Hiển thị các bài đăng có nhãn Từ điển tư tưởng xã hội học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Từ điển tư tưởng xã hội học. Hiển thị tất cả bài đăng

19.2.25

WEBER Karl Emil Maximilian, hay Max (1864-1920)

WEBER Karl Emil Maximilian, hay Max (1864-1920)

Các tác giả: Michael SUKALE, Dirk KASLERRaymond BOUDON

Max Weber (1864-1920)

Sinh ở Erfurt, bang Thuringe là con của một người cha là thẩm phán đeo đuổi sự nghiệp dân biểu trong đảng tự do-quốc gia và người mẹ có niềm tin tôn giáo mạnh mẽ, Weber (Alfred, em trai ông, là nhà xã hội học) học luật và kinh tế tại Heidelberg và Berlin. Sau khi tốt nghiệp cử nhân (1886) và tiến sĩ (1888) luật, năm 1892 tại Berlin ông được quyền giảng dạy trong đại học với một luận án lịch sử nông nghiệp thời La mã. Giáo sư kinh tế chính trị và tài chính ở Fribourg (1894) rồi Heidelberg (1896), vì bị suy nhược thần kinh ông buộc phải giảm và cuối cùng ngưng giảng dạy năm 1903. Ông chỉ dạy lại năm 1918, trước tiên ở Wien rồi ở Munich. Nơi ông kế nhiệm L. Brentano với chức danh “Khoa học về xã hội, lịch sử kinh tế và kinh tế chính trị học”.

Thành viên của hiệp hội Verein für Socialpolitik, ông tiến hành nhiều cuộc khảo sát quan trọng cho hiệp hội này (đặc biệt về các điều kiện của công nhân nông nghiệp Đức). Năm 1904, cùng với E. Jaffé và W. Sombart, ông thành lập tạp chí Archiv für Socialwissenschaffen und Socialpolitik, và năm 1909 cùng với F. Tőnnies, G. Simmel và nhiều khác, thành lập Hội xã hội Đức mà vì thất vọng ông rời bỏ năm 1912. Thành viên của “phái đoàn hòa bình” ở Versailles, trước đó là gia nhập đảng dân chủ-xã hội Đức, cuối cùng liên quan bên lề đến việc thiết kế hiến pháp của Cộng hòa Weimar, ông qua đời sớm vì viêm phổi. Tác giả của một sự nghiệp khổng lồ mà nhiều bộ môn tranh nhau di sản, Weber đã đóng góp cho xã hội học tiến triển, đặc biệt nhờ các nghiên cứu của ông về tôn giáo và chính trị, sự kiến giải lịch sử phổ quát và phương pháp nghiên cứu. 

Print Friendly and PDF

26.1.25

Durkheim Émile David, (1858-1914)

Durkheim Émile David, (1858-1914)

Cuộc đời và sự nghiệp

Emile Durkheim (1858-1917)

Durkheim là nhà xã hội học đầu tiên, theo nghĩa ông là người đầu tiên tự nhận mình là nhà xã hội học và như là người sáng lập một bộ môn mới. Như vậy vị trí của ông là độc đáo so với những tác giả khác cùng thế hệ ngày nay được xem là những nhà sáng lập bộ môn, M. Weber, V. Pareto hay F. Simmel. Ông cũng là nhà xã hội học đầu tiên vì dự án của ông đặt nền móng cho một môn học mới ở đại học và cho một khoa học mới. Xã hội học phải tồn tại cả về mặt nhận thức lẫn về mặt thể chế.

Tiểu sử

Durkheim sinh ở Épinal, là con và cháu của hai pháp sư Do thái. Đây là một gia đình quan tâm đến sự hòa nhập, như được minh chứng bằng việc chọn cho con cái những cái tên thông dụng không có nguồn gốc Hê-brơ: người anh cả của Émile là Félix, và hai người chị là Céline và Rosine; người chị thứ hai sẽ là mẹ của M. Mauss, cộng tác viên tương lai, mà trên một số mặt là người con nuôi của Durkheim. Trái với một truyền thuyết dai dẳng, Émile lúc trẻ chưa từng hay có dự định là pháp sư Do thái.

Print Friendly and PDF

28.12.24

Giải thích và thông hiểu

GIẢI THÍCH VÀ THÔNG HIỂU

Một cách giản lược, có thể nói là chủ đề “giải thích” quy về việc làm hiển nhiên những nguyên nhân quyết định hành vi của các chủ thể, trong lúc ý niệm “thông hiểu” phản chiếu việc làm rõ ý nghĩa, động cơ hay các “lí do” mà các tác nhân gán cho hành động của họ vốn thường được xem là không thể rút gọn thành những nguyên nhân. Đương nhiên trong ngôn ngữ thường ngày, cụm từ giải thích xã hội học cũng có thể quy về việc làm rõ những lí do của các tác nhân. Nhưng một cách kĩ thuật hơn, ta sẽ dành ý niệm giải thích cho việc xác định nguyên nhân của hành vi và ý niệm thông hiểu cho việc mô tả những lí do tạo nên động cơ của hành vi.

Trong lĩnh vực các khoa học xã hội, sự đối lập giữa giải thích và thông hiểu phản ánh cương vị của hai thuật ngữ này đối với các khoa học tự nhiên. Thật vậy, ban đầu sự phát triển của các khoa học xã hội diễn ra trong sự nối tiếp của một cách tiếp cận mới tri thức về tự nhiên, được minh họa bằng biểu tượng là Newton. Điều này đã khiến một số triết gia xét đến khả năng áp dụng các mô hình nhân quả thống trị trong việc giải thích những hiện tượng của tự nhiên có thể áp dụng vào đời sống xã hội. Đó là trường hợp của Hume ([1739] 1973), người muốn làm Newton của xã hội. và như vậy công nhận nguyên tắc rút gọn về tính nhân quả. Trái lại, Kant, trong tác phẩm Phê phán lí tính thực hành (1788), lí thuyết hóa sự phân biệt giữa hai đặc tính, đặc tính của nhân quả vận động trong thế giới vật lí và đặc tính của tự do thắng thế trong lĩnh vực của hành động con người thông qua biểu hiện của đạo lí. Đối với Kant, quy chiếu về tính duy lí và tự do của hành động con người đưa vào một sự tách biệt trong trật tự các hiện tượng, và như vậy hành động của con người thoát khỏi sự thống trị của những nguyên nhân chi phối trật tự tự nhiên. Ta gặp lại cách đặt vấn đề này trong các khoa học xã hội, nhưng dưới một dạng có nhiều thay đổi.

Print Friendly and PDF

29.8.24

Methodenstreit

METHODENSTREIT

Carl Menger (1840-1921)
Gustav Schmoller (1838-1917)

Methodenstreit, hay tranh cãi về phương pháp, là một cuộc tranh luận khoa học nổi tiếng trong những năm 1880, đối lập các nhà kinh tế thuộc trường phái lịch sử ở Đức với các nhà kinh tế thuộc trường phái cận biên ở Wien. Hai nhân vật chính của cuộc tranh luận này là B. von Schmoller, giáo sư đại học Berlin và C. Menger, giáo sư đại học Wien. Như thường xảy ra trong các tranh cãi này, các tác giả tham gia vào có xu hướng triệt để hóa quan điểm của họ đến độ có thể là đôi khi cuộc tranh luận diễn ra sau đó, trong một mức độ nhất định, có vẻ giả tạo. Tuy nhiên, những vấn đề tranh chấp đều là cơ bản. Thật vậy, nội dung cuộc tranh luận không gì khác hơn là vai trò của lí thuyết và của lịch sử trong việc hiểu biết các hiện tượng kinh tế; bởi thế dịp này vẫn sẽ là bổ ích để suy nghĩ về bản chất và hiệu lực của những đoạn tranh luận qua lại. Sau khi đề cập tình trạng của chính trị kinh tế học ở Đức và ở Áo vào thời nổ ra cuộc tranh luận này, chúng tôi sẽ mô tả các thời điểm chính và tự hỏi nên rút ra những bài học nào từ cuộc tranh luận lớn này.

Print Friendly and PDF

2.7.24

MILL John Stuart, 1806-1873

MILL John Stuart, 1806-1873

John Stuart Mill (1806-1873)

Cuộc đời của Mill trước tiên mang dấu ấn của cha ông, triết gia J. Mill, người áp đặt cho ông một chế độ giáo dục đặc biệt hà khắc, hoàn toàn hướng về học tập, nhằm tạo ra một nhà tư tưởng hàng đầu: kết quả thì đạt được nhưng với cái giá là những yếu kém tâm lí được chính Mill viết lại trong tiểu sử tự thuật ([1873], 1993) mô tả hành trình trí tuệ biến ông thành một trong những nhà tư tưởng quan trọng và độc đáo nhất của thế kỉ XIX. Tìm được việc làm trong Công ty Đông Ấn Anh, một công việc cho ông được rộng rãi thời gian nhàn rỗi dành cho viết lách giúp ông có nhiều đóng góp quan trọng trong những lĩnh vực khác nhau được ông đụng vào: lí thuyết nhận thức, lí thuyết đời sống xã hội, chính trị kinh tế học và triết học đạo đức và chính trị.

Trước tiên Mill đóng góp vào sự phát triển một “triết học tinh thần” có tính tự nhiên, kinh nghiệm chủ nghĩa và liên hợp chủ nghĩa, trong sự nối dài của truyền thống kinh nghiệm chủ nghĩa Anh, đặc biệt là truyền thống của Hume. Trong tác phẩm Système de logique ([1843], 1988) ông quan tâm, theo quan điểm quyết định luận, đến những cơ chế của tư duy và của sự hình thành các niềm tin. Không đi vào chi tiết các phân tích, cần nhấn mạnh nguyên lí tổng quát: không được xây dựng những tiêu chí của sự hiển nhiên một cách tiên nghiệm. Những quy luật của tính duy lí được khám phá ngay trong quá trình tư duy, đối với ai có những suy tư như vậy không có nền tảng nào khác hơn là việc khám phá hiệu lực của các quy luật (Skorupsky, 1989). Như vậy có một tính quy phạm nội tại của tư duy mà chính trong quá trình suy nghĩ cho phép hình thức hóa hiệu lực của chính nó. Không dừng lại ở sự phân biệt giữa sự kiện và chuẩn mực, suy nghĩ của Mill hướng đến việc thừa nhận điều mà ta có thể gọi là sự kiện chuẩn tắc: sự kiện tư duy dẫn đến việc khám phá chuẩn mực của tư duy, trong sự tiến triển và thực hành tư duy. Như vậy tính phong phú của phân tích của Mill cho phép phân tích sự hình thành của những tin tưởng sai lầm, những ngụy biện. Thật vậy, nếu quá trình tư duy cung cấp chuẩn mực của chính nó thì quá trình này cũng cho phép hiểu quá trình thất bại của tư duy và việc sản sinh những sai lầm điển hình.

Do đó, lí thuyết của Mill là một lí thuyết tâm lí học, theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những sự tin tưởng của con người. Đời sống tinh thần được tâm lí học nghiên cứu có sự tham gia của việc nghiên cứu toàn bộ những biểu hiện của tinh thần này, nghĩa là cả những tư tưởng lẫn cảm xúc, ý chí lẫn cảm xúc. Vấn đề là khám phá những quy luật của sự hình thành những ý tưởng, và cả những ý muốn và ý chí, trong một tầm nhìn chú ý đến việc xác định những nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến việc hướng dẫn hành động.

Print Friendly and PDF

18.6.24

COMTE Auguste, 1798-1837

COMTE Auguste, 1798-1837

Auguste Comte (1798-1857)
Clotilde de Vaux (1815-1846)

Sinh tại Montpellier, đỗ hạng thứ tư vào Trường Bách khoa, sau khi tốt nghiệp không lâu Comte trở thành thư kí của Saint-Simon. Năm 1826, ông bắt đầu giảng một khoá giảng công cộng, có sự tham dự của nhiều nhà bác học thời bấy giờ, nhưng một cơn mất trí tiếp sau một cường độ lao động quá cao buộc ông ngưng mọi hoạt động trong một năm. Sáu tập Cours de philosophie positive được công bố trong các năm từ 1830 đến 1842. Giảng viên phụ đạo rồi giám khảo đầu vào Trường Bách khoa, ông nhiều lần là ứng viên giáo sư của trường nhưng không thành công. Năm 1844 cuộc gặp Clotilde de Vaux, người (tình đơn phương của Comte - ND) mất sau đó ít lâu, đảo lộn đời ông. Năm 1847, ông sáng lập tôn giáo Nhân loại và ít lâu sau ngưỡng mộ cuộc cách mạng tháng Bảy. Tưởng là những quan điểm của mình có thể thuyết phục Napoléon II, ông tán thành một thời gian cuộc đảo chính ngày 12 tháng chạp, điều này khiến ông bất hoà với Littré. Mất hết vị trí ở Trường Bách khoa, ông sống nhờ sự trợ cấp của các môn đồ. Cho đến khi mất tại Paris, nhiều tác phẩm từng được ông thông báo hơn ba mươi năm trước vẫn chưa được viết.

Khoa học được người thư kí trẻ tuổi của Saint-Simon thiết kế, và ban đầu được ông đặt tên là vật lí học xã hội gồm có hai chuyên ngành khác biệt, một ngành tĩnh và một ngành động, lí thuyết về sự trật tự và lí thuyết về sự tiến bộ. Lí thuyết đầu nghiên cứu các yếu tố cấu thành, các đặc điểm cấu trúc mà không có chúng sẽ không có đời sống xã hội; khái niệm cơ bản của lí thuyết này là sự liên ứng, hiểu theo nghĩa mà y học gán cho thuật ngữ này, tức là sự hài hoà thường xuyên giữa những điều kiện tồn tại khác nhau, trong một trường hợp là của một vật thể sống và trường hợp này là của xã hội. Tiến bộ là sự phát triển của trật tự: nếu những hiện tượng được tĩnh học xử lí (ngôn ngữ, đặc điểm, gia đình) là có tính phổ cập thì ta chỉ quan sát được chúng dưới những hình thức đa dạng, mà khoa học không thể không tính đến. Do đó xã hội học cũng gồm có một động học đưa thời gian vào như một tham số mới.

Print Friendly and PDF

31.5.24

Khoa học luận của các khoa học xã hội

KHOA HỌC LUẬN CỦA CÁC KHOA HỌC XÃ HỘI

Các cuộc tranh luận lớn

Theo nghĩa hẹp khoa học luận là lí thuyết những điều kiện hợp thức của những phát biểu khoa học. Nó thể hiện qua cái nhìn phản tư của nhà nghiên cứu về chính bộ môn của mình hay qua phân tích đặc thù của các triết gia về khoa học.

Auguste Comte (1798-1857)
John Stuart Mill (1806-1873)

Một mối liên hệ, đặc biệt và phức tạp, nối kết khoa học luận và các khoa học và các khoa học xã hội. Trong thế kỉ XIX, hai lĩnh vực này được liên kết được gắn kết chặt chẽ. J. S. Mill và Auguste Comte liên kết suy nghĩ chung của bản thân với một tham vọng can thiệp vào các khoa học vào các khoa học xã hội. Đối với tác giả thứ hai, tham vọng này là dưới dạng một sự sáng lập thật sự: tác phẩm Cours de philosophie positive (1830-1842) tự xác định dự án phác hoạ một bức tranh có hệ thống về khoa học thực chứng được bổ sung bằng việc phát triển một bộ môn còn thiếu: vật lí học xã hội. Trong thế kỉ XX, diễn ra một sự chia tay. Chủ nghĩa thực chứng logic của Câu lạc bộ Wien (Soulet, 1985) nhanh chóng hình thành trào lưu thống trị của khoa học luận đương đại, ưu tiên nghiên cứu tổng quát ý nghĩa và những điều kiện hợp thức của các phát biểu trong việc mô tả các bộ môn khoa học. Trào lưu này định nghĩa những tiêu chí chấp nhận có tính nguyên tắc làm dấy lên một cuộc tranh luận lâu dài – đặc biệt giữa kiểm (tra) chứng luận và khả phủ chứng luận – và đặt vấn đề áp dụng các tiêu chí này cho các khoa học xã hội. Nếu sự phát triển của kinh tế học, củng cố thêm những ai, từ Pareto đến Popper, ủng hộ một khoa học thống nhất, thuộc về một mô hình chung về tính khoa học, thì một phần của xã hội học, ngay từ cuối thế kỉ XIX, đòi hỏi một tính đặc thù thông diễn học sẽ nỗ lực tự khẳng định trong suốt thế kỉ này.

Tình trạng trên, khi các khoa học xã hội dao động giữa sự qui giản và sự độc lập, trở nên phức tạp hơn trong ba mươi năm qua. Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa thực chứng logic, sự nổi lên trong triết học khoa học các luận đề về những bất liên tục (Kuhn, 1965) hay tương đối (Feyerabend, 1975), sự xuất hiện của những hình thức yêu sách xã hội mới tạo điều kiện thuận lợi, ở bên lề của khoa học, cho một chuyển động hỗn hợp, hậu hiện đại, chịu nhiều ảnh hưởng và theo nhiều phương hướng. Trái lại, sự phát triển đương đại của các khoa học sự sống và khoa học nhận thức đã hình thành một đối chọn dứt khoát có tính tự nhiên mà các chương trình, qua trung gian của những bộ môn như tập tính học hay tâm lí học, lan toả rộng rãi sang các khoa học xã hội. Các khoa học này, kinh tế học, sử học, địa lí học, ngôn ngữ học, xã hội học, dân tộc học, v.v. ngày nay là nơi diễn ra một sự đa dạng hoá trong nội bộ ngày càng tăng mà những tác động gắn với sự hình thành của hai cực đối kháng mang tính thông diễn và tự nhiên được nhân bội.

Trong suốt thế kỉ các tình huống trên thể hiện qua cơ chế của những đối lập lớn cấu trúc nên không gian khoa học luận của các khoa học xã hội. Dưới đây, chúng tôi chỉ ghi nhận các đối lập quan trọng nhất.

Print Friendly and PDF

15.5.24

POPPER KARL, 1902-1994

POPPER Karl, 1902-1994

Karl Popper (1902-1994)

Popper luôn tự xem mình là nhà khoa học luận các khoa học tự nhiên. Những lần ông xen vào lĩnh vực các khoa học xã hội là phân tán và phân mảnh. Nhưng không vì thế mà không phác thảo một mặt, phê phán một số lí thuyết thuộc về các khoa học nhân văn (chủ nghĩa Marx, phân tâm học, chủ nghĩa hành vi) và mặt khác, “một chương trình siêu hình học” thực chứng cho các khoa học xã hội.

Khoa học là một vấn đề táo bạo: trước tiên là táo bạo tư biện, xa cách mọi sự cẩn trọng thực chứng ngây thơ (“chỉ điều tra không thôi, không có lí thuyết!”), sau đó là táo bạo thực chứng: các phỏng đoán mà ta hình dung để giải quyết một vấn đề có thể buộc phải qua tòa của thí nghiệm, phiên tòa này chủ yếu có một vai trò phê phán. Không thể biện minh cho một lí thuyết nếu không muốn rơi vào thế không thể dựa vào một quan sát nhất định để tự hào là lí thuyết đã được “xác thực”: khi một hành vi khác trái ngược với hành vi được quan sát cũng tương thích với lí thuyết thì lí thuyết này đã không giải thích gì cả (“tiêu chí kiểm sai”). Popper khuyến khích các chuyên gia của các khoa học xã hội tránh chiếc bẫy của chủ nghĩa thực chứng (“Đừng bao giờ qua mặt dữ liệu thực chứng!”) đồng thời tránh mọi ngôn ngữ bí hiểm hay duy khoa học. Phải sẵn sàng từ bỏ một giả thuyết và để làm được điều này cần tiến hành những kiểm định chặt chẽ nhất có thể. Chỉ khi giả thuyết “kháng cự” nổi những nỗ lực của chúng ta trục xuất nó khỏi lĩnh vực của những phát biểu “có khả năng đúng”, chúng ta mới có thể xem, vẫn là một cách tạm thời, rằng nó được “chứng thực”.

Print Friendly and PDF

25.4.24

SAINT-SIMON Claude-Henri de, 1760-1825

SAINT-SIMON Claude Henri de, 1760-1825

Sự nghiệp của Saint-Simon diễn ra vào một thời kì quan trọng trong lịch sử ra đời của xã hội học. Xuất thân từ một gia đình quý tộc nhưng bị tước mất tài sản, ông tích cực tham gia vào các cuộc xung đột lớn của thời đại ông: chiến tranh giành độc lập của Hoa Kì khi ông chiến đấu với tư cách sĩ quan từ năm 1777 đến năm 1783 và cuộc cách mạng 1789 mà ông đã tham gia trước khi bị nghi làm giàu bất chính và phải vào tù. Ngay cả trước khi Đế chế Pháp sụp đổ, ông đã quyết định chỉ tập trung vào các công trình khoa học với sự hỗ trợ của hai thư kí, lần lượt là A. Thierry và A. Comte.

Từ công trình đầu tiên công bố năm 1802, ông thiết lập dự án áp dụng cho các sự kiện của con người, “những hiện tượng gọi là đạo đức”, các phương pháp của các khoa học vật lí. Trước tiên, ông chờ đợi từ vật lí chất lỏng những mô hình tư duy cần thiết cho sự hình thành của “Khoa học về Con người”, rồi quay sang sinh học và có tham vọng phân tích những quan hệ xã hội bằng những khái niệm của “sinh lí học”. Con đường vòng qua các khoa học tự nhiên cho phép ông đoạn tuyệt với những giải thích thần học, “có tính ước đoán” và với triết học. Như ông thường lặp lại, mọi tri thức phải “đi từ ước đoán đến thực chứng”.

Print Friendly and PDF

27.7.21

Thuyết Darwin xã hội

THUYẾT DARWIN XÃ HỘI

Trong lịch sử tư tưởng xã hội học, cụm từ “thuyết Darwin xã hội” thường được dùng để chỉ toàn bộ các lí thuyết ở nửa sau thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX huy động khái niệm “chọn lọc tự nhiên của Darwin hay thường hơn là nguyên lí “sự sống sót của loài thích hợp nhất” (the survival of the fittest) của Spencer để mô tả và giải thích các hiện tượng của xã hội con người, theo những cách nhìn bao giờ cũng trộn lẫn chặt chẽ những lập luận thực chứng với những nhận định có tính quy phạm mà mục đích thường rõ ràng có tính chính trị. Mặc dù cụm từ này thuộc phạm vi những phạm trù thông dụng trong các khoa học xã hội để định vị và chỉ định những thành kiến lí thuyết, song tập hợp rộng lớn mà nó bao phủ có một tính thống nhất lỏng lẻo đến độ sẽ là không chính xác khi xem nó là một hệ ý hay một chủ thuyết, với một người đứng đầu và một lõi lí thuyết chính được xác định, và chắc chắn là quá đáng khi xem nó như một trào lưu tư tưởng.

Herbert Spencer (1820-1903)
Charles Darwin (1809-1882)

Ý nghĩa và cương vị nhập nhằng của một nhãn hiệu như thế, cũng như tính cực kì hỗn tạp của những lí thuyết được nó đề cập là do logic lịch sử khá đặc thù chi phối sự hình thành nhãn hiệu này. Cụm từ xuất hiện vào khoảng năm 1880, ở châu Âu, để chỉ một cách phê phán “việc dịch chuyển bằng sự tương tự lí thuyết Darwin sang lãnh địa chính trị-xã hội” (Gautier, 1880). Mục tiêu mà các nhà tư tưởng tạo nên và sử dụng cụm từ này nhắm vào chủ yếu là các diễn ngôn có cảm hứng tự do khi trình bày tiến hoá của nhân loại – hay nếu muốn, của sự tiến bộ – như một sản phẩm của tự do cạnh tranh giữa những cá nhân trong xã hội – bản thân cạnh tranh được quan niệm như một trường hợp đặc biệt của nguyên lí chung của mọi tiến bộ trong tự nhiên: “sự sống sót của cá nhân thích hợp nhất”. Trong thực tế, kể từ những năm 1860, đặc biệt trong các nước anglo-saxon (Hofsdater, 1959), nhiều nhà sinh học, kinh tế học, triết gia và xã hội học đã phát triển những quan điểm tương tự.

Print Friendly and PDF

16.11.20

Toán học và xã hội học

 TOÁN HỌC VÀ XÃ HỘI HỌC


Với tư cách là một khoa học, xã hội học sử dụng những mô hình toán học. Tuy nhiên, dưới mắt của hầu hết các nhà xã hội học, quan hệ này giữa toán học và xã hội học giới hạn ở những mô hình thống kê được sử dụng trong phân tích dữ liệu. Thế mà quan hệ giữa toán học và xã hội học vượt ra xa hơn khuôn khổ này. Sau thế chiến thứ hai, trong bối cảnh trí thức mà nét ấn tượng là sự đào sâu và mở rộng những tương tác giữa, một mặt, toán học và, mặt khác, các khoa học xã hội và các khoa học hành vi, một số nhà xã hội học đã bắt đầu sử dụng những mô hình toán học trong những hoàn cảnh ra ngoài khuôn khổ của những phân tích truyền thống về dữ liệu. Cách tiếp cận này là phổ biến trong trường của các “toán học xã hội” đang phát triển mạnh lúc bấy giờ.

Mục tiêu là xây dựng những lí thuyết khoa học chặt chẽ hơn những lí thuyết từng thắng thế trước đây trong các khoa học xã hội và khoa học hành vi. Ví dụ, các lí thuyết xã hội học, theo truyền thống, rất phong phú với nội dung trực giác, nhưng yếu về mặt hình thức. Các giả thiết và định nghĩa không được phát biểu rõ ràng và phân biệt với những mô tả sự kiện và với những suy luận. Đặc biệt, hiếm khi các kết luận được rút ra một cách hình thức từ những tiền đề được làm rõ từ đầu.

Print Friendly and PDF

5.10.20

Dữ liệu (phân tích)

 DỮ LIỆU (PHÂN TÍCH)

Données (Analyse des)

Thống kê mô tả nhiều chiều với sự hỗ trợ của máy tính. Chính ngay thuật ngữ phân tích dữ liệu, chuyển từ tiếng Anh data analysis không hẳn đã là một lựa chọn tốt: kết quả của một phân tích dữ liệu là một tổng hợp, nhiều hơn là một phân tích (Diday, 1977, 16) và các nhà xã hội học thường cho rằng dữ liệu không phải là “được cho trước” (données) nhưng chúng được kiến tạo (Cibois, 1984, 10-11). Ch trong phần phân tích thứ yếu, lĩnh vực mà phân tích dữ liệu tỏ ra đặc biệt hữu ích, thì các dữ liệu mới thật sự là “được cho trước” vì chúng không được nhà nghiên cứu khai thác chúng thiết kế.

Sự xuất hiện của thuật ngữ trong những năm 1960 thể hiện một thay đổi sâu sắc trong việc sử dụng thống kê, thay đổi chủ yếu do sự phát triển của tin học. Bốn mươi năm sau sự ra đời của phân tích dữ liệu, diễn tiến này vẫn chưa chấm dứt; hơn nữa, những thay đổi về mặt khoa học luận mà phân tích dữ liệu khơi lên vẫn tiếp tục là đối tượng của những cuộc tranh luận.

Print Friendly and PDF

29.8.20

Lazarsfeld Paul-Felix, 1901-1976

Paul Lazarsfeld (1901-1976)

LAZARSFELD PAUL-FELIX, 1901-1976

Lazarsfeld chào đời tại Wien. Đến New York năm 1933 với một học bổng nghiên cứu ở Rochester, ông ở lại Hoa Kì sau cuộc đảo chính của thủ tướng. Được bổ nhiệm làm giáo sư đại học Columbia năm 1941, cả sự nghiệp của ông diễn ra ở đây cho đến lúc về hưu năm 1970. Lazarsfeld nổi tiếng nhờ vai trò quan trọng của ông trong sự phát triển của xã hội học bằng các cuộc điều tra, của xã hội học định lượng và của xã hội học toán. Ông tiến hành những cuộc điều tra được coi là cổ điển đặc biệt trong những lĩnh vực của xã hội học về thất nghiệp, phát thanh, tiêu dùng và bầu cử. Ông đã góp phần vào việc tầm thường hoá các phương pháp phân tích thống kê trong xã hội học. Ông là người sáng tạo những phương pháp quan sát, như phương pháp panel; ông ở cội nguồn của những phương pháp phân tích dữ liệu, như phương pháp nhiều chiều. Ông lấy cảm hứng của những phương pháp này từ một chương trình nghiên cứu chung, được ông đặt tên là “phân tích thực nghiệm hành động”.
Ông mượn của các nhà tâm lí học K. và Ch. Bühler ý tưởng cho rằng việc hiểu biết những hành động cá nhân là một trong những mục đích chính của các khoa học xã hội. Từ giáo huấn của A. Adler ông giữ lại ý các động cơ không phải bao giờ cũng tức thì có mặt trong ý thức của tác nhân và do đó cần được “xây dựng lại”, để sử dụng một từ của Weber mà Lazarsfeld không dùng.
Có thể xây dựng lại những lí do và động cơ nằm bên dưới hành động đặc biệt bằng cách dựa trên việc so sánh những nhóm con mà phân tích nhiều chiều cho phép xác định, hoặc trên việc so sánh những câu trả lời thu được khi điều hoà dạng các câu hỏi đặt ra. Ở đây việc xem xét những “trường hợp lệch chuẩn” cũng có thể có một vai trò cơ bản. Các nguyên tắc này cũng có thể áp dụng cho những hành vi tiêu dùng cũng như cho những lựa chọn bầu cử, thậm chí cho những quan điểm ý thức hệ mà tác phẩm The Academic Mind (1958) nghiên cứu.
Print Friendly and PDF

30.7.20

Thống kê đạo đức

THỐNG KÊ ĐẠO ĐỨC


Cụm từ “thống kê đạo đức” xuất hiện trong một tiểu sử tô hồng năm 1829: Statistique morale de la France, ou biographies des hommes remarquables dans tous les genres (Thống kê đạo đức của nước Pháp, hay các tiểu sử tô hồng về những nhân vật lỗi lạc thuộc mọi lĩnh vực). Trong một lá thư ngày 11.11.1831 gởi cho A. Quetelet và trong tác phẩm Essai năm 1833, A. M. Guerry để nghị gọi bằng cụm từ trên việc nghiên cứu xu hướng của các cá nhân từ phía mà các xu hướng này có thể xem xét được. Phía này được đại diện bởi những hiện tượng mà các xu hướng tạo ra: hôn nhân, sinh sản, tội ác và mọi biểu hiện định lượng khác của các ý thức và cảm xúc. Các hiện tượng này được xem là phơi bày một đặc điểm: chúng xuất hiện theo một tần số ít nhiều giống nhau năm này qua năm khác.
Từ đâu có tính từ “đạo đức” đặc trưng cho một quan niệm thống kê được quan niệm như thế? Điều này xuất phát từ yếu tố thứ hai của sự phân loại rốt ráo thể chất/tinh thần (physique/moral) của P.-G.-J. Cabanis trong tác phẩm Rapports du physique et du moral de l’homme de 1796-1805 của ông và có nghĩa là “liên quan đến năng lực tinh thần (facultés morales)”. Sự phân đôi này nằm ở cội nguồn của việc thiết lập lớp các khoa học đạo đức (sciences morales) của Institut de France (Học viện Pháp quốc) năm 1795 và của tổ chức có tên đồng âm (Académie des sciences morales et politiques) năm 1832. Hệ quả là các khoa học đạo đức là một lĩnh vực mà thống kê đạo đức là một thành tố và tính thống nhất của lĩnh vực không được đảm bảo bởi việc nghiên cứu luân lí học (la morale). Mặc dù hai mảng nghiên cứu, tinh thần (moral) và luân lí (morale), cuối cùng chồng lên nhau, thống kê đạo đức không ra đời như là xã hội học của luân lí học.
Print Friendly and PDF

23.1.20

Số học chính trị


William Petty (1623-1687)

SỐ HỌC CHÍNH TRỊ

“Việc áp dụng những tính toán số học vào những chủ đề hay thực tiễn chính trị, như các thu nhập công, số dân, quy mô và giá trị đất đai, lệ phí, các ngành nghề, thương mại, công trường thủ công; vào tất cả những gì liên quan đến sự hùng cường, sức mạnh, của cải, v.v. của bất kì dân tộc hay nền cộng hoà nào”. Đó là định nghĩa trong Cyclopedia của E. Chambers (1728) và được dịch trong mục “chính trị số học” của Encylopédie (Bách khoa toàn thư) của Diderot và d’Alembert.
Lịch sử
Thuật ngữ “số học chính trị” do người Anh W. Petty sáng tạo trong những năm 1670 hầu như biến mất ngay từ đầu thế kỉ XIX. Đây là một trong những nỗ lực để đề cập các vấn đề chính trị, theo nghĩa rộng (nghĩa là có cả kinh tế, xã hội, v.v.) một cách chính xác, có phương pháp và duy lí. Ngày nay nhìn lại người ta thường cho rằng số học chính trị là tiền thân của dân số học; nói cách khác, người ta chủ yếu giữ lại việc đếm số dân và những ước đoán (ít nhiều thấm đậm phép tính xác suất) về dân số, sự phân bổ và tiến hoá của dân số.
Print Friendly and PDF

17.11.19

Toán học xã hội

Nicolas de Condorcet (1743-1794)

TOÁN HỌC XÃ HỘI

Olivier Martin Marc Barbut
Sự xuất hiện đầu tiên đáng chú ý của thuật ngữ “toán học xã hội” bắt nguồn từ những bài viết của Condorcet: nó đánh dấu quyết tâm của tác giả này đặt nền tảng cho một khoa học tổng quát về con người và xã hội. Là một hỗn hợp của số học chính trị và lí thuyết các lựa chọn tập thể, lí thuyết của ông cũng có tham vọng trở thành một hệ thống quy phạm về việc cai trị con người và hành động của con người: nó muốn vừa là một khoa học vừa là một “nghệ thuật xã hội”. Các công trình số học chính trị của Graunt và Petty trong thế kỉ XVII, những nghiên cứu về vật lí-thần học của Derham hay của Süssmilch, những nghiên cứu của nhà kinh tế Quesnay, của Buffon, của các nhà toán học và nhà xác suất Bernouilli hay Leibniz nằm trong số những nghiên cứu góp phần hình thành ý tưởng “toán học xã hội”.
Print Friendly and PDF

26.8.19

Condorcet Marie

Nicolas de Condorcet (1743-1794)

Condorcet Marie-Jean-Antoine-Nocola Caritat (marquis de), 1743-1794

Tư tưởng lịch sử
Xuất thân từ một gia đình quý tộc nhỏ vùng Picardie, Condorcet theo học với các linh mục dòng Tên ở Reims, rồi ở trường Navarre và ở Paris. Năm 1769, ông tham gia Viện hàn lâm khoa học Paris và kết bạn với d’Alembert, Diderot, Voltaire, Helvétius, Condillac. Ông cộng tác vào Supplément của Grande Encyclopedie (phụ lục của bộ Đại từ điển bách khoa). Năm 1774, dưới thời bộ trưởng Turgot là bạn ông, ông trở thành thanh tra tiền tệ và mối quan tâm của ông đến các vấn đề kinh tế sẽ không bao giờ suy giảm. Năm 1782, ông gia nhập Viện hàn lâm Pháp. Tuyên bố công khai những tư tưởng cộng hoà, ông được bầu vào Quốc hội lập pháp năm 1791 và được bổ nhiệm vào Uỷ ban giáo dục và viết năm báo cáo cho Uỷ ban, rồi sau đó tiếp tục được bầu vào Hội nghị quốc ước (Convention). Bị phái Montagne nghi ngờ và lên án là có cảm tình với phái Gironde, ông phải bỏ chạy. Ông bị kết án tử hình ngày 2 tháng 10 năm 1793, lẫn trốn trong vùng Paris rồi bị bắt do bị tố cáo. Ông mất trong tù Bourg-la-Reine vào tháng ba năm 1794, trong những điều kiện chưa được làm rõ. Trước khi chết ông đã hoàn tất tác phẩm chính của mình là Esquisse d’un tableau historique des progrès de l’esprit humain (Phác thảo bức tranh lịch sử những tiến bộ của trí tuệ con người) ([1795] 1988).
Print Friendly and PDF

17.7.19

Pierre Bourdieu (1930-2002)

Pierre Bourdieu (1930-2002)

PIERRE BOURDIEU (1930-2002)

Nathalie Bulle-Schmidt
Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS), Paris
Sinh tại Denguin (Pyrénées-Atlantiques), cựu sinh viên Trường đại học sư phạm (ENS), thạc sĩ triết, Bourdieu từng dạy trung học tại các đại học Alger, Paris và Lille. Ông từng là giám đốc nghiên cứu tại Trường cao học các khoa học xã hội (EHESS) và giáo sư xã hội học tại Collège de France (1981).
Xã hội học của Bourdieu có những điểm neo ở Marx, Max Weber và Durkheim. Đây là một dạng văn hoá luận (culturaliste) của tư tưởng marxist. Những đối tượng của thế giới xã hội được giả định là do những cấu trúc quan hệ được các tác nhân xã hội nội hiện hoá xác định. Các tác nhân này kết hợp các đối tượng trên trong các cấu trúc tâm trí của mình thông qua văn hoá, nghĩa là qua trung gian của tất cả các hệ thống biểu tượng: ngôn ngữ, kiểu cách, hình dạng, phong thái và tất cả những dấu hiệu thể hiện các sở thích, ý tưởng và tình cảm. Do đó họ có thiên hướng cảm nhận thực tại xã hội là tự nhiên. Thế mà khuynh hướng tâm trí của họ gắn với những vị thế nhất định và với những lợi ích đặc biệt trong không gian xã hội. Cũng như đối với Freud, cá thể “không phải là trung tâm của bản thân”. Xã hội học phải bộc lộ ý nghĩa thật sự của hành động cá nhân vốn do các cấu trúc xã hội bên ngoài xác định. Trên điểm này, động cơ của hành động xã hội là các cuộc đấu tranh, không ý thức về đối tượng thật sự của chúng, về quyền lực và sự thống trị về những khác biệt và xếp hạng cấu thành các hệ thống biểu tượng.
Print Friendly and PDF

13.12.15

Polanyi Karoly, 1886-1964



Polanyi Karoly (1886-1964)

Polanyi Karoly, 1886-1964

Sinh tại Wien và mất tại Toronto, Polanyi theo học luật và triết tại các đại học Budapest và Kolozsvar (Cluj, từ 1919), và một cách sâu sắc tự đồng nhất mình với đất nước Hungari. Tư tưởng và văn hóa của ông là chất lên men trong một thế giới đang sôi sục vào lúc chuyển thế kỉ. Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa vô chính phủ hoà trộn vào nhau trong môi trường văn hóa thuận lợi cho việc đảo lộn các nghệ thuật, văn chương, triết học... và số phận. Cái ngông kề cạnh cái thiên tài, cái không tưởng đi cùng với cái thực tế lạnh lùng, chính sách cải lương đồng hành với cái xi-nic, và khủng bố chính trị kề vai với chính sách cách mạng.
Năm 1909, Polanyi thành lập câu lạc bộ Galilei, điểm kết tinh và thu hút tất cả những ai mơ về một thế giới mới. Là địa điểm tranh luận và đối chất ý tưởng, các khoa học xã hội được kết nối, vì điều tốt nhất hay tồi tệ nhất, với một câu lạc bộ tư duy tự do, triệt để, chống giáo hội và chống cường quyền. Các khoa học này có thể trang bị cho việc xây dựng xã hội, cho các ngành nghệ thuật mới, cho các tiêu chí duy lí để các lĩnh vực này thừa hưởng được uy quyền của khoa học và vận dụng chúng nhằm phục vụ cho sự tiến bộ xã hội. Đối với phần lớn giới trên, đại diện cho tiến bộ này là chủ nghĩa xã hội.
Print Friendly and PDF