Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế học và Văn chương - Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế học và Văn chương - Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

17.9.21

Đại dịch đã làm phá sản hoàn toàn cuốn tiểu thuyết ‘Atlas Shrugged’ của Ayn Rand

ĐẠI DỊCH ĐÃ LÀM PHÁ SẢN HOÀN TOÀN CUỐN TIỂU THUYẾT ‘ATLAS SHRUGGED’ CỦA AYN RAND

Paul Constant

Một thành viên của Lực lượng Vệ binh Quốc gia đọc cuốn “Atlas Vươn mình” |Atlas Shrugged| tại Điện Capitol khi Hạ viện tranh luận về việc luận tội Tổng thống Trump vào tháng 1/2021. Tom Williams / CQ-Roll Call, Inc qua Getty Images

Như bao người da trắng khác, tôi đọc cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất của Ayn Rand “Atlas Vươn mình” khi tôi ở tuổi 18. Và cũng như bao người da trắng khác, cuốn “Atlas Vươn mình” đã khiến tôi thành một kẻ đần độn trong nhiều tháng trời.

Ayn Rand (1905-1982)

Cuốn “Atlas Vươn mình”, được xuất bản năm 1959 và số lượng ấn bản phát hành chỉ đứng thứ hai sau Kinh Thánh, “Atlas Vươn mình” được dùng như một lời mời gọi bạn đọc đến với triết lý của Ayn Rand, Chủ nghĩa Khách quan, dựa trên ý tưởng rằng sự vị kỷ nên là đức tính hướng dẫn cho toàn bộ nhân loại. (Nếu bạn cho rằng tôi đang nói quá hoặc hiểu sai về thông điệp của bà, thì xin lưu ý là Rand đã công bố một cuốn sách phi hư cấu có tựa đề chính xác là “Phẩm hạnh của sự vị kỷ” |The Virtue of Selfishness| theo đúng nghĩa đen.)

Rand khẳng định rằng tính tư lợi là động lực tốt nhất cho kinh tế học, tài chính, chính trị học và về cơ bản cho tất cả những sự mưu cầu của nhân loại. Bà lập luận rằng đặt những người khác lên hàng đầu nghĩa là mọi người đều sẽ về cuối.

Print Friendly and PDF

1.4.21

Điều gì sẽ diễn ra khi bạn đặt niềm tin vào Ayn Rand và Lý thuyết Kinh tế Hiện đại


Bản tính con người

ĐIỀU GÌ SẼ DIỄN RA KHI BẠN ĐẶT NIỀM TIN VÀO AYN RAND VÀ LÝ THUYẾT KINH TẾ HIỆN ĐẠI

Thực tế về tính tư lợi không giới hạn

Denise Cummins

“Ayn Rand là nữ anh hùng của em,” một sinh viên đã nói với tôi như vậy trong giờ học. “Những tác phẩm của bà ấy đã giải phóng đầu óc em. Chúng dạy em biết rằng không nên dựa dẫm vào một ai khác ngoài chính bản thân mình.”

Khi nhìn vào gương mặt nhã nhặn và vô cùng trẻ trung của bạn sinh viên nọ qua chiếc bàn làm việc của tôi, tôi tự hỏi tại sao tiếng tăm của Rand lại ngày một tăng lên trong giới trẻ như vậy. Ba mươi năm sau khi bà qua đời, doanh số bán sách của bà lên đến hàng trăm nghìn bản mỗi năm – và nó đã tiếp tục tăng lên gấp ba lần kể từ cuộc sụp đổ kinh tế năm 2008. Những người hâm mộ bà bao gồm những người nổi tiếng có sức ảnh hưởng lớn, như Brad Pitt và Eva Mendes, các chính khách, như đương kim Chủ tịch Hạ viện Mỹ Paul Ryan và ứng viên tổng thống của Đảng Cộng hòa Ted Cruz.

Điểm cốt lõi trong triết lý của Rand – và cũng là điểm cấu thành nên chủ đề bao quát trong các tiểu thuyết của bà – là ở chỗ tính tư lợi không giới hạn thì tốt còn lòng vị tha thì chỉ phá hoại mà thôi. Bà tin rằng đây chính là biểu hiện sâu sắc nhất về bản tính con người, là nguyên tắc dẫn lối mà mỗi người nên sống trong cuộc đời của riêng mình. Trong cuốn “Chủ nghĩa tư bản: Lý tưởng Chưa biết” |Capitalism: The Unknown Ideal|, Rand đã thẳng thắn bày tỏ:

Chủ nghĩa tập thể |collectivism| là tiên đề trong quan niệm về bộ lạc của những người mông muội nguyên thủy, những người không thể nhận thức được các quyền cá nhân, tin rằng bộ lạc là một đấng cai trị tối cao, toàn năng, làm chủ cuộc sống của các thành viên bộ lạc và có thể hy sinh họ bất kỳ lúc nào.

Print Friendly and PDF

10.4.19

Từ việc sinh kế đến đời sống hạnh phúc, Zola và các nhà kinh tế học cổ điển

TỪ VIỆC SINH KẾ ĐẾN ĐỜI SỐNG HẠNH PHÚC, ZOLA VÀ CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC CỔ ĐIỂN

Émile Zola (1840-1902)

Bằng cách đề cập đến các chủ đề về lao động, tư bản, sinh kế, ở một mức độ nào đó, tiểu thuyết của Zola đã minh họa các khái niệm của kinh tế học cổ điển. Nhưng bằng cách đưa hành vi cá nhân lên thành các phân cảnh tiểu thuyết, chúng cũng đã làm xuất hiện những điểm mù không được các nhà kinh tế đề cập đến.
Các lý thuyết kinh tế của thế kỷ XIX có thể giúp hiểu được diễn ngôn về kinh tế của Emile Zola trong tác phẩm hư cấu của ông hay không? Ngược lại, việc đọc Zola có thể thay đổi việc đọc các văn bản kinh tế của chúng ta hay không? Đến mức độ nào thì việc đọc sẽ minh họa các khái niệm của kinh tế học cổ điển, và ở mức độ nào nó cho thấy những điểm mù không được tra vấn và thậm chí còn không được các nhà kinh tế đề cập đến? Để cố gắng trả lời những câu hỏi này, chúng tôi sẽ đề cập đến hai hệ tác phẩm, Les Rougon-Macquart [Nhà Rougon – Macquart] và Les quatre évangiles [Bốn chân lý] (đặc biệt là trong cuốn tiểu thuyết thứ hai mang tên Travail [Lao động]). Với Les Rougon-Macquart, Zola đã minh họa xã hội thế kỷ 19 bằng cách miêu tả hai gia đình tương phản: Rougons, phía tư sản, và Macquart, bên lao động. Ông làm rõ sự điên rồ của Đế chế thứ hai và mô tả một xã hội đang trên đường tan rã. Trong Les quatre évangiles, ông đã sử dụng thể loại văn mới, dạng văn không tưởng, đặc biệt lấy nhiều cảm hứng từ Charles Fourier[*].
Print Friendly and PDF

9.3.19

Robinson Crusoe, một cuốn tiểu thuyết được sử dụng và bị lạm dụng như thế nào?


ROBINSON CRUSOE, MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT ĐƯỢC SỬ DỤNG VÀ BỊ LẠM DỤNG NHƯ THẾ NÀO?
Không nhân vật tiểu thuyết nào ảnh hưởng đến kinh tế chính trị bằng Robinson. Sau Rousseau, một nhà văn rất ngưỡng mộ nhân vật này – còn Marx thì ngược lại, chế giễu – những nhà kinh tế theo trường phái cận biên đã biến Robinson trở thành đại diện mang tính biểu tượng cho homo oeconomicus [con người kinh tế]. Nhưng góc nhìn này lại phản bội, một phần, chính tác phẩm của nhà văn Defoe.
Daniel Defoe (1660-1731)

Robinson Crusoe, tiểu thuyết của Daniel Defoe được xuất bản vào năm 1719 đã không chỉ là một huyền thoại văn học: nó đã tạo ra một ảnh hưởng quyết định đến các nhà kinh tế. Họ đã lấy luôn hình tượng nhân vật của Robinson làm đại diện biểu tượng của homo oeconomicus trong nền kinh tế thị trường. Theo một cách thức có vẻ nghịch lý, câu chuyện cuộc đời của một người đàn ông bị đắm tàu ​​trên một hòn đảo hoang vắng đã được xem là hiện thân của những tác nhân được đặt trong một xã hội đậm nét phân công lao động. Robinson chắc chắn là một trong số ít những nhân vật tiểu thuyết lại có tác động sâu đậm vào kinh tế chính trị học đến thế. Bằng chứng là trong từ điển kinh tế New Palgrave, từ điển tham khảo chuyên ngành, đã xuất hiện mục “Robinson Crusoe”, trong đó mối quan hệ giữa tiểu thuyết và việc các nhà kinh tế vận dụng nó đã được nghiên cứu và thảo luận. Đây chắc chắn là cuốn tiểu thuyết duy nhất có được một vị thế như vậy trong kinh tế học.
Print Friendly and PDF

25.2.19

Tại sao các nhà kinh tế phải vượt ra khỏi những con số


TẠI SAO CÁC NHÀ KINH TẾ PHẢI VƯỢT RA KHỎI NHỮNG CON SỐ
Gary Saul Morson và Morton Schapiro
MIC NGHE CUỘC PHỎNG VẤN:
Morton Schapiro và Gary Saul Morson of Northwestern University thảo luận lí do tại sao các nhà kinh tế nên chấp nhận các ý tưởng từ các ngành khác.

Khi các nhà kinh tế cố gắng hiểu kinh tế học tăng trưởng, họ thường lần theo những con số. Tuy nhiên, các con số không phải lúc nào cũng có ý nghĩa, chúng cũng thiếu góc nhìn và bối cảnh cần thiết để giải quyết một số vấn đề rắc rối nhất của thế giới. Đó là quan điểm của Morton Schapiro, một nhà kinh tế và cũng là chủ tịch của Đại học Northwestern, và Gary Saul Morson, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Slav cùng trường. Trong cuộc phỏng vấn này, họ ủng hộ một quan điểm rộng lớn hơn như trong cuốn sách của họ, Cents and Sensibility: What Economics Can Learn From The Humanities (Tiền xu và Cảm tính: Kinh tế học Có thể Học được gì từ các ngành Nhân văn). Trong cuộc phỏng vấn trên chương trình phát thanh SiriusXM channel 111 của trang Knowledge@Wharton này, các tác giả cho rằng các nhà kinh tế cần xem xét văn hóa, nghệ thuật, lịch sử và nhiều ngành khác khi định hình chính sách kinh tế.
Sau đây là bản ghi đã được biên tập của cuộc trò chuyện.
Print Friendly and PDF

27.1.19

Xã hội học văn chương

XÃ HỘI HỌC VĂN CHƯƠNG
Trần Hữu Quang
I. Vài nét tổng quát
Gisèle Sapiro (1965-)

Đối tượng của môn xã hội học văn chương là nghiên cứu về sự kiện văn chương xét như một sự kiện xã hội. Nói như vậy có nghĩa trước hết là coi văn chương như một hiện tượng xã hội trong đó có nhiều định chế và cá nhân tham gia vào việc sản xuất, phân phối, tiêu thụ và phê bình các tác phẩm. Đồng thời cũng có nghĩa là quan tâm tới những dấu ấn của thời đại và đặc trưng của xã hội nằm trong các văn bản sáng tác văn chương (Gisèle Sapiro, 2014, tr. 5).
Ở đây, người ta có thể nêu ra một loạt câu hỏi khác nhau. Chẳng hạn, chúng ta cần nghiên cứu về tác phẩm nào, có phải là tác phẩm do chính tác giả công bố? Nếu vậy thì nói thế nào về những tác phẩm của Kafka mà Max Brod xuất bản sau khi ông qua đời? Hay là đối với những phiên bản khác nhau do cùng một tác giả công bố? Hoặc những dị bản mà người ta khám phá qua các nguồn bản thảo khác nhau? Chúng ta cần chú trọng tới quá trình sinh thành của sản phẩm và đặt nó trong “dự phóng sáng tạo” (projet créateur) của tác giả như Sartre nói, hay là phải chú ý tới những cách lý giải về sản phẩm ấy, vốn có thể hết sức khác nhau tùy theo từng nhóm độc giả và từng thời kỳ lịch sử? (G. Sapiro, 2014, tr. 5)
Print Friendly and PDF

22.1.19

Nhà kinh tế và nhà văn, anh em cùng chung chiến tuyến nhưng không nhìn cùng một hướng


NHÀ KINH TẾ VÀ NHÀ VĂN, ANH EM CÙNG CHUNG CHIẾN TUYẾN NHƯNG KHÔNG NHÌN CÙNG MỘT HƯỚNG?

Nhà kinh tế và nhà văn, người nào mới là người phản ánh tốt nhất thực trạng kinh tế? Nếu dựa vào số chuyên gia được chọn phát biểu trên báo chí hay truyền hình để đưa ra đánh giá, thì có vẻ như diễn ngôn kinh tế về những cách biểu trưng thế giới tỏ ra áp đảo hơn. Song, cần phải nhớ rằng, trước khi khoa học kinh tế ra đời, thì từ rất xa xưa, văn học đã chứa đựng những tham chiếu liên quan tới đồng tiền, lao động, thương mại và sản xuất. Trong kinh thánh, sách vở của nhiều tác giả cổ đại, ngụ ngôn thời Trung Cổ và trước tác của Montaigne, của các nhà luân lí học thời cổ điển … không hề thiếu suy ngẫm về kinh tế và của cải. Tiền chính là động lực trong tác phẩm L’avare [Lão hà tiện] và nhiều cảnh kinh điển nhất của vở kịch Fourberies de Scapin [Những thói xảo quyệt của Scapin]. Trong sáng tác của La Fontaine, người nông dân truyền lại cho con cái một sự thật rằng: “lao động là vinh quang” và con ve sầu hoang phí trái ngược hẳn với chú kiến chăm chỉ và tằn tiện. Ta có thể dẫn ra vô vàn ví dụ, nhưng nền văn học Pháp cho tới thế kỉ XVII, dù đã phản ánh thực trạng kinh tế một cách dày đặc lại thường không hề thật sự tìm hiểu sự hình thành và lô-gích của những dữ liệu kinh tế đó.
Print Friendly and PDF

19.1.19

Những cuốn sách quan trọng nhất dành cho các nhà kinh tế không phải là những tác phẩm học thuật


Ý TƯỞNG MỚI LẠ
NHỮNG CUỐN SÁCH QUAN TRỌNG NHẤT DÀNH CHO CÁC NHÀ KINH TẾ KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG TÁC PHẨM HỌC THUẬT
Văn học và lí thuyết kinh tế thường nói về cùng một thứ, nhưng bằng những ngôn ngữ khác nhau.
Là một nhà nghiên cứu, tôi nghiên cứu việc lí thuyết kinh tế có thể được sử dụng để thúc đẩy quá trình phát triển như thế nào. Giống như hầu hết các nhà kinh tế, tôi bị lôi cuốn bởi các vấn đề phức tạp mà chuyên ngành của tôi nỗ lực giải quyết. Là con gái của một giáo sư văn học, tôi lớn lên trong những câu chuyện kể. [Tôi phát hiện] có một mối liên kết quan trọng giữa hai lĩnh vực này [kinh tế học và văn học].
Print Friendly and PDF

22.7.18

"Cuộc đình công", cuốn tiểu thuyết của chủ nghĩa tự do cực đoan

“CUỘC ĐÌNH CÔNG”, CUỐN TIỂU THUYẾT CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO CỰC ĐOAN

Năm 1957, Ayn Rand xuất bản cuốn La grève [Cuộc đình công].Cuốn sách này cung cấp cho những người tự do cực đoan lời biện minh về mặt đạo đức cho sự tích lũy tiền bạc vô độ, và như thế cũng bộc lộ bản chất ích kỷ sâu thẳm của họ.
Nếu bạn quan tâm đến các ý tưởng kinh tế tự do, thì bạn không tránh khỏi đã gặp cuốn Atlas Shrugged [Atlas nhún vai] (La grève – Cuộc đình công – trong tiếng Pháp), cuốn tiểu thuyết hấp dẫn của nữ văn hào người Mỹ Ayn Rand. Đó là một công trình đồ sộ với hơn 1.000 trang mà bản dịch tiếng Pháp vừa mới xuất bản gần đây dưới khổ sách bỏ túi. Cơ hội để nhìn kỹ lại cuốn sách huyền thoại này, bán được hơn 11 triệu bản, và lý thú vì nó bộc lộ các cảm xúc sâu thẳm của những người tự do cực đoan.

Print Friendly and PDF