Nguyễn Duy
Chúc Tết Bính Ngọ
Tai ương như rắn bò đi
Mừng năm mới vó ngựa phi vươn mình
Chúc cho thiên hạ thái bình
Triều đình cùng với chúng sinh say mèm!
Thy sĩ Ủa
(Tết Bính Ngọ - 2026)
Nhân dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026,
Phân Tích Kinh Tế xin trân trọng gửi tới Quý Bạn đọc, Dịch giả và Cộng tác viên lời Chúc mừng Năm mới Sức khỏe dồi dào, Bình an viên mãn và Vạn sự tốt lành.
Trong không khí thiêng liêng của thời khắc chuyển giao năm mới, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với sự tin tưởng, đồng hành và những đóng góp quý báu của Quý vị trong suốt thời gian qua. Sự quan tâm, chia sẻ tri thức và tinh thần trách nhiệm của cộng đồng chính là nền tảng quan trọng góp phần xây dựng và phát triển Phân Tích Kinh Tế theo định hướng học thuật nghiêm túc, khách quan và bền vững.
Bước sang năm mới, chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ và hợp tác của Quý vị, để cùng nhau lan tỏa tri thức và đóng góp tích cực cho cộng đồng nghiên cứu và bạn đọc quan tâm.
Kính chúc Quý vị và gia quyến một Năm mới An khang và Thịnh vượng.
Trân trọng,
Ban Biên Tập Phân Tích Kinh Tế
Các mục về sách của Bourdieu và các mục liên quan đến Algérie trong Từ điển quốc tế về Bourdieu
BỊ BẬT GỐC. CUỘC KHỦNG HOẢNG CUẢ NỀN NÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG Ở ALGÉRIE [DÉRACINEMENT (LE). LA CRISE DE L’AGRICULTURE TRADITIONNELLE EN ALGÉRIE]
![]() |
![]() |
Với tựa đề phụ “La crise de l’agriculture traditionnelle en Algérie/Cuộc khủng hoảng của nền nông nghiệp truyền thống ở Algérie”, cuốn sách này, được soạn thảo cùng với Abdelmalek Sayad, được Nhà xuất bản Minuit xuất bản năm 1964. Đây là kết quả của một cuộc điều tra được thực hiện trong cùng điều kiện và cùng thời kỳ (từ năm 1959 đến năm 1960) với tác phẩm Travail et travailleurs en Algérie/Lao động và người lao động ở Algérie. Để hiểu được tác động của chiến tranh và của sự đàn áp đối với dân thường, Pierre Bourdieu và nhóm của ông đã đi vào các vùng chiến sự để gặp gỡ những người nông dân bị ồ ạt tập trung lại trong các trại tập trung, trong những điều kiện mà chính ông cho là “nguy hiểm”. Mục tiêu của các tác giả là mô tả các trại tập trung do quân đội khởi xướng chứ không phải ghi chép một cách có hệ thống các cuộc can thiệp của quân đội vào các làng mạc truyền thống, trong số đó một số vẫn còn hoạt động một phần lâu sau khi Algérie giành được độc lập. Điều này được minh chứng qua các bộ phim của Ahmed Rachedi, L’Opium et le bâton, về Chiến tranh Algérie, La Colline oubliée của Abderrahmane Bouguermouh và La Montagne de Baya của Azzedine Meddour, được quay tại các ngôi làng Kabyle trước chiến tranh.
Chính sách tập trung này do chính quyền Pháp thực hiện nhằm mục đích kiểm soát hoàn toàn mọi hoạt động của người dân và ngăn chặn họ cung cấp thông tin và tiếp tế cho các thành viên của ALN (Quân đội Giải phóng Dân Tộc). Chiến dịch này nhằm mục đích biện minh cho sự đàn áp bằng cách tuyên bố bất kỳ ai ở lại các khu vực bị cấm là “phiến quân”, trái ngược với những cư dân của các ngôi làng vẫn giữ được kiến trúc và phần nào lối sống của họ (múc nước từ nguồn nước, thu hoạch ô liu, làm việc trên đồng ruộng) dưới sự giám sát của quân đội. Trong trường hợp này, chính quân đội đã định cư ngay tại làng.
Quá trình này dần dần lan rộng khắp cả nước, nơi mà vào tháng 1 năm 1959, không dưới 936 trại đã được kiểm kê. Ngay từ năm 1955 trở đi, mục tiêu là tập trung dân chúng dựa trên học thuyết “chiến tranh cách mạng” được phát triển từ kinh nghiệm ở Đông Dương và được phổ biến trong bộ tổng tham mưu. Do đó, nhiệm vụ của quân đội Pháp không chỉ giới hạn ở cuộc chiến chống lại Quân Đội Giải Phóng Dân Tộc (ALN), nó còn bao gồm các hành động nhắm vào các nhóm dân cư được tập hợp lại với mục đích khuyến khích họ ủng hộ Pháp. Với mong muốn cắt đứt phong trào kháng chiến với những người ủng hộ ở địa phương, quân đội đã phá hủy các cấu trúc xã hội và kinh tế cũng như nhịp sống trong không gian-thời gian của dân chúng (thay đổi nơi sống và tước đoạt đất đai), như Bourdieu và Sayad đã chỉ ra sau nhiều tháng điều tra (từ năm 1959 đến năm 1961) tại các trại tập trung nông dân [PB 1964a]. Cuộc điều tra này do đó đã tiết lộ những tác động của một chính sách được giữ bí mật, được thiết lập từ năm 1955 và trở nên có hệ thống vào năm 1958, bởi một thế lực quân sự đã thách thức luật pháp của nền Cộng hòa.
| Canvas |
Ngày lễ Tình nhân theo truyền thống là dịp của những quả bóng bay hình trái tim, những bông hồng giá trên trời và các nhà hàng kín hết chỗ. Các cặp đôi hôn nhau và nắm tay, những bức ảnh tự sướng cười tươi để kỷ niệm cho ngày phô bày tình cảm công khai.
Tại sao nhiều người trong chúng
ta lại cảm thấy áp lực phải có những hành động bày tỏ tình cảm hoành tráng, mua
quà đắt đỏ và bày ra đủ kiểu thể hiện tình cảm cầu kỳ đến vậy? Có lẽ là để chứng
minh tình yêu. Ngày Valentine là
màn thể hiện đầy phô trương, chỉ một lần mỗi năm, và hứa hẹn làm đúng mỗi điều
đó.
Tuy nhiên, đối với triết gia Hy Lạp
cổ đại Aristotle (384-322
TCN), cách tiếp cận như trên là đã hiểu sai bản chất của tình yêu. Với ông, dạng
thức đích thực của tình yêu không phải là niềm đam mê mãnh liệt hay hành động
hoành tráng vào một ngày duy nhất trong năm. Thay vào đấy, đó là sự cam kết bền
bỉ để giúp người mình yêu trở thành phiên bản tốt nhất của chính họ thông qua những
thực hành chăm sóc thường nhật.
Aristotle
đã viết rất nhiều về tình yêu, tình bạn và vị trí của chúng trong một đời sống
tốt đẹp. Cuốn sách chính của ông về đạo đức, “Đạo đức Nicomachean” (350 trước Công nguyên) – được
đặt theo tên con trai ông một cách đầy trìu mến – là tác phẩm kinh điển về đức
hạnh và hạnh phúc.
Aristotle vốn là người quan sát tinh tường về cuộc sống con người, triết học của ông dựa trên sự hiểu biết thực sự về nhân loại – cảm xúc, nhu cầu, thói quen và cách chúng ta sống cùng nhau. Ông lập luận rằng con người là động vật xã hội, vì vậy chúng ta phải sống trong xã hội và nỗ lực vì lợi ích chung. Hơn thế nữa, chúng ta là những sinh vật có xu hướng “ghép cặp”. Việc kết đôi và chia sẻ cuộc đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều thú vị là, ông tin rằng điều này đồng nghĩa với học cách yêu thương bản thân, cũng như yêu thương người khác.
TÔI ĐỌC ANH LÀ ĐỂ MẾN YÊU ANH
TS Hoàng Thị Thu Thủy
Khi đọc tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng, tôi thực sự xúc động. Xúc động vì thể loại tiểu thuyết về nhiều phương diện đã và đang báo trước sự phát triển tương lai của một nền văn học (tiểu thuyết là nơi người đọc được trau dồi ngôn ngữ). Và còn bởi vì, vào năm 2020, tôi tình cờ đọc bài thơ “Chúng ta không cần phải đẹp lắm” của anh đăng trong mục “Thơ tình thứ bảy”, tôi hăm hở viết lời bình vì thấy quá hay. Lúc đó tôi biết về anh rất ít, nên lần này được gặp anh quả là một ân huệ.
Khi nhận sách từ anh tặng, tôi đọc “Thuyền” mà như đang thực hiện một nghi lễ nào đó rất thiêng liêng, đọc chậm, đọc kĩ.
“Tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài.”[1]
Tiểu thuyết “Thuyền” gần như một biên niên sử về một giai đoạn lịch sử của một dân tộc lắm tai nhiều họa, nơi mà thân phận con người chịu nhiều đau thương trong những biến động dữ dội. Cuộc ra đi của đoàn người qua các địa danh: Bến Ninh Kiều, Cầu Khỉ, Chợ Cầu Muối, Sông Hậu… không hề suôn sẻ, lúc bị đuổi, lúc bị bắn, lúc trốn chui trốn lủi… trong chặng đường mờ mịt đó có những chi tiết khiến lòng người se thắt: cô gái bảo anh mua đôi dép, chỉ đường cho anh đến bến xe, không bắt anh (Cái giếng, tr.38–tr.47), chi tiết người phụ nữ bước đến cho đứa trẻ khát sữa bú (Sữa, tr.66-tr.71), hay chi tiết “đôi dép” trong chương Thủy táng (tr.124-128) thấm đẫm nhân văn. Chi tiết nghệ thuật là nơi nhà văn gửi gắm quan niệm nghệ thuật về con người, là nơi kí thác những dằn vặt, trăn trở của nhà văn trước cuộc đời.
Với “Thuyền”, Nguyễn Đức Tùng rất giỏi xử lý chi tiết, ở đó bộc lộ sự sáng tạo, tài năng và tầm vóc tư tưởng của nhà văn.
THE BETTER ANGELS OF OUR NATURE
Hay là Tuyên ngôn của phần bản chất tốt đẹp của nhân dân Mỹ
Abraham Lincoln
Chúng ta không phải là kẻ thù, mà là bạn. Chúng ta không được phép là kẻ thù. Ngay cả khi sự cuồng nộ có thể đã làm chúng ta căng thẳng, nhưng nó không được phép phá vỡ sợi dây tình cảm của chúng ta. Những sợi dây đàn ký ức huyền bí, …, chắc chắn sẽ được chạm đến, bởi những thiên thần tốt đẹp hơn trong bản chất của chúng ta.
— Abraham Lincoln

Ảnh Abraham Lincoln (1860) của George Peter Alexander Healy.
PHOTO CORBISGETTY IMAGES
Xem thêm:
Diễn văn Gettysburg:
https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/dien-van-gettysburg/
và
Abraham Lincoln: Phác họa tiểu sử:
https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/abraham-lincoln-phac-hoa-tieu-su/
Trong ngôn ngữ Anh (Mỹ) có một số cụm từ trở thành thành ngữ xuất phát từ văn từ và ý tưởng của Abraham Lincoln. Một trong số đó là cụm The Better Angels of Our Nature. Một trong những tác giả đương đại đưa nó vào tên của sách mình là nhà tâm lý học Canada Steven Pinker trong tác phẩm nổi tiếng The Better Angels of Our Nature: Why Violence Has Declined (2011). Quyển sách này đã trở thành gối đầu giường của Bill Gates. Hay quyển sách của Jon Meacham, The Soul of America. The battle for our better angels (2018). Abraham Lincoln là một “poet”, văn ông là Dichtung.
TẠI SAO SÁCH THIẾU NHI LẠI QUAN TRỌNG
Truyện hư cấu của thiếu nhi có sức mạnh gợi mở một thể cách tồn tại khác. Lúc này chúng ta cần điều đó hơn bao giờ hết.
Tác giả: Penelope Lively
![]() |
| Minh họa của John Tenniel từ tác phẩm Alice's Adventures in Wonderland (Alice ở xứ sở thần tiên)/Alamy |
Tại sao văn học thiếu nhi lại quan trọng? Trong một bài luận dài về về tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên và tác giả Lewis Carroll, W.H. Auden phát biểu: “Có những cuốn sách hay chỉ dành cho người lớn, bởi để hiểu chúng thì đòi hỏi chúng ta cần có những trải nghiệm sống của người lớn, nhưng chẳng có cuốn sách hay nào chỉ dành riêng cho trẻ em cả.”
Chính xác là vậy. Vậy điều gì chứa đựng trong những cuốn sách có ý nghĩa với mọi lứa tuổi này? Tôi nghĩ rằng chúng ta, những người viết cho cả người lớn lẫn trẻ em - và không có nhiều người như thế - đều biết rằng sách thiếu nhi là một nỗ lực đặc biệt. Bạn đang viết cho một người hoàn toàn không biết gì về văn chương, không có định kiến về việc một câu chuyện nên ra sao, nên diễn ra thế nào. Vậy nên… hãy buông bỏ những định kiến và để trí óc được tự do bay bổng mà không bị ràng buộc bởi những giả định của chính mình về cách kể chuyện.
Tất nhiên có thay đổi về phong cách khi viết cho trẻ em, nhưng bạn không [hạ mình xuống mà] viết cho chúng, mà bạn viết dựa trên những mối quan tâm và sở thích của người lớn. Bạn làm dịu lại, chỉnh sửa và bổ sung những điều đó - như Auden cũng từng nói - nhưng trải nghiệm của người lớn phải lùi về phía sau: bạn trở lại chính mình ngày xưa cũ, nhưng được phú cho quyền năng diệu kì là khả năng diễn đạt của người lớn.
Thủ tướng Canada, Mark Carney, đã
nhận được sự ủng hộ rộng rãi cho bài phát biểu được trình bày bằng cả tiếng
Pháp lẫn tiếng Anh của mình tại Davos. EPA/Gian Ehrenzeller
Hội nghị và địa điểm tổ chức vẫn
là một nhưng phong cách và giọng điệu của hai bài phát biểu chủ đạo được mong đợi
nhất tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở thị
trấn Davos của Thụy Sĩ lại hoàn toàn khác biệt. Vào thứ Ba, ngày 20 tháng 1, Thủ
tướng Canada Mark Carney đã
phát biểu trước các nhà lãnh đạo chính trị và doanh nghiệp đang tề tựu tại đó như
một người thuộc nhóm này: một nhà lãnh đạo quốc gia có chuyên môn sâu rộng về
tài chính.
Ông nói về “sự đứt gãy” trong trật tự thế giới và nghĩa vụ của các quốc gia phải hợp lực thông qua các liên minh phù hợp vì lợi ích chung. Đó là lời tụng ca chủ nghĩa đa phương, nhưng đồng thời cũng thừa nhận rằng Mỹ sẽ không còn là chất keo kết dính các liên minh nữa. Ông Carney không hề nhắc đến tên Hoa Kỳ trong bài phát biểu của mình, thay vào đó ông nói về “các cường quốc” và “các quốc gia bá quyền”.
SARTRE TRONG TÔI
MỘT HOÀI NIỆM TRIẾT HỌC VÀ SỰ DẤN THÂN
Bùi Văn Nam Sơn
Trình bày tại Khoa triết, Trường Đại học
Khoa học Xã hội & Nhân văn
Hà Nội ngày 11.12.2025
Riêng kính tặng Anh Lữ Phương
Tóm Tắt (Abstract)
Bài thuyết trình là một hồi niệm cá nhân về tác động sâu sắc của triết học Jean-Paul Sartre, đặc biệt là “triết học hiện sinh”, đối với một bộ phận không nhỏ giới trí thức trẻ ở Miền Nam Việt Nam vào những năm 1960 thế kỷ trước.
1. Bối cảnh tiếp nhận độc đáo
- Miền Nam thập niên 1960 sống trong không khí căng thẳng, vừa ngột ngạt vừa sôi sục do chiến tranh, bom đạn và sự lo âu thường trực về cái chết, khiến các hệ thống triết học cổ điển trở nên quá xa vời và lạnh lùng.
- Thế hệ trẻ khao khát một triết học không chỉ để giải thích thế giới mà trước hết để góp phần giải quyết nỗi đau, sự lo âu và chỉ ra cách sống, cách hành động, giữ gìn phẩm giá con người giữa thế giới vỡ vụn.
- Trong khi tại Châu Âu, triết học Sartre bắt đầu bị xem là “lỗi thời” và bị văn hóa đại chúng xuyên tạc thành lối sống buông thả, nổi loạn vô mục đích; thì tại Miền Nam (thuộc cái gọi là “thế giới thứ ba” lúc bấy giờ đang oằn mình trong bom đạn), Sartre lại được đón nhận với sự nghiêm túc và được xem như một vũ khí tinh thần. Triết lý của ông khẳng định phẩm giá con người và trở thành sức mạnh để chống lại định mệnh “nhược tiểu”.
2. Tác động cốt lõi của tư tưởng Sartre
Tư tưởng Sartre đã để lại bốn dấu ấn khó phai mờ:
- Ý nghĩa trong phi lý: Khẳng định thế giới tự nó vô nghĩa, nhưng chính vì thế, con người bị “kết án” phải tự mình sáng tạo ra giá trị. Chiến tranh là lời thách thức để khắc tạc ý nghĩa lên cuộc đời bằng hành động.
- Chống lại “ngụy tín” (Mauvaise foi): Sartre lột trần hành vi tự lừa dối mình, biến mình thành nạn nhân thụ động của hoàn cảnh (như than vãn “chỉ là hạt cát trong cơn bão lịch sử” hay “thân phận nhược tiểu”). Ông bảo rằng đó là sự hèn nhát hữu thể học và con người luôn có tự do để vượt qua “kiện tính/facticité” đó.
- Dũng khí của Tự do: Tự do mà Sartre nói đến là “Tự do trong cảnh ngộ”. Chiến tranh là cảnh ngộ, nhưng sự lựa chọn hành động trước cảnh ngộ đó là tự do. Triết học của ông trao dũng khí để chịu trách nhiệm tuyệt đối, đơn độc cho mọi lựa chọn của mình.
- Tâm phân học hiện sinh và Đạo đức học liên đới: Sartre hướng con người nhìn về tương lai bằng lựa chọn nguyên thủy và dự phóng nền tảng (khác với tâm phân học của Freud hướng về quá khứ), giúp tái định hướng cuộc đời. Ông cũng gợi mở một nền đạo đức học liên đới, khẳng định “Khi tôi chọn cho mình, tôi chọn cho toàn thể nhân loại”.
3. Sự hạnh ngộ độc đáo: Sartre và Marx
- Chiếc cầu nối: Sartre đóng vai trò là chiếc cầu nối để bộ phận tích cực trong giới trí thức thành thị tiếp cận Chủ nghĩa Marx. Ông nói ngôn ngữ của tự do cá nhân, nhưng dẫn đến những kết luận của Marx một cách tự nhiên. Sartre góp phần khai quật tiềm năng và di sản quý báu nhất: tư duy phê phán triệt để và khát vọng chống mọi hình thức tha hóa của Marx.
- Dấn thân: Khái niệm này là nhịp cầu quan trọng nhất. Sartre đập tan ảo tưởng về sự “vô tư” của trí thức, khẳng định “Không dấn thân cũng là một cách dấn thân”. Lời kêu gọi này thúc đẩy trí thức rời “tháp ngà” ra đường phố đấu tranh.
- Sartre khẳng định Marx là “triết học không thể vượt qua của thời đại”, nhưng cảnh báo nguy cơ xơ cứng nếu thiếu đi cái nhìn hiện sinh về con người và phẩm giá cá nhân.
- Sự kết hợp này nuôi dưỡng một tinh thần phê phán (“esprit critique”) thường trực, tạo ra một thế hệ trí thức dấn thân, nhưng tỉnh táo, khao khát sự phồn vinh cho dân tộc nhưng không quên cảnh giác trước các hình thức mới của sự suy thoái, tha hóa, khép kín và giáo điều. Hơn 50 năm nhìn lại, cần một sự công bằng và bao dung, không phải của sự đúng/sai nhất thời mà như một hiện tượng tiếp phát văn hóa độc đáo và đáng quý.
4. Dư âm và giá trị hiện đại
Sartre vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên số, nơi con người đối diện với nguy cơ bị “vật hóa” thành dữ liệu và bị điều khiển bởi thuật toán. Ông là lời nhắc nhở đanh thép chống lại ngụy tín mới, không trốn chạy và khẳng định con người là một “sự vượt qua”, lớn hơn những dữ liệu lớn, có quyền năng “hư vô hóa” để sáng tạo và kiến tạo nên con người mình muốn trở thành.
Từ Khóa
Jean-Paul Sartre, Triết học hiện sinh, Dấn thân, Tồn tại và Hư vô, Ngụy tín, Tự do (Bị kết án phải tự do), Cảnh ngộ/Tự do trong cảnh ngộ, Hiện hữu có trước bản chất, Kiện tính, Dự phóng nền tảng, Chủ nghĩa Marx, Tinh thần phê phán, Khai phóng, Thế hệ trí thức Miền Nam (những năm 1960).
NHỮNG CUỘC CHIẾN TRANH NHA
PHIẾN KỸ THUẬT SỐ MỚI
Một thuốc an thần về thuật toán, được sản xuất tại các đế quốc hậu quốc gia và được phổ biến trên khắp thế giới đang ru ngủ châu Âu.
Đó là một cơn ác mộng – nhưng thức tỉnh cũng chưa muộn lắm.
Tác giả: André Wilkens[*]
Chính là ở Brussels, trong một cuộc thảo luận mới đây về các siêu cường kỹ thuật số, tôi mới hiểu là tôi không đủ từ để diễn đạt những điều mà tôi đã cảm nhận. Cuộc họp đã bảo hoà với những ngôn từ quen thuộc – trí tuệ nhân tạo, hồi phục, chủ quyền, dân chủ, tin cậy các dữ liệu – nhưng tôi đã cảm thấy bị xâm lấn bởi một màn sương mù kỳ lạ.
Thực sự, không phải là tôi đã không đồng ý. Chỉ là tôi hoàn toàn mất phương hướng.
Sau đó, trong buổi tối, tôi đọc lại một bài báo cũ trong đó tôi đã viết về tình trạng của lục địa (châu Âu) như là một chiến trường giữa các lực lượng bên trong và bên ngoài đối đầu nhau chủ yếu trong lĩnh vực kỹ thuật số.
Bức tranh có tính khích động này đã trở thành hiện thực – nhưng cần một hiện thực khác phản ánh tốt hơn những hiện thực của ngày nay.
Những tương đồng lịch sử thật là hấp dẫn.
Những tương đồng này là trợ lực của sự quen thuộc, bằng cách phóng chiếu hiện tại vào hình dạng của quá khứ. Chúng giúp chúng ta cảm thấy ăn sâu vào gốc rễ - một phần của câu chuyện lớn hơn – và cho chúng ta ảo tưởng làm chủ được những điều vuột khỏi sự kiểm soát của chúng ta. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng hiện diện khắp nơi trong thời đại của chúng ta.
Nhưng những tương đồng này luôn luôn là phiến diện, luôn luôn có phần lệch pha. Chúng có thể làm chúng ta chìm đắm trong niềm hoài niệm.
Vậy mà tôi lại đang tìm một sự tương đồng.