12.8.26

Trí tuệ nhân tạo (AI): công việc bị che khuất nhưng rất thật của những công nhân dữ liệu

Polytechnique insights TẠP CHÍ CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA PARIS

Hình trên do A.I tạo ra

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI): CÔNG VIỆC BỊ CHE KHUẤT NHƯNG RẤT THẬT CỦA NHỮNG CÔNG NHÂN DỮ LIỆU

Tác giả: Antonio Casilli

Tóm tắt

  • Việc học của trí tuệ nhân tạo dựa vào con người, không chỉ là những nhà chuyên môn, mà cả nhiều người lao động bị trả công thấp và bấp bênh để cho trí tuệ nhân tạo vận hành hàng ngày.
  • Những người lao động này ngày càng trẻ, chủ yếu là từ 18 đến 35 tuổi (có khi đến 44 tuổi hoặc hơn), họ có trình độ học vấn và chuyên môn cao hơn hẳn so với công việc họ đang làm.
  • Những công nhân dữ liệu phải đối mặt rất nhiều với rủi ro tâm lý xã hội: nhiều người làm việc một mình tại nhà, những người khác làm việc trong những điều kiện rất khắt khe và dễ gây tổn thương.
  • Một số công nhân dữ liệu làm việc tại nước của họ trên những công cụ mà sau đó có thể được đưa vào hoạt động bởi những chính phủ nước ngoài chống lại chính họ.

Ông có thể cho một định nghĩa như thế nào để mô tả ý niệm công việc vô hình đàng sau trí tuệ nhân tạo?

Antonio Casilli. Trước hết cần nói rõ một điều quan trọng: công việc này không phải “vô hình”. Chỉ cần nghiên cứu một ít hiện tượng này như tôi đang làm, bằng cách đi gặp những công nhân tại các nước như Madagascar, Kenya hay Brazil, lúc đó ta phát hiện ra là công việc của họ bị che khuất nhưng không vô hình. Do đó, định nghĩa mà tôi có thể đưa ra đó là một công việc chuẩn bị, kiểm chứng và đôi khi là bắt chước các trí tuệ nhân tạo. Nghĩa là tất cả phần liên quan đến huấn luyện, kiểm tra chất lượng và cân nhắc và điều chỉnh mô hình.

Công việc này là sống động và tuyệt đối cần thiết cho sự tồn tại của các mô hình trí tuệ nhân tạo hiện nay, bởi vì chúng được xây dựng dựa vào các hệ thống học tự động. Và khi nói “học” thì có nghĩa là phải có người dạy cỗ máy. Và bất chấp điều mà ta có thể tin, những điều giảng dạy này không chỉ được ban phát bởi các chuyên gia được thù lao hàng trăm ngàn euro mỗi năm. Đó còn là và nhất là những người được thù lao rất ít và trong những điều kiện khá bấp bênh trong việc vận hành máy móc.

Những người lao động bị che khuất này đã có mặt ở đó từ hai mươi năm nay, từ khi người ta tạo ra trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu và trên sự học tự động.

Print Friendly and PDF

10.8.26

Phụ trương đặc biệt: Ở miền Bắc Việt Nam

PHỤ TRƯƠNG ĐẶC BIỆT: Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

Noam Chomsky

Số ra ngày 13 tháng 8 năm 1970

Hình minh hoạ của PTKT (do A.I tạo)

Chuyến bay ICC tới Hà Nội bay vòng lên cao quanh Viêng Chăn [Thủ đô của Lào – ND] cho tới khi đạt độ cao được chỉ định, rồi bay qua một hành lang được bảo vệ trên khu vực mà trước đây từng hứng chịu một trong những trận bom dữ dội nhất trong lịch sử. Một chiếc máy bay Phantom lướt qua gần đó — khiến phi hành đoàn và các hành khách khá khó chịu — nhưng ngoài điều đó ra, chúng tôi chẳng cảm thấy điều gì khác giữa những đám mây dày đặc cho tới khi ánh đèn Hà Nội dần dần hiện ra bên dưới. Những hành khách trên chuyến bay là một hỗn hợp kỳ lạ: có nhiều nhà ngoại giao Trung Quốc; nhiều ký giả Nga, một tiểu thuyết gia người Ý, vài người Ba Lan và ba du khách người Mỹ.

Chúng tôi đến Hà Nội vào ngày 10 tháng 4 [năm 1970], và rời khỏi trên cùng chuyến bay vào một tuần sau đó. Vì chuyến thăm Việt Nam của tôi quá ngắn ngủi, nên chắc chắn ấn tượng của tôi là hời hợt. Vì không nói được tiếng Việt, tôi thường có một người phiên dịch đi cùng, và tuy những người phiên dịch có trình độ cao, nhưng quá trình phiên dịch lại rất tốn thời gian, thế nên việc trò chuyện của tôi với mọi người bị chậm lại. Tôi sẽ mô tả những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến đi này. Bạn đọc nên lưu ý rằng những gì tôi có thể kể là có hạn.

Print Friendly and PDF

8.8.26

Phi tư bản hóa tri thức khoa học và làm cho mọi người đều có thể tiếp cận: hiện đã có những giải pháp

PHI TƯ BẢN HÓA TRI THỨC KHOA HỌC VÀ LÀM CHO MỌI NGƯỜI ĐỀU CÓ THỂ TIẾP CẬN: HIỆN ĐÃ CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP

Các tác giả: Frédéric Schmidt, Camille ThomasRomain Vaucher

Đến khi nào thì được tiếp cận tri thức tự do và miễn phí? (Trong hình là tháp sách của thư viện Městská knihovna tại Prague, Cộng Hòa Sec.) Lysander Yuen/Unsplash, CC

Đối với các cơ quan nghiên cứu, công bố và truy cập các bài báo khoa học là rất tốn kém. Truy cập mở có phải là giải pháp hoàn hảo? Hãy tìm những ví dụ cụ thể về công bố khoa học kết hợp được tính miễn phí, yêu cầu cao và chặt chẽ.

Xuất bản khoa học là một ngành công nghiệp đặc biệt sinh lợi. Những ước tính mới nhất cho rằng ngành này có doanh thu hàng năm chừng 19 tỷ đô la Mỹ (tương đương 16,67 tỷ euro), với biên lợi nhuận gần 40%. Những con số chóng mặt này phần lớn phản ánh thực tế là các nhà xuất bản tư nhân, như Elsevier, Springer Nature, Wiley, Taylor & Francis hay SAGE tích lũy tư bản từ các công trình mà đại bộ phận được tài trợ bởi các quỹ công cộng.

Việc thương mại hóa này được thực hiện hoặc bằng cách ra điều kiện phải trả tiền hay đặt mua dài hạn để có thể truy cập một bài báo, hoặc yêu cầu các tác giả phải trả tiền để độc giả được truy cập tự do bài báo được công bố. Tuy nhiên, phần lớn công việc cần thiết cho việc xuất bản, đặc biệt là việc viết bài báo, bình duyệt và một phần lớn công việc xuất bản lại được cung ứng miễn phí bởi các nhà nghiên cứu. Hệ quả trực tiếp là mức độ giàu có của một viện nghiên cứu hay một quốc gia vẫn còn phần nào chi phối việc tiếp cận tri thức khoa học.

Print Friendly and PDF

6.8.26

Descartes Một thoáng

DESCARTES MỘT THOÁNG

Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại

Cogito, ergo sum

(Je pense, donc je suis)

 

René Descartes (31. 3, 1596 ở La Haye-en-Touraine, Pháp – 11.2,1650 ở Stockholm, Thụy Điển, 54t). Bức chân dung (sơn dầu 78 x 69 cm) nổi tiếng của René Descartes được trưng bày tại Bảo tàng Louvre, được họa sĩ Frans Hals (1581/85 – 1666), người thuộc thời kỳ Hoàng kim của hội họa Hà Lan, thực hiện vào khoảng năm 1649.

Dẫu có học thuộc lòng tất cả các lập luận của Plato và Aristotle, chúng ta sẽ không thể trở thành triết gia hơn trừ khi chúng ta có thể đưa ra phán đoán vững chắc của riêng mình về bất kỳ vấn đề nào. Chúng ta thực sự sẽ học được lịch sử nhưng không thể làm chủ được một ngành khoa học.

–Descartes (Quy tắc thứ 3, Philosophical Writings of Descartes).

René Descartes thường được coi là người sáng lập triết học hiện đại, và tôi nghĩ điều đó là đúng. Ông là người đầu tiên có năng lực triết học cao mà quan điểm chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi vật lý và thiên văn học mới. Mặc dù đúng là ông vẫn giữ nhiều tư tưởng kinh viện, nhưng ông không chấp nhận nền tảng do những người tiền nhiệm đặt ra, mà nỗ lực xây dựng một công trình triết học hoàn chỉnh từ đầu. Điều này chưa từng xảy ra kể từ thời Aristotle, và là dấu hiệu của sự tự tin mới mẻ xuất phát từ sự tiến bộ của khoa học. Có một sự tươi mới trong tác phẩm của ông mà không thể tìm thấy ở bất kỳ nhà triết học lỗi lạc nào trước đó kể từ Plato. Tất cả các nhà triết học trung gian đều là giáo viên, với ưu thế chuyên môn thuộc về nghề nghiệp đó. Descartes viết, không phải với tư cách là một giáo viên, mà là một nhà khám phá và thám hiểm, mong muốn truyền đạt những gì ông đã tìm thấy. Phong cách của ông dễ hiểu và không cầu kỳ, hướng đến những người thông minh trên thế giới hơn là học trò. Hơn nữa, đó là một phong cách xuất sắc phi thường. Thật may mắn cho triết học hiện đại khi người tiên phong ấy sở hữu khiếu văn chương đáng ngưỡng mộ. Những người kế thừa ông, cả ở lục địa châu Âu và ở Anh, cho đến Kant, đều giữ được nét không chuyên nghiệp của ông, và một số người trong số họ vẫn giữ được phần nào giá trị văn phong của ông.

― Bertrand Russell, Lịch sử triết học phương Tây

Những trận chiến duy nhất (thật sự) mà Descartes từng tham gia là những trận chiến chống lại sự nhầm lẫn và sai lầm (của lý tính); những cuộc phiêu lưu của ông là những cuộc phiêu lưu về tinh thần; những chiến thắng của ông là sự chinh phục chân lý.

— Alexandre Koyré, Introduction trong Elizabeth Anscombe et al.

Lời nói đầu

(1) Dưới đây là những câu chuyện kể của Descartes được giới học giả xem là rất “có duyên”, và ông là người kể chuyện có tài, thuyết phục, từ sự học ở trường lúc ông còn trẻ đến những đề tài của triết học, khoa học, rất truyền cảm hứng. Những chuyện kể chứa đựng nhiều kinh nghiệm sống và nhận thức về con đường tìm chân lý độc đáo của ông mang đậm dấu ấn của ông. Những chuyện kể đó, ngay cả tác phẩm Discourse on the Method (Luận về phương pháp), hay những tác phẩm khác, không khác gì Cartesian confessions, như học giả Alexandre Koyré gọi. René Descartes được các nhà triết học và sử học công nhận rộng rãi là người khởi xướng “bước ngoặt nhận thức luận” trong triết học phương Tây. Husserl mô tả hiện tượng học siêu nghiệm của mình như một dạng “tân Descartes”. Ông cho rằng bất cứ ai muốn trở thành một nhà triết học nghiêm túc đều phải làm như Descartes đã làm: rút lui vào nội tâm và tìm cách lật đổ tất cả các niềm tin khoa học và triết học trước đó và xây dựng lại mới. Có những nét tương đồng với Kant. Nếu Descartes tiến hành cuộc cách mạng tư duy và đặt nền tảng cho khoa học hiện đại, dưới ân điển của đức tin, thì Kant cũng tiến hành cuộc cách mạng của Denkart, cách tư duy, muốn đặt siêu hình học trên nền tảng khoa học.

Print Friendly and PDF

4.8.26

Chính phủ nên quản lý trí tuệ nhân tạo, chứ không phải sở hữu nó

CHÍNH PHỦ NÊN QUẢN LÝ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO, CHỨ KHÔNG PHẢI SỞ HỮU NÓ

Ngày 15 tháng 7 năm 2026 Gabriela Ramos Emilija Stojmenova Duh

Các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay đủ mạnh để đe dọa cơ sở hạ tầng trọng yếu, hệ thống tài chính và an ninh quốc gia. Thay vì trở thành cổ đông trong các công ty trí tuệ nhân tạo, như Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề xuất, các chính phủ nên đầu tư vào các thể chế độc lập cần thiết để buộc ngành công nghiệp này phải chịu trách nhiệm.

PARIS—Giờ đây, rõ ràng là các chính phủ phải chịu trách nhiệm định hình ngành công nghiệp AI. Chỉ có các thể chế độc lập và chủ động, bao gồm cả các cơ quan quản lý, mới có thể giảm thiểu rủi ro do các công nghệ này gây ra, đồng thời đảm bảo rằng chúng nâng cao chứ không làm suy yếu phẩm giá con người.

Thế nhưng, đã quá nhiều lần, các chính phủ lại phản ứng với sự trỗi dậy của AI bằng thái độ cam chịu, về cơ bản là thừa nhận rằng họ chưa hiểu các hệ thống này đủ sâu để can thiệp. Dù sao đi nữa, theo lập luận của nhiều nhà hoạch định chính sách, vẫn còn quá sớm để biện minh cho hành động thực chất.

Đó không phải cách các xã hội từng xử lý những cuộc cách mạng công nghệ trước đây. Từ suy giảm tầng ozone đến kỹ thuật địa cầu [geoengineering kỹ thuật can thiệp khí hậu] và biến đổi gien, các chính phủ đã can thiệp khi có bằng chứng đáng tin cậy về tác hại, hoặc khi tiềm năng gây hại nghiêm trọng trở nên lớn đến mức không thể bỏ qua, thay vì chờ đợi sự chắc chắn hoàn toàn về mặt khoa học. Khi làm vậy, họ thường áp dụng cách tiếp cận dựa trên kết quả, tập trung vào tác động thực lên con người và buộc các công ty phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do sản phẩm hoặc công nghệ của mình gây ra.

Print Friendly and PDF

2.8.26

Cuộc khủng hoảng của các khoa học nhân văn

CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA CÁC KHOA HỌC NHÂN VĂN

Tác giả: Félix Delmas

Từ những năm 1970, các khoa học nhân văn đã trải qua một cuộc khủng hoảng về tính chính đáng cả về mặt phương pháp luận (các nhà khoa học cứng và thuần túy đã lên án những tham vọng khoa học của khoa học xã hội) hay đạo đức (đặt lại vấn đề về hậu quả đạo đức của cấu trúc luận và sự tan rã của chủ thể trong các cấu trúc xã hội quyết định họ). Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến những nỗ lực định nghĩa lại các phương pháp đặc thù của các khoa học nhân văn.

Sự thống trị của khoa học nhân văn

Những dấu hiệu đầu tiên về mặt trí tuệ

Nếu chúng ta hiểu nó là kiến ​​thức về con người, thì khái niệm khoa học nhân văn luôn tồn tại, nhưng theo nghĩa hiện đại của một phương pháp luận riêng biệt, nó đã xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Lúc bấy giờ sử học kết thúc sự tách rời khỏi lĩnh vực của cổ học và tự khẳng định mình là một ngành khoa học. Nhất là các ngành học tự chủ mới đã xuất hiện và ngay lập tức khẳng định quy chế khoa học: đó là nhân học, với Marcel Mauss, và xã hội học, với Émile Durkheim (1858-1917).

Print Friendly and PDF

31.7.26

Tại sao 40% người trên thế giới đang né tránh tin tức, dưới góc nhìn của một nhà tâm lý học

TẠI SAO 40% NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI ĐANG NÉ TRÁNH TIN TỨC, DƯỚI GÓC NHÌN CỦA MỘT NHÀ TÂM LÝ HỌC

Chúng ta vẫn là cùng một loài người như hàng ngàn năm trước; điều đã thay đổi là quy mô của thế giới mà bộ não của chúng ta phải liên tục rà quét để phát hiện các mối đe dọa. (Unsplash)

Trong một vài cuộc trò chuyện gần đây, nhiều người nói với tôi rằng họ đã ngừng kiểm tra điện thoại ngay khi thức dậy vào buổi sáng. Không phải vì chẳng có chuyện gì xảy ra, mà bởi vì mọi thứ dường như đều đang xảy ra cùng một lúc. Họ mô tả cảm giác ấy như đang đứng dưới một thác nước không ngừng đổ xuống, mang theo vô vàn tin xấu.

Đây hoàn toàn không phải là một hiện tượng cá biệt. Theo Báo cáo Tin tức Kỹ thuật số năm 2025 của Viện Reuters, có tới 69% người Canada cho biết họ hiện nay ít nhất thỉnh thoảng né tránh tin tức.

Trên phạm vi toàn cầu, 40% người được khảo sát cho biết họ ít nhất đôi khi, hoặc thậm chí thường xuyên, làm điều tương tự, đây là mức cao nhất từng được ghi nhận. Mọi người đều đưa ra những lý do khá nhất quán cho việc này: tin tức khiến họ cảm thấy tâm trạng trở nên tồi tệ hơn, bị quá tải trước lượng thông tin dồn dập, và bất lực vì không biết mình có thể làm gì.

Với tư cách là một nhà nghiên cứu tâm lý học phát triển, chuyên về sự phát triển xã hội và sức khỏe tâm lý, tôi cho rằng sự mệt mỏi vì tin tức |news fatigue| không phải là biểu hiện của sự lười biếng, yếu đuối hay sự suy giảm mối quan tâm của công dân trong thế hệ trẻ. Trái lại, đó là phản ứng hoàn toàn có thể dự đoán được của bộ não con người khi phải đối mặt với một môi trường mà nó chưa bao giờ được thiết kế để thích nghi.

Print Friendly and PDF

29.7.26

Xi măng, Tín dụng và 11,9%

XI MĂNG, TÍN DỤNG VÀ 11,9%

Khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực hiện thực hóa của nền kinh tế sẽ được lấp đầy bằng xi măng, tín dụng và các công trình công cộng, chứ không phải bằng chi tiêu hộ gia đình.

Vietnam Signals

Ngày 30 tháng 6 năm 2026

Các ý chính:

  • Để đạt mục tiêu “10% trở lên” cho cả năm 2026, Việt Nam hiện cần tăng trưởng 11,9% trong nửa cuối năm (Nghị quyết 168) - một tốc độ mà cả nước chưa từng duy trì được, ngoại trừ giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19.
  • Số liệu GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) theo từng tỉnh giải thích tại sao: các tỉnh dẫn đầu là những nền kinh tế công nghiệp nhỏ, dựa vào một động lực duy nhất, trong khi TP.HCM và Hà Nội có mức tăng trưởng dưới 10%.
  • Đây là "rủi ro Nokia". Nhưng không giống như Nokia của Phần Lan, Samsung không phải là công ty Việt Nam, và FDI rót vào Việt Nam vì chi phí thì cũng có thể rời đi bởi cùng lý do.

Ngày 27 tháng 6, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết 168, cập nhật kịch bản tăng trưởng cho phần còn lại của năm. Điểm đáng chú ý là một chỉ thị: để đạt mục tiêu “10% trở lên” cho cả năm 2026, GDP phải tăng trưởng 11,9% trong nửa cuối năm. Đây là tốc độ tăng trưởng mà Việt Nam chưa từng duy trì được xuyên suốt nửa năm, ngoại trừ giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid năm 2022.

Mục tiêu tăng trưởng gần 12% một phần là do năm nay khởi đầu chậm hơn so với kế hoạch. Kịch bản năm 2026 đề ra mức tăng trưởng 9,1% trong quý đầu tiên; song nền kinh tế chỉ đạt 7,83%. Mỗi lần thiếu hụt đều đẩy mức yêu cầu cho giai đoạn tiếp theo lên cao hơn, và số liệu quý II dự kiến công bố vào tháng 7 sẽ cho thấy lý do tại sao Việt Nam hiện cần tăng trưởng hơn 11% để bám sát kế hoạch. Việc bù đắp thiếu hụt đã bị đẩy hoàn toàn sang nửa cuối năm, dồn áp lực vào đây.

Print Friendly and PDF

27.7.26

Trần Đức Thảo là ai? Cuộc đời và sự nghiệp của một triết gia người Việt (2/2)

TRẦN ĐỨC THẢO LÀ AI? CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA MỘT TRIẾT GIA NGƯỜI VIỆT (2)

Phần 2: Vào chiến khu, Nhân văn Giai phẩm và nỗ lực cuối đời

Tác giả: Alexandre Féron

Biên dịch: Hoàng Lan Anh

(Nguyên tác tiếng Pháp: Qui est Tran Duc Thao? Vie et œuvre d’un philosophe vietnamien)

Nhìn lại dự án trí tuệ đầy tham vọng và cuộc đời đầy biến động của triết gia Marxist người Việt Nam này: quá dấn thân dưới mắt các nhà triết học, quá triết học đối với các nhà hoạt động, và ông bị cuốn vào những mâu thuẫn của thế kỷ. (ND: Vì bài quá dài, chúng tôi tách làm hai phần để dễ đọc. Sau đây là phần 2, từ lúc hồi hương về Việt Nam cho đến cuối cuộc đời.)

Trở về Việt Nam: Sự tổng hợp bất khả thi (1952-1985)

Cách mạng Việt Nam như là “con đường của giải pháp”[40] (1952-1958)

Người ta có thể hình dung sự hào hứng đã dẫn dắt cuộc trở về Việt Nam này. Sẽ khó khăn hơn để biết Trần Đức Thảo đã sống như thế nào trong những năm đầu tiên trở về Việt Nam, vốn ngay lập tức diễn ra dưới dấu ấn của sự ngộ nhận. Người ta có thể phân biệt ba khoảnh khắc lớn trước năm 1958.[41] [ND: tức là thời gian khi ông bị tước hết mọi quyền lực và phương tiện làm việc và sinh sống, phải làm bản kiểm thảo công khai trước Đảng].

Print Friendly and PDF

25.7.26

Mười năm hợp tác Lancang - MeKong: Tham vọng chiến lược của Trung Quốc và cái giá phải trả của các nước hạ nguồn

MƯỜI NĂM HỢP TÁC LANCANG - MEKONG:

Tham vọng chiến lược của Trung Quốc và cái giá phải trả của các nước hạ nguồn

Phạm Phan Long

Lời dẫn: Sau mười năm hoạt động, Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC) do Trung Quốc khởi xướng đã bộc lộ rõ sự mất cân đối trong quan hệ giữa các bên. Dù mang lại một số dự án hạ tầng và thúc đẩy thương mại, cơ chế này cũng khiến các nước hạ nguồn ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc về vốn, thị trường và chuỗi cung ứng. Thêm vào đó là những rủi ro ngày càng lớn đối với an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, môi trường và thậm chí cả chủ quyền quốc gia.

Với lợi thế kiểm soát toàn bộ thượng nguồn sông Mekong, Trung Quốc nắm trong tay đòn bẩy quan trọng để tác động đến dòng chảy, đầu tư và thương mại trong khu vực. Trong khi đó, các nước hạ nguồn ngày càng rơi vào thế phụ thuộc: Thâm hụt thương mại gia tăng, nợ công chồng chất, ô nhiễm xuyên biên giới khó kiểm soát và dư địa cho các quyết sách chiến lược độc lập ngày càng bị thu hẹp. Không ít nhà quan sát cho rằng, các nước này đang có nguy cơ trở thành những “chư hầu kinh tế” của Bắc Kinh. 

Bên cạnh đó, các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông – từ việc đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn vùng biển, xây dựng và quân sự hóa các thực thể tranh chấp, đến những vụ tấn công tàu thuyền của các nước khác – đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Việc Bắc Kinh bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 và tiếp tục theo đuổi các yêu sách bị nhiều nước phản đối, cũng khiến niềm tin của các nước trong khu vực đối với Trung Quốc bị suy giảm đáng kể.

Bài viết sau đây sẽ đánh giá toàn diện mười năm hoạt động của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), phân tích những thách thức mà Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam đang đối mặt, đồng thời đề xuất một số hướng cải tổ nhằm bảo vệ lợi ích lâu dài của các nước hạ nguồn. Từ những diễn biến trên sông Mekong đến các hành động trên Biển Đông, nhiều nhà phân tích cho rằng LMC không chỉ là một khuôn khổ hợp tác kinh tế, mà còn là công cụ để Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng chiến lược trong khu vực.

Hình 1: Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao lần thứ 10 Hợp tác Lancang - Mekong tại Vân Nam, Trung Quốc, ngày 15 tháng 8 năm 2025. Từ trái: Bùi Thanh Sơn (Việt Nam), Thongsavanh Phomvihane (Lào PDR), Maris Sangiampongsa (Thái Lan), Vương Nghị (Trung Quốc), Prak Sokkhon (Cam Bốt), U Than Swe (Myanmar).
Print Friendly and PDF