượng tiếp phát văn hóa độc đáo và đáng quý.

4. Dư âm và giá trị hiện đại

Sartre vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên số, nơi con người đối diện với nguy cơ bị “vật hóa” thành dữ liệu và bị điều khiển bởi thuật toán. Ông là lời nhắc nhở đanh thép chống lại ngụy tín mới, không trốn chạy và khẳng định con người là một “sự vượt qua”, lớn hơn những dữ liệu lớn, có quyền năng “hư vô hóa” để sáng tạo và kiến tạo nên con người mình muốn trở thành.

Từ Khóa

Jean-Paul Sartre, Triết học hiện sinh, Dấn thân, Tồn tại và Hư vô, Ngụy tín, Tự do (Bị kết án phải tự do), Cảnh ngộ/Tự do trong cảnh ngộ, Hiện hữu có trước bản chất, Kiện tính, Dự phóng nền tảng, Chủ nghĩa Marx, Tinh thần phê phán, Khai phóng, Thế hệ trí thức Miền Nam (những năm 1960).

Print Friendly and PDF

3.2.26

Những cuộc chiến tranh nha phiến kỹ thuật số mới

NHỮNG CUỘC CHIẾN TRANH NHA PHIẾN KỸ THUẬT SỐ MỚI


Một thuốc an thần về thuật toán, được sản xuất tại các đế quốc hậu quốc gia và được phổ biến trên khắp thế giới đang ru ngủ châu Âu.

Đó là một cơn ác mộng – nhưng thức tỉnh cũng chưa muộn lắm.

Tác giả: André Wilkens[*]

Chính là ở Brussels, trong một cuộc thảo luận mới đây về các siêu cường kỹ thuật số, tôi mới hiểu là tôi không đủ từ để diễn đạt những điều mà tôi đã cảm nhận. Cuộc họp đã bảo hoà với những ngôn từ quen thuộc – trí tuệ nhân tạo, hồi phục, chủ quyền, dân chủ, tin cậy các dữ liệu – nhưng tôi đã cảm thấy bị xâm lấn bởi một màn sương mù kỳ lạ.

Thực sự, không phải là tôi đã không đồng ý. Chỉ là tôi hoàn toàn mất phương hướng.

Sau đó, trong buổi tối, tôi đọc lại một bài báo cũ trong đó tôi đã viết về tình trạng của lục địa (châu Âu) như là một chiến trường giữa các lực lượng bên trong và bên ngoài đối đầu nhau chủ yếu trong lĩnh vực kỹ thuật số.

Bức tranh có tính khích động này đã trở thành hiện thực – nhưng cần một hiện thực khác phản ánh tốt hơn những hiện thực của ngày nay.

Những tương đồng lịch sử thật là hấp dẫn.

Những tương đồng này là trợ lực của sự quen thuộc, bằng cách phóng chiếu hiện tại vào hình dạng của quá khứ. Chúng giúp chúng ta cảm thấy ăn sâu vào gốc rễ - một phần của câu chuyện lớn hơn – và cho chúng ta ảo tưởng làm chủ được những điều vuột khỏi sự kiểm soát của chúng ta. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng hiện diện khắp nơi trong thời đại của chúng ta.

Nhưng những tương đồng này luôn luôn là phiến diện, luôn luôn có phần lệch pha. Chúng có thể làm chúng ta chìm đắm trong niềm hoài niệm.

Vậy mà tôi lại đang tìm một sự tương đồng.

Print Friendly and PDF

1.2.26

Vì sao trí tuệ nhân tạo chưa dẫn đến tình trạng thất nghiệp hàng loạt?

VÌ SAO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CHƯA DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP HÀNG LOẠT?

Lightspring/Shutterstock
Con người đã nhanh chóng quen với việc sống chung với AI. ChatGPT mới chỉ ra đời được hơn ba năm, nhưng đã thay đổi cách thức giao tiếp hoặc xử lý lượng thông tin lớn của nhiều người trong chúng ta.

Điều này cũng dẫn đến những lo ngại nghiêm trọng về việc làm. Bởi vì nếu máy móc trở nên giỏi hơn con người trong việc đọc các văn bản pháp luật phức tạp, hoặc dịch ngôn ngữ, hoặc trình bày lập luận, thì những nhân viên truyền thống đó sẽ trở nên thừa thãi phải không? Chắc rằng tình trạng thất nghiệp hàng loạt đang cận kề?

Tuy nhiên, khi nhìn vào những con số chủ chốt của nền kinh tế, thì thực tế lại không phải như vậy.

Tỷ lệ thất nghiệp ở EU đang ở mức thấp kỷ lục, khoảng 6%, bằng một nửa so với mười năm trước. Tại Anh, tỷ lệ này thậm chí còn thấp hơn, ở mức 5,1%, xấp xỉ mức của thời kỳ bùng nổ đầu những năm 2000, và thậm chí còn thấp hơn nữa (4,4%) ở Mỹ.

Lý do tại sao vẫn còn rất nhiều việc làm là vì trong khi công nghệ khiến một số công việc trở nên lỗi thời, nó cũng tạo ra những loại việc mới.

Chuyện này đã từng xảy ra trước đây. Ví dụ, vào năm 1800, khoảng một phần ba số lao động người Anh là nông dân. Hiện nay, tỷ lệ người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ còn khoảng 1%.

Việc tự động hóa nông nghiệp đã giúp đất nước này trở thành cường quốc hàng đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp.

Hoặc gần đây hơn, sau khi máy ATM đầu tiên trên thế giới được Barclays ra mắt tại London vào năm 1967, người ta lo ngại rằng nhân viên tại các chi nhánh ngân hàng trên phố sẽ biến mất.

Thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Tại Mỹ, trong suốt 30 năm phát triển của máy ATM, số lượng giao dịch viên ngân hàng thực ra đã tăng 10%. Máy ATM giúp giảm chi phí mở chi nhánh ngân hàng (vì cần ít giao dịch viên hơn) và nhiều cộng đồng hơn được tiếp cận với các dịch vụ tài chính.

Chỉ đến hiện tại, khi mà mọi điện thoại đều cài được ứng dụng ngân hàng, số lượng nhân viên ngân hàng truyền thống mới đang tụt dốc không phanh.

Print Friendly and PDF

30.1.26

Liệu AI Grok của Musk có phục vụ cho chủ nghĩa phát xít công nghệ không?

LIỆU AI GROK CỦA MUSK CÓ PHỤC VỤ CHO CHỦ NGHĨA PHÁT XÍT CÔNG NGHỆ KHÔNG?

Tác giả: Jonathan Durand Folco

Giáo sư liên kết, Đại Học Saint Paul

Lúc tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nhậm chức, Elon Musk hai lần giơ tay chào dường như tương tự với cách chào của Đức quốc xã. CP/AP photos

Đầu tháng 7, bản cập nhật Grok đã gặp trục trặc nghiêm trọng: AI của Elon Musk đã tạo ra những phát ngôn bài Do Thái và tự xưng là “Mecha-Hitler”. Chưa đầy hai tuần sau, công ty phát triển Grok, xAI, đã ký được hợp đồng trị giá 200 triệu đô la với Lầu Năm Góc.

Liệu chúng ta có nên lo sợ rằng một trí tuệ nhân tạo không có rào cản sẽ tiếp liệu cho bộ máy quân sự Mỹ?

Trong số rất nhiều chatbot trên thị trường, có một chatbot nổi bật với tham vọng thoát khỏi những giới hạn của “tính đúng đắn về mặt chính trị”: Grok. Mục tiêu của trí tuệ nhân tạo phái sinh này, một công ty con của Elon Musk, là vượt qua khả năng của các đối thủ cạnh tranh (như ChatGPT, Claude, Gemini, Copilot), đồng thời tự ghi khắc trong một viễn cảnh “chống woke[*], tức là không bị chi phối bởi sự “kiểm duyệt” hay bởi các quy tắc đạo đức quá cứng nhắc.

Ngay từ tháng 4 năm 2023, doanh nhân tỷ phú này đã khởi động dự án “TruthGPT”, với mục tiêu tạo ra “một AI tìm kiếm sự thật tối đa, cố gắng hiểu bản chất của vũ trụ”, đồng thời cung cấp một giải pháp thay thế cho “những thành kiến tự do chủ nghĩa” của ChatGPT.

Print Friendly and PDF

28.1.26

Việc Trung Quốc kiểm soát khoáng sản đất hiếm có thể tạo ra những thách thức cho các kế hoạch phát triển công nghệ xanh của phương Tây

VIỆC TRUNG QUỐC KIỂM SOÁT KHOÁNG SẢN ĐẤT HIẾM CÓ THỂ TẠO RA NHỮNG THÁCH THỨC CHO CÁC KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ XANH CỦA PHƯƠNG TÂY

Tác giả: Chee Meng Tan

Xe điện phụ thuộc vào các khoáng chất đất hiếm, mà hầu hết chúng đều được khai thác ở Trung Quốc. Nguồn ảnh: Wirestock Creators/Shutterstock

Trung Quốc mới đây tuyên bố sẽ áp đặt các biện pháp kiểm soát mới đối với hoạt động xuất khẩu các khoáng sản đất hiếm, việc này châm ngòi cho một vòng tranh chấp mới trong cuộc thương chiến đang diễn ra giữa nước này và Hoa Kỳ.

Donald Trump đáp trả bằng cách đe dọa tăng thuế quan đối với các sản phẩm Trung Quốc thêm 100%. Vấn đề này sẽ được thảo luận khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và ông Trump gặp nhau vào ngày 30 tháng 10 [năm 2025] tại Hội nghị Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ở Hàn Quốc.

Ông Trump và ông Tập Cận Bình hiện cho biết họ đã đạt được thỏa thuận về việc tiếp cận các loại đất hiếm quý giá của Trung Quốc, nhưng những chi tiết cụ thể vẫn chưa được rõ. Tuy nhiên, rõ ràng là việc đạt được một thỏa thuận nào đó về thành phần thiết yếu cho công nghệ xanh này là rất quan trọng đối với tổng thống Hoa Kỳ.

Trung Quốc đã xây dựng được thế độc quyền hiệu quả đối với các kim loại đất hiếm, 17 nguyên tố kim loại thực chất không hiếm nhưng rất khó khai thácchế biến. Hầu hết các xe điện (EV), điện thoại thông minh hoặc tấm pin năng lượng mặt trời đều phụ thuộc vào các khoáng sản đất hiếm này.

Print Friendly and PDF

26.1.26

“Bài phát biểu của Carney rất dũng cảm – bởi vì nó đầy rủi ro,” theo một chuyên gia

“BÀI PHÁT BIỂU CỦA CARNEY RẤT DŨNG CẢM – BỞI VÌ NÓ ĐẦY RỦI RO,” THEO MỘT CHUYÊN GIA

Tác giả: Mireille Lalancette

Thủ tướng Canada Mark Carney phát biểu tại cuộc họp thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, ngày 20 tháng 1 năm 2026. (Ảnh AP/Markus Schreiber)

Bài phát biểu của Thủ tướng Mark Carney hôm thứ Ba tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, được thúc đẩy bởi chủ nghĩa thực dụng mà cựu Thống đốc Ngân hàng Anh đã ủng hộ kể từ khi bước vào chính trường, đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với quan hệ quốc tế của Canada.

Xem thêm: Mark Carney tại Davos: một bước ngoặt 180 độ trong quan hệ với Hoa Kỳ (Mark Carney à Davos: virage à 180 degrés dans les relations avecles États-Unis)

Thượng nghị sĩ kiêm cựu nhà ngoại giao Canada Peter Boehm mô tả bài phát biểu của Carney là “bài phát biểu quan trọng nhất của một thủ tướng Canada kể từ Louis Saint-Laurence năm 1947”, trong khi một số nhà phân tích so sánh nó với bài phát biểu của Thủ tướng Anh Winston Churchill về Bức màn Sắt.

Liệu đó có phải là quyết định đúng đắn khi xét đến những hệ quả và sự trả đũa tiềm tàng? Mặc dù khó có thể dự đoán tác động thực sự của một bài phát biểu chính trị, Mireille Lalancette, giáo sư truyền thông chính trị tại UQTR/Đại Học Québec, lưu ý rằng Carney đã khéo léo sử dụng các quy tắc của diễn ngôn và các kỹ thuật hùng biện để truyền tải thông điệp của mình. Về điểm này, bà nhận thấy sự gần gũi giữa Carney và Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, người nổi tiếng với câu nói: “Đừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước”.

Print Friendly and PDF