Hiển thị các bài đăng có nhãn Trí thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trí thức. Hiển thị tất cả bài đăng

24.12.24

Noam Chomsky ở tuổi 96: nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, nhà triết học và nhà tư tưởng đại chúng

NOAM CHOMSKY Ở TUỔI 96: NHÀ NGÔN NGỮ HỌC, NHÀ GIÁO DỤC, NHÀ TRIẾT HỌC VÀ NHÀ TƯ TƯỞNG ĐẠI CHÚNG VỚI TẦM ẢNH HƯỞNG TO LỚN VỀ TRÍ TUỆ VÀ ĐẠO ĐỨC

Noam Chomsky đã diễn thuyết và tranh luận tại nhiều diễn đàn về nhiều chủ đề trong suốt sự nghiệp lâu dài của mình. Neilson Barnard/Getty Images

Noam Chomsky, một trong những trí thức nổi tiếng và được kính trọng nhất thế giới, sẽ tròn 96 tuổi vào ngày 7 tháng 12 năm 2024. Trong hơn nửa thế kỷ, vô số người đã đọc các tác phẩm của ông bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, và nhiều người đã dựa vào các bình luận và bài trả lời phỏng vấn của ông để có cái nhìn sâu sắc về các cuộc tranh luận trí thức và sự kiện đương thời.

Chomsky bị đột quỵ hồi tháng 6 năm 2023 nên khả năng vận động, nói chuyện và đi lại của ông bị suy giảm nghiêm trọng. Sinh nhật của Chomsky là dịp để xem xét lượng tác phẩm đồ sộ mà ông đã sáng tác nhiều năm qua cũng như suy ngẫm về nhiều cách mà các văn bảnbài nói chuyện của ông vẫn đóng góp sâu sắc tại các cuộc thảo luận đương đại rộng khắp các lĩnh vực và quốc gia.

Khối lượng công trình đồ sộ của Chomsky bao gồm nghiên cứu khoa học tập trung vào ngôn ngữ, bản chất con người và tâm trí, cùng các bài viết chính trị về chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ, Israel và Palestine, Trung Mỹ, Chiến tranh Việt Nam, các thể chế cưỡng chế, phương tiện truyền thông và vô vàn cách, mà theo đó, nhu cầu của con người bị gạt bỏ để nhường chỗ cho lợi nhuận và quyền kiểm soát.

Là một học giả về nhân văn và luật, tôi đã tiếp cận công trình của Chomsky từ nhiều góc độ khác nhau và là tác giả của cuốn tiểu sử “Noam Chomsky: A Life of Dissent” (tạm dịch: Noam Chomsky: Một cuộc đời bất đồng chính kiến)quyển sách về ảnh hưởng của Chomsky có tựa đề The Chomsky Effect: A Radical Works Beyond the Ivory Tower” (tạm dịch: Hiệu ứng Chomsky: Sự nghiệp cấp tiến vượt khỏi tòa tháp ngà). Một chủ đề quan trọng xuyên suốt lượng tác phẩm đồ sộ của ông là niềm say mê suốt đời đối với sự sáng tạo của con người, điều này giúp giải thích những cuộc tấn công dữ dội của ông vào những kẻ tìm cách kiểm soát quần chúng.

Print Friendly and PDF

20.8.24

Thần nông Việt Nam đã ra đi

THẦN NÔNG VIỆT NAM ĐÃ RA ĐI

GIÁO SƯ VÕ TÒNG XUÂN KHÔNG CÒN NỮA

🙏

Cuộc đời như một cuốn phim. Hãy để lại những thước phim có giá trị nhất.

Võ Tòng Xuân

GS.TS Võ Tòng Xuân - Ảnh: CHÍ QUỐC (Báo Tuổi Trẻ)

Sáng thứ Hai, ngày 19 tháng 8, năm 2024, Giáo sư Võ Tòng Xuân, sau cơn bệnh nặng đã vĩnh viễn ra đi tại Thành phố Hồ Chí Minh, lúc 7 giờ sáng. Tin này như sét đánh. Có lẽ không ai không biết tên tuổi của ông, nhất là người dân của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tôi hay gọi ông là Thần Nông Việt Nam. Thần nông trong truyền thuyết chỉ là truyền thuyết. Nhưng ở đây, Thần nông là câu chuyện có thật, “người thật, việc thật”, được lịch sử ghi chép rõ ràng. Ông rất xứng đáng với danh hiệu cao quý đó.

Võ Tòng Xuân sinh ngày 6 tháng 9 năm 1940 tại xã Châu Phú, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Ông xuất thân từ một gia đình nghèo, phải làm nhiều nghề để lo cho 5 người em. Ông kể: “Khi tôi học xong Trung học đệ nhất cấp thì như những thanh niên khác muốn kiếm trường để lên cấp 3, rất may tôi đậu vào Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (nay là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng). Học Cao Thắng là giai đoạn cực nhất vì gia đình nghèo tôi phải đi bán báo kiếm tiền lo cho việc học và phụ ba mẹ nuôi các em. Mỗi ngày tôi phải thức dậy từ 2 giờ 30 phút sáng đến chỗ phát hành lãnh báo, lãnh xong đem về nhà để cả gia đình cùng xếp báo lại, sau đó anh em tôi chia báo ra bán cho đến 6 giờ 30 sáng thì về đi học…”. Sau một thời gian ông bị bệnh lao nặng, và được điều trị tại Bệnh viện Sài gòn. Nhưng cũng chính nơi đây, như một duyên nợ tiền định, ông đã gặp người bạn đời của ông, bà Bùi Thị Ngọc Lệ, “người vợ tào khang” mà ông biết ơn suốt đời. Việc học kỹ thuật ở Trường Kỹ thuật Cao Thắng đã có tác dụng rèn cho ông một khuôn mẫu suốt đời: đức tính kỹ lưỡng, kiên nhẫn, làm việc gì cũng phải chỉnh chu, tác phong nghiêm túc.

Print Friendly and PDF

17.8.24

GS Ngô Bảo Châu: Thấu hiểu toán học hay thấu hiểu thế giới trong chính chúng ta

GS Ngô Bảo Châu:

THẤU HIỂU TOÁN HỌC HAY THẤU HIỂU THẾ GIỚI TRONG CHÍNH CHÚNG TA

Phan Thị Hà Dương

GS Ngô Bảo Châu vừa cho ra mắt cuốn sách “Lý thuyết số sơ cấp”, viết chung với TS Đỗ Việt Cường. Đây là lần đầu tiên, anh viết một giáo trình toán bằng tiếng Việt, cho học sinh và sinh viên Việt Nam.

Ngày 9/8, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) đã phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Lễ ký kết hợp tác giữa hai đơn vị, đồng thời với buổi Tọa đàm giới thiệu sách. Đây cũng là dịp kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Toán học quốc tế (1974-2024).

Nhân dịp này, GS. Ngô Bảo Châu và PGS. Phan Thị Hà Dương đã có cuộc trò chuyện về cuốn sách, toán học và nhiều vấn đề khác. Diễn Đàn trân trọng cảm ơn PGS Phan Thị Hà Dương đã gửi cho bản ghi đầy đủ cuộc trò chuyện này (đã được đăng một phần trên VnExpress). Nhân dịp này, cũng xin “bật mí”, bài phỏng vấn NBC trên Diễn Đàn gần 20 năm trước (chính xác là trên số báo 148, tháng 2.2005, được đăng lại tại đây nhân dịp anh được giải Clay), cũng chính là do PTHD thực hiện.

PTHD: - Anh Châu thân mến, khi đọc cuốn sách “Lý thuyết số sơ cấp” của anh và TS. Đỗ Việt Cường, tôi bỗng nhớ đến câu anh từng viết: “Yêu nước, về cơ bản, là cảm thấy “liên quan” đến số phận của đồng bào mình”. Phải chăng chính vì cảm nhận về mối liên quan mật thiết giữa mình với toán học Việt Nam, với tương lai của nó, với những con người sẽ học toán và làm toán... mà anh đã dành tâm huyết và chia sẻ nhiều suy tư trong cuốn sách này?

Print Friendly and PDF

12.8.24

Kỷ Niệm với Thầy Chu Phạm Ngọc Sơn

KỶ NIỆM VỚI THẦY CHU PHẠM NGỌC SƠN

(Nhóm cựu Sinh viên Đại học Khoa Học Sài Gòn)

GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn

Cô Lê Thu Vân

Dáng người cao với đôi mắt sáng, thông minh là hình ảnh của Thầy Chu Phạm Ngọc Sơn, người Thầy đã mang về cho Ban Hóa Học Đại Học Khoa Học Saigon một lối giảng dạy mới, dễ hiểu và có tính biện luận. Thầy đã tận tụy hướng dẫn đàn em và học trò những kiến thức cập nhật trong nghiên cứu cũng như trong học tập. Chúng tôi thật ngưỡng mộ.

* * *

Nguyễn Bá Hiệp

1975 – Tôi rời bỏ bút tập để hòa mình vào công tác xã hội, chiến dịch, lao động cũng như hàng ngàn sinh viên, bạn bè cùng trường. Các buổi tối gác trường cuối năm tôi thường thấy một ông thầy cao dong dỏng, gầy gò rời phòng thí nghiệm trường đạp xe ra về khi trời đã vào khuya 9, 10 giờ. Hỏi ra mới biết đó là Giáo Sư Chu Phạm Ngọc Sơn. Tôi thường tự hỏi sao ông thầy này làm việc khuya thế!

1976 – Chúng tôi trở về trường lớp để hoàn tất năm học và tôi tiếp tục theo học khoa Hóa Đại Học Tổng Hợp. Tôi có dịp gặp lại Thầy Sơn qua các lớp Hóa Lý 1 và 2, rồi Hóa Lý Hữu Cơ. Cách giảng dạy đặc thù của Thầy – nêu vấn đề rồi suy luận, giải thích rõ ràng từng điểm – như mê hoặc và giúp tôi hiểu bài thông suốt tuy rằng Hóa Lý là môn khó nuốt. Qua các bạn bè đàn anh, tôi được biết sơ về nhóm các thầy cô dưới sự hướng dẫn nghiên cứu của Thầy. Như các sinh viên cùng lớp, tôi có mơ ước được làm học trò và làm việc với Thầy. Tôi chỉ biết cố học chăm để có hy vọng Thầy để ý. Năm thứ ba tôi xin được vào làm phụ thí nghiệm cho nhóm của Thầy qua sự giúp đỡ của các Cô Nhất Hoa và Cô Kim Dung. Được gặp và nói chuyện với Thầy trong phòng thí nghiệm làm tôi hãnh diện và vui thích lắm. Thầy hiền lành, bình dân và vui vẻ với học trò không phải như tôi thường nghĩ về các thầy thật nổi tiếng.

Print Friendly and PDF

9.8.24

Tình huống thuộc địa: cách tiếp cận lí thuyết

“TÌNH HUỐNG THUỘC ĐỊA. CÁCH TIẾP CẬN LÝ THUYẾT”[*]

Georges BALANDIER[**]

[TRÍCH]

Một bài đăng trong Cahiers internationaux de sociologie, vol. 110, janvier-juin 2001, pp. 9-29. Paris: Les Presses Universitaires de France.

-------------------------------------------------------------------

Georges Balandier (1920-2016)

Một trong những sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử nhân loại là sự bành trướng trên toàn cầu của phần lớn các dân tộc châu Âu; nó đã dẫn đến sự khuất phục – thậm chí đôi khi còn là sự biến mất - của gần như toàn bộ các dân tộc được gọi là lạc hậu, cổ xưa hoặc nguyên thủy. Hoạt động thực dân trong thế kỷ 19 là hình thức quan trọng nhất, có hệ quả quan trọng nhất của sự bành trướng của châu Âu; hoạt động này, khi được thiết lập, đã áp đặt lên những dân tộc này một tình huống thuộc một loại rất đặc biệt. Chúng ta không thể không biết đến sự kiện này. Nó không chỉ quyết định các phản ứng của các dân tộc “lệ thuộc” mà còn giải thích một số phản ứng nhất định của các dân tộc vừa được giải phóng. Tình huống thuộc địa đặt ra vấn đề cho dân tộc bị khuất phục - vốn phản ứng với những vấn đề này trong chừng mực một “chút ít khả năng hành động” được dành cho họ - cho chính quyền đại diện cho cái gọi là quốc gia giám hộ (và bảo vệ lợi ích địa phương của quốc gia này), cho Nhà nước mới được thành lập phải chịu cái gánh nặng của cả một di sản thuộc địa; tình huống, còn tồn tại hoặc trong quá trình bị thanh toán này, kéo theo những vấn đề đặc thù cần phải thu hút sự chú ý của nhà xã hội học. Thời kỳ hậu chiến này đã chứng minh tính cấp bách và tầm quan trọng của toàn bộ vấn đề thuộc địa; đặc trưng của nó là những hoạt động khó khăn để khôi phục lại, với những cuộc giải phóng và nhượng bộ ít nhiều có điều kiện; thời kỳ này thông báo một giai đoạn kỹ thuật của tiến trình thuộc địa hóa tiếp nối giai đoạn chính trị-hành chính.

Chỉ một vài năm trước đây, một ước tính thô sơ nhưng có ý nghĩa đã nhắc lại rằng các lãnh thổ thuộc địa khi đó bao phủ một phần ba diện tích địa cầu và rằng bảy trăm triệu con người, trong tổng số hai tỷ dân, là những dân tộc thần dân (peuple sujet)[1]; cho đến rất gần đây, phần lớn các dân số, nếu không tính Trung Quốc và Nhật Bản, không phải da trắng phải chịu một tình trạng lệ thuộc do một trong các quốc gia thực dân châu Âu kiểm soát. Những dân tộc bị thống trị này, phân bố ở Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương, đều thuộc về những nền văn hóa bị xem là “lạc hậu” hoặc “không có máy móc”. Chúng tạo nên lĩnh vực nghiên cứu trong đó các nhà nhân học hoặc dân tộc học đã hoạt động - và đang hoạt động. Và kiến ​​thức, có tính chất khoa học, mà chúng ta có được về các dân tộc thuộc địa, phần lớn là nhờ vào các công trình mà họ đã thực hiện. Về nguyên tắc, những công trình như vậy không thể (hoặc không nên) không biết về một thực tế quan trọng như vậy, quá trình thuộc địa hóa vốn, từ một thế kỷ trở lên, đã áp đặt một kiểu tiến hóa nhất định lên các dân tộc bị khuất phục; dường như không thể nào không tính đến những điều kiện cụ thể trong đó sự tiến hóa gần đây của các dân tộc này đã diễn ra. Tuy nhiên, các nhà nhân học chỉ đã xem xét theo một cách rất không đồng đều bối cảnh chính xác này do tình huống thuộc địa bao hàm; chúng tôi sẽ có cơ hội thể hiện điều này trong một công trình hiện đang được thực hiện. Một mặt, các nhà nghiên cứu tham gia vào nhiều cuộc điều tra thực tế và trong một phạm vi hạn chế, hài lòng với chủ nghĩa kinh nghiệm tiện lợi hầu như không vượt quá trình độ của một kỹ thuật; giữa hai thái cực này là một khoảng cách rộng - nó dẫn từ giới hạn của cái gọi là nhân học “văn hóa”, đến giới hạn của cái gọi là nhân học “ứng dụng”. Một mặt, tình huống thuộc địa bị gạt bỏ vì nó gây rối hoặc chỉ được coi là một trong những nguyên nhân của những biến đổi văn hóa; mặt khác, nó chỉ được xem xét dưới một số khía cạnh nhất định - những khía cạnh rõ ràng liên quan đến vấn đề được xử lý - và không xuất hiện như một tổng thể đang hoạt động. Tuy nhiên, bất kỳ nghiên cứu hiện tại nào về các xã hội thuộc địa, nhắm tới mục tiêu hiểu biết về thực tế hiện tại chứ không phải là tới sự tái tạo mang tính chất lịch sử, nhắm tới mục tiêu là sự hiểu biết không buộc phải hy sinh tính đặc thù có lợi cho một sự sơ đồ hóa giáo điều, chỉ có thể được thực hiện khi được đặt trong cái phức hợp này mà chúng tôi gọi là tình huống thuộc địa. Đây là những gì chúng tôi muốn thể hiện; nhưng, trước đó, điều quan trọng là phải vạch ra những nét cơ bản hình dung hệ quy chiếu mà chúng tôi vừa gợi lên.

Print Friendly and PDF

12.7.24

Các nhà khoa học nhẹ nhõm vì phe cực hữu thất bại trong cuộc bầu cử ở Pháp

CÁC NHÀ KHOA HỌC NHẸ NHÕM VÌ PHE CỰC HỮU THẤT BẠI TRONG CUỘC BẦU CỬ Ở PHÁP — NHƯNG HỌ VẪN PHẢI ĐỐI MẶT VỚI SỰ BẤT TRẮC

Do không có đảng nào giành được đa số phiếu nên tác động của cuộc bỏ phiếu đối với việc nghiên cứu vẫn chưa rõ ràng.

Barbara Casassus

Một cuộc mít tinh vào đêm bầu cử ở Nantes, Pháp. Ảnh: Loic Venance/AFP qua Getty

Các nhà khoa học ở Pháp nhẹ nhõm khi đảng cánh hữu National Rally (RN) thua cuộc trong cuộc bầu cử quốc hội ngày hôm qua. Nhưng việc không có người chiến thắng hoàn toàn bộc lộ sự bất trắc cho các nhà khoa học, và nhiều người không nghĩ rằng chính phủ mới sẽ tạo ra sự khác biệt tích cực cho nghiên cứu và giáo dục đại học.

Đảng National Rally được kỳ vọng sẽ giành được đa số phiếu sau khi giành chiến thắng trong vòng bỏ phiếu đầu tiên vào ngày 30 tháng 6, và các nhà khoa học đã lo ngại rằng điều này có thể dẫn đến việc cắt giảm ngân sách nghiên cứu, hạn chế nhập cư và đưa chủ nghĩa hoài nghi về biến đổi khí hậu vào hạ viện Pháp, tức Quốc hội nước này. Nhưng bất ngờ thay, đảng này đã giành vị trí thứ ba trong cuộc bỏ phiếu vòng hai ngày hôm qua, xếp sau đảng cánh tả Mặt trận Bình dân Mới (NPF) và trung dung Ensemble — một liên minh bao gồm đảng Phục hưng của Tổng thống Emmanuel Macron. Không ai trong hai đảng dẫn đầu giành được lượng phiếu đa số tuyệt đối và giờ đây họ phải đàm phán để thành lập chính phủ.

Print Friendly and PDF

5.2.23

Jacques Derrida: “Nếu tôi có thể nói nhiều hơn một câu ...”

JACQUES DERRIDA: “NẾU TÔI CÓ THỂ NÓI NHIỀU HƠN MỘT CÂU…”

Phỏng vấn do Sylvain Bourmeau[*], Jean-Max Colard[**]Jade Lindgaard[***] thực hiện

Jacques Derrida (1930-2004)
Jean-Michel Blanquer (1964-)

Theo Jean-Michel Blanquer[1], tư tưởng của Derrida là một loại virus. Đó là lý do chính đáng để dành thời gian cho nhà triết học của mục tiêu mới cần phải bắn hạ - “giải cấu trúc” - thời gian để triển khai tư tưởng của mình, như cách đây mười tám năm nó đã cho phép chúng ta nắm được những gì, trong sự vận hành của thế giới, chỉ càng nổi bật trong lĩnh vực chính trị và truyền thông.

Cùng với Foucault và Deleuze, và giữa cơn đại dịch toàn cầu, tư tưởng của Jacques Derrida gần đây đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục Quốc gia, Jean-Michel Blanquer, mô tả như một “vi-rút”, người đã làm tôi ngạc nhiên khi tưởng tượng rằng ông chắc hẳn đã từng đọc Fig Mag vào thời điểm mà, phong trào sinh viên tháng 11-12 năm 1986, giám đốc của tờ báo này, Louis Pauwels, cho rằng cần phải mỉa mai về căn “bệnh AIDS tâm thần”... Ít, có quá ít phản ứng về điều khủng khiếp này đã được phát biểu một cách chính thức bên lề cái gọi là “hội thảo” Sorbonne, trong đó một hội đồng cau có đã quyết định lấy khái niệm “giải cấu trúc” của Derrida làm mục tiêu, ngoại trừ phản ứng của Elisabeth Roudinesco, một người trung thành, đã lựa chọn trên tờ Le Monde nói về “cuộc chiến chống trí tuệ”, và đó không phải là ngẫu nhiên.

Gilles Deleuze (1925-1995)
Michel Foucault (1926-1984)

“Lời kêu gọi chống lại cuộc chiến chống trí tuệ là tiêu đề của văn bản chẩn đoán mà vào tháng 2 năm 2004, cùng với một số người bạn, chúng tôi đã viết cho tạp chí Les Inrockuptibles sau đó quyết định kêu gọi công chúng ký vào, và nó đã trở thành trong vài giờ, tại Pháp, bản kiến ​​nghị đầu tiên tận dụng tối đa công nghệ kỹ thuật số, thu thập hàng trăm nghìn chữ ký, đến mức được đưa lên trang nhất của tờ New York times và dẫn đến sự sa thải Bộ trưởng Văn hóa lúc bấy giờ là Jean-Jacques Aillagon. Đơn giản, đó là một câu hỏi về việc liên kết các phong trào xã hội khác nhau gần đây, từ các nhân viên giải trí không thường xuyên đến các thẩm phán, từ nhà nghiên cứu đến kiến ​​trúc sư, từ nhà phân tâm học đến sinh viên, tất cả những người, theo chúng tôi, dường như chống đối lại một điều mà chúng tôi đ nghị gọi bằng tên của chính nó: một cuộc tấn công triệt để vào trí tuệ, được hiểu theo từ nguyên là một cách kết nối, tạo ra xã hội.

Tất nhiên, Jacques Derrida là một trong những người đầu tiên đã ký kiến nghị. Và ông ấy rất tức giận khi, để thay thế vị bộ trưởng bị sa thải này – không phải là người tồi tệ nhất - Thủ tướng vào thời điểm đó, Jean-Pierre Raffarin, đã chỉ định người mà ông ấy đã cử đi làm nhiệm vụ đáp trả Lời kêu gọi của chúng tôi trên trang nhất của tờ Le Monde, một Renaud Donnedieu de Vabres nào đó…

Tức giận đến mức ông đã mời chúng tôi đến nhà ông để nói chuyện chính trị. Jacques Derrida bị ốm, tôi tin là ông biết rằng bệnh của ông không thể chữa được nữa - ông ấy đã mất sáu tháng sau đó. Vì vậy, Jade Lindgaard, Jean-Max Colard và tôi, cùng với nhiếp ảnh gia Laure Vasconi, vào một ngày tháng 3 năm 2004, đã đi về phía ngôi nhà nhỏ trong một khu nhà ở Ris-Orangis, trong đó, đó không phải là điều được bịa ra, Jacques và Marguerite Derrida chuyển đến vào tháng 5 năm 1968. Và chúng tôi đã có một buổi chiều tuyệt vời và khó quên để thực hiện, cho tờ báo khi đó của chúng tôi, Les Inrockuptibles, cuộc phỏng vấn dài này mà tôi nghĩ là đặc biệt thích hợp để xuất bản lại hôm nay, khi nó vang lên, mười tám năm sau.

Sylvain Bourmeau.

Print Friendly and PDF

8.6.21

Tầng lớp tư sản trí thức, thành phần tinh hoa gia truyền

TẦNG LỚP TƯ SẢN TRÍ THỨC, THÀNH PHẦN TINH HOA GIA TRUYỀN

Khi một nhóm xã hội bá chiếm cả kiến ​​thức, quyền lực và tiền bạc

Người ta thường nói xã hội bị phân chia thành 1% những người giàu nhất và 99% là số còn lại. Nhưng công thức tóm tắt gây sốc này đã loại bỏ những bất bình đẳng liên quan đến bằng cấp. Và che giấu vai trò của tầng lớp tư sản trí thức vốn, ngay cả khi họ phục vụ nhóm 1%, vẫn thích thể hiện mình trong phe của những người bị áp bức. Tầng lớp xã hội này xuất thân từ “chế độ tài đức/méritocratie” truyền lại những đặc quyền của nó cho con cháu, giống như tầng lớp quý tộc xưa.

Pierre Rimbert[*]

Tống Huy Tông (宋徽). — “Buổi họp các nhà nho”, thế kỉ XII

© National Palace Museum, Taipei, Taïwan - RMN-Grand Palais

Michael Young (1915-2002)

Vào mùa hè năm 1957, nhà xã hội học người Anh Michael Young dạo chơi trên một bãi biển ở xứ Wales. Là một nhà nghiên cứu lâu năm trong Đảng Lao động Anh mà bản tuyên ngôn năm 1945 đã được ông soạn thảo, ông đã có bước rẽ ngoặt. Trên bãi cát, ông ta nghiền ngẫm: mười một nhà xuất bản đã từ chối bản thảo mới nhất của ông. Đột nhiên, ông ta nhìn thấy một cặp bạn bè ở bờ biển, dừng lại, gợi lên với họ văn bản mà không ai muốn. Thật trùng hợp, các người bạn của ông là nhà xuất bản sách nghệ thuật; và họ quyết định đưa cuốn sách vào danh mục của họ. Tiêu đề của nó: Sự trỗi dậy của chế độ tài đức/L’Ascension de la méritocratie[1]. Với thuật ngữ này được ghép từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp, Young dự đoán được những lời mỉa mai. Năm trăm nghìn bản được bán ra trong vài năm đã đưa thuật ngữ “chế độ tài đức” vào ngôn ngữ hàng ngày. Điều đã phải trả giá bằng một sự hiểu lầm khổng lồ.

Print Friendly and PDF

19.3.19

Người trí thức chân chính Nguyễn Hiến Lê


Nguyễn Hiến Lê (1912-1984)

NGƯỜI TRÍ THỨC CHÂN CHÍNH NGUYỄN HIẾN LÊ

Trần Khuyết Nghi
Nhà văn quá cố Nguyễn Hiến Lê, trong con mắt của những người đồng thời và của lớp hậu sinh thường được nhìn nhận như là một học giả có sự nghiệp trước tác đáng nể về đủ mọi phương diện khảo cứu, biên soạn, dịch thuật với khoảng 120 tác phẩm để đời mà hầu như tác phẩm nào cũng có một giá trị riêng biệt đáng được nhắc nhở. So với các lớp tiền phong, không phân biệt trong hay ngoài nước, ông có nhiều mặt vượt trội cả về số lượng lẫn tính đa dạng. Mà về văn phong giản dị, phương pháp làm việc khoa học, với cách trình bày bất cứ vấn đề nào cũng mạch lạc, rõ ràng và dễ hiểu dễ đi vào lòng người thì ai cũng phải chịu. Ngoài ra người ta còn trọng ông hơn nữa ở phần nhân cách, lối sống, tấm gương làm việc kiên trì nhẫn nại, cùng nhiều đức tính đáng quý khác, chứ không chỉ ở những kết quả của sự nghiệp văn chương đồ sộ mà ông đã cống hiến được cho đời. Tôi có gặp ông một lần nhưng ngắn ngủi và không có kỷ niệm gì đáng để ghi lại. Chỉ sau khi ông qua đời chừng vài năm, gặp một số người khác hiểu biết nhiều về ông hơn, tôi thấy dường như ai cũng nhắc đến công đức ông với lòng kính trọng một cách gần như tuyệt đối. Ngay như cụ Vương Hồng Sển khí phách Nam bộ ngang tàng vậy, lớn hơn ông những 8 tuổi mà cũng thừa nhận trong đời cụ chỉ quỳ lạy trước linh cữu có hai người, một là cha cụ, người thứ hai là “anh Lê”..., như lời cụ tự kể trong một bài báo viết ở đâu đó.
Nhìn chung, ông Nguyễn Hiến Lê có công rất lớn trong việc truyền bá những tinh hoa tư tưởng đông tây, đặc biệt là những tri thức có tính cách thực hành và lối sống văn hóa mới cho những người cùng thời, nhất là cho thế hệ trẻ. Nhiều người nhận rằng nhờ có ông chỉ vẽ mà họ đỡ lúng túng rất nhiều khi bước chân vào đời, nắm vững phương pháp làm việc, học tập và xây dựng được một quan niệm tương đối ổn định về cuộc sống.
Print Friendly and PDF

15.1.19

Émile Zola: Tôi tố cáo!


J’ACCUSE!
TÔI TỐ CÁO!
(Émile Zola)
Nguyễn Xuân Xanh
Tôi chỉ có một niềm đam mê, đó là đam mê khai sáng, nhân danh nhân loại vốn đã chịu đau khổ rất nhiều trong khi họ phải có quyền hạnh phúc. Sự phản kháng cháy bỏng của tôi đơn giản là tiếng kêu gào của linh hồn tôi.
(Je n’ai qu’une passion, celle de la lumière, au nom de l’humanité qui a tant souffert et qui a droit au bonheur. Ma protestation enflammée n’est que le cri de mon âme.)
― Émile Zola, J’accuse!
Bản dịch tiếng Anh còn có sự diễn giải thêm:
Tôi chỉ có một niềm đam mê: đó là khai sáng những ai còn bị kềm giữ trong bóng tối, nhân danh nhân loại vốn đã chịu đau khổ rất nhiều trong khi họ phải có quyền hạnh phúc. Sự phản kháng cháy bỏng của tôi đơn giản là tiếng kêu gào của linh hồn tôi.
(“I have but one passion: to enlighten those who have been kept in the dark, in the name of humanity which has suffered so much and is entitled to happiness. My fiery protest is simply the cry of my very soul.”)
Đó là bản cáo trạng được xem là nổi tiếng nhất của đại văn hào Pháp Émile Zola (1840-1902) từng dấy lên, được đăng trong tờ báo cánh tả L’Aurore (Hừng đông) ngày 13 tháng giêng năm 1898, tức hơn 120 năm trước, phản kháng bản án được dàn cảnh chống lại một sĩ quan trong quân đội Pháp tên Alfred Dreyfus, xử ông chung thân năm 1894 tại tòa án quân sự ở Rennes, và đày ông đến Đảo Quỷ thuộc Guyane Pháp, nổi tiếng là đảo chết chóc như Côn Đảo Việt Nam. Chỉ vài giờ sau khi xuất bản, hơn hai trăm nghìn số báo L’Aurore đã bán hết. J’accuse một tuyệt tác của văn chương chính trị gửi cho Tổng thống Pháp Félix Faure.
Print Friendly and PDF

31.10.18

Nỗi đau


NỖI ĐAU

Cao Huy Thuần

Anh Chu Hảo vừa bị “kỷ luật” của đảng mà anh là đảng viên. “Kỷ luật” ấy là việc nội bộ chăng? Dư luận đã trả lời: thực chất, đó là một bản án, không phải riêng gì đối với anh Chu Hảo mà đối với tất cả trí thức. Bởi vậy, ai tự thấy mình là trí thức đều cảm thấy có liên quan. Đã có những thư chung. Đã có những “kiến nghị” viết rất sắc sảo và trí thức. Tôi có thể nói thêm ở đây một nỗi đau tuy rằng ai cũng biết, cũng nói, cũng lo: nỗi đau lạc hậu về văn hóa.
Print Friendly and PDF

17.5.18

Thư gởi anh Diệu

GS TS Phan Đình Diệu (1936-2018), Ảnh: Lê Anh Dũng
THƯ GỞI ANH DIỆU
Cao Huy Thuần
PTKT: Bài dưới đây được đăng lại trong số đặc biệt Phan Đình Diệu của báo Diễn Đàn:
LTS. Bài viết này đã đăng trên Diễn Đàn báo giấy, số 137, tháng 2.2004 dưới nhan đề “Thư đầu năm”. Sự ra đời của nó, bạn đọc chỉ cần đọc vài dòng đầu ắt hiểu. Nhưng nội dung của nó, bạn cũng dễ thấy, vượt qua thời gian để còn đọng tới hôm nay những phân tích sâu sắc về vị trí của người trí thức trong xã hội. Bức thư được đăng lại trong tuyển tập Thế giới quanh ta của tác giả, do nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2006. Giới thiệu cuốn sách này, nhà văn Nguyên Ngọc đã mượn một ý trong bài để đặt tít, đồng thời tạo ra một cụm danh từ dành cho tác giả, khó có thể hay hơn: “người xớ rớ uyên thâm"! Nhưng đây không chỉ là một bài viết bình thường, xuất phát từ bản thân người viết khi nghĩ về một chủ đề trừu tượng nào. Nó trước hết là một bức thư, gửi một người bạn thân thiết, và người đọc thấy rõ, những ý tưởng trong bài là những ý tưởng tác giả trao đổi với người nhận thư, mà nếu là một người khác thì không hẳn ông cũng nảy ra những ý tương tự. Người nhận thư đó chính là giáo sư Phan Đình Diệu, một “người xớ rớ uyên thâm” khác. 
Anh Diệu vừa từ giã chúng ta hôm qua. Nhớ tới Anh, Diễn Đàn trân trọng đăng lại trên mạng diendan.org lá Thư này.
14/5/2018
Anh Diệu thân mến,
Print Friendly and PDF

16.3.18

Thế nào là người trí thức?

THẾ NÀO LÀ NGƯỜI TRÍ THỨC?

 Tác giả: Paul Alexandre Baran*
Người dịch: Phạm Trọng Luật
Paul A. Baran là một nhà kinh tế học người Mỹ theo chủ nghĩa Marx. Tiểu luận The Commitment of the Intellectual (Sự Dấn thân của Người Trí thức), đăng trên nguyệt san Monthly Rewiew tháng 5 năm 1961, đã được dịch sang Pháp ngữ dưới tựa đề Qu’est-ce qu’un intellectuel trên tạp chí Partisans tháng 10 năm 1965. Trong bản dịch tiếng Việt này, một mặt, chúng tôi sử dụng bản gốc, tuy thường đối chiếu với bản Pháp văn và giữ lại tựa đề của bản sau như trên, mặt khác, chúng tôi cũng đặt thêm một số tiểu tựa cho dễ đọc, đồng thời bổ túc phần cước chú (có ký tên người dịch) khi thấy cần thiết.
Trong tiểu luận xuất sắc được giới thiệu ở đây, khi lập đường phân thủy giữa “trí thức” với “lao động trí thức”, Baran đã đưa ra một sự phân biệt hợp lý và cần thiết[1]. Và mặc dù được khai sinh trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, thật ra nó đã vượt thoát khuôn khổ của môi trường này. Phê phán của ông đối với một thành phần xã hội nào đó ở Hoa Kỳ vẫn còn nguyên giá trị, nếu đường ranh trên được áp dụng trong một khung cảnh khác, quốc gia chậm tiến hay chủ nghĩa xã hội đương tồn.
Print Friendly and PDF

12.4.17

Trí thức và không gian công cộng trong xã hội hiện đại


TRÍ THỨC VÀ KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Trần Hữu Quang
Mục tiêu của bài này là bàn luận về vai trò của trí thức trong không gian công cộng xét trong bối cảnh xã hội hiện đại. Nội dung bài viết chủ yếu dựa trên những tư tưởng và luận điểm của một số tác giả khoa học xã hội trên thế giới mà chúng tôi cho là quan trọng và mang tính gợi mở cho tiến trình suy tư về những vấn đề của xã hội Việt Nam đương đại. Bài này bao gồm ba phần: trước hết là một vài đặc trưng của người trí thức; kế đến, những đặc trưng của không gian công cộng nói chung và của báo chí nói riêng; và cuối cùng, sứ mệnh của người trí thức trong xã hội hiện đại.

Một vài đặc trưng của người trí thức

Trí thức là một từ khá thông dụng trong đời sống xã hội, nhưng thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và dưới những góc độ khác nhau, ngay cả nơi giới nghiên cứu khoa học xã hội, đến mức mà John Peter Nettl (1970, tr. 59) từng nêu câu hỏi như sau: “Trí thức là một định chế, một tập thể, một vai trò, một loại người, hay là gì?”
Print Friendly and PDF

11.6.16

Tìm hiểu khái niệm trí thức

Bài đã đăng trên tạp chí Khoa học xã hội (TP.HCM), số 1 (209), 2016, tr. 14-28
Tìm hiểu khái niệm trí thức
Trần Hữu Quang[*]
Tóm tắt: Trí thức là một từ thông dụng trong đời sống xã hội nhưng thường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, kể cả trong giới nghiên cứu khoa học xã hội. Bài này điểm lại một cách khái lược những quan niệm đáng chú ý về khái niệm trí thức của một số nhà triết học xã hội học trên thế giới trong thế kỷ 20, đi từ M. Weber, A. Gramsci, K. Mannheim, J. Schumpeter, T. Parsons, R. Dahrendorf, E. Shils cho tới C.W. Mills, P. Berger, T. Luckmann, J.P. Nettl P. Bourdieu.
“Trí thức”, người là ai? Người thế nào thì được gọi là trí thức? Trí thức đứng ở vị trí nào trong xã hội, họ đóng vai trò gì? Trí thức là một từ hết sức thông dụng nhưng cũng thường được hiểu theo những nội hàm hết sức đa dạng khác biệt nhau trong đời sống xã hội thường nhật cũng như ngay trong giới “trí thức” khoa học xã hội. Nói chung đã có rất nhiều cách định nghĩa cũng như rất nhiều quan niệm khác nhau về giới trí thức.
Print Friendly and PDF