KHỦNG HOẢNG DẦU KHÍ DO CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH: ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Trần Quốc Hùng
(Kinh tế gia tại Hoa Kỳ)
![]() |
| Hình minh hoạ của PTKT, lấy từ trang businessindia.co |
Chiến tranh Mỹ/Do Thái với Iran đã gây nhiều tổn hại cho các cơ sở sản xuất dầu khí trong vùng Vịnh Ba Tư, và nhất là việc đóng cửa gần như hoàn toàn eo biển Hormuz—nơi khoảng 20% lượng dầu và khí hoá lỏng trên thế giới vận chuyển bằng đường biển phải đi qua. Tình hình này đã đẩy giá dầu thô Brent từ 60 đôla lên trên 100 đô la - tăng 67% - và có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với Việt Nam vì phải nhập vừa dầu thô vừa xăng dầu đã chế biến.
Ngành dầu khí VN dựa vào việc khai thác và xuất khẩu dầu thô (loại nhẹ có ít lưu huỳnh và giá trị cao). Hiện nay sản lượng đã giảm, còn khoảng 10 triệu tấn dầu thô năm 2025 so với mức đỉnh là 16 triệu tấn năm 2010; và 6 tỷ mét khối khí đốt. Ngược lại, VN phải nhập dầu thô (phần lớn loại nặng từ Trung Đông) để làm nguyên liệu đầu vào cho hai nhà máy lọc dầu Dung Quất (công suất 6,5 triệu tấn/năm) và Nghi Sơn (công suất 10 triệu tấn/năm). Mô hình kinh doanh này hữu hiệu nếu chuỗi cung ứng toàn cầu hoạt động bình thường liên tục. Nhưng nếu chuỗi cung ứng bị gián đoạn do chính sách mậu dịch của nước ngoài như quan thuế và cấm vận, đại dịch như Covid-19, hay chiến tranh, thì sẽ bị động và chịu hậu quả xấu: nguồn cung không ổn định và giá dầu khí tăng cao.






