31.7.23

Giải vô địch bóng đá nữ thế giới: công bằng giới trong thể thao vẫn còn là một vấn đề mặc dù đã có những tiến bộ quan trọng

GIẢI VÔ ĐỊCH BÓNG ĐÁ NỮ THẾ GIỚI: CÔNG BẰNG GIỚI TRONG THỂ THAO VẪN CÒN LÀ MỘT VẤN ĐỀ MẶC DÙ ĐÃ CÓ NHỮNG TIẾN BỘ QUAN TRỌNG

Tác giả: Treisha Hylton

Assistant Professor, Khoa Công tác Xã hội, Đại học Wilfrid Laurier (Canada)

Nữ vận động viên người Pháp Estelle Cascarino, bên phải, đập vào quả bóng chống lại nữ vận động viên người Úc Mary Fowler trong trận đấu bóng đá giao hữu ở Melbourne ngày 14 tháng 7 năm 2023, trước khi diễn ra giải vô địch bóng đá nữ thế giới. (AP Photo/Hamish Blair)

Giải vô địch bóng đá nữ thế giới của FIFA (Liên đoàn bóng đá thế giới -Fédération internationale de Football Association) vừa mới bắt đầu tại Úc và Tân Tây Lan. Với tính chất là một sự kiện thể thao lớn nhất thế giới của giới nữ, nó tạo cơ hội cho các nữ cầu thủ đại diện nước họ và thi đấu ở cấp cao nhất trên đấu trường thế giới.

Cùng với một cuộc tranh đua mạnh hơn là những sự đầu tư lớn hơn, và những dự đoán sự gia tăng số người xem qua các kênh truyền hình và số người tham dự tại các sân vận động. Giải vô địch bóng đá nữ thế giới năm 2023 hứa hẹn sẽ tốt đẹp hơn bao giờ hết.

Nước Úc đã bán hết vé cho trận đấu đầu tiên (83.500 chỗ)hơn một triệu vé đã được bán ra trong tuần trước trận đấu. Với những phương án nghe nhìn nhiều hơn bao giờ hết, có nhiều cách để xem các trận đấu.

Có ít nhất bảy đội có cơ may đăng quan chức vô địch. Những đội mới tham gia sẽ cố gắng gây khó khăn cho đội Mỹ hùng mạnh, đội Mỹ sẽ bảo vệ danh hiệu của mình và sẽ cố gắng đoạt chức vô địch FIFA liên tục lần thứ ba.

Trong một trận đấu giao hữu trước giải vô địch, đội Zambia đã thắng đội Đức vốn là một trong những đội được yêu thích nhất. Chiến thắng bất ngờ này cho thấy rằng năm nay những đội ngoài tầm ngắm có thể gây ra những điều bất ngờ.

Print Friendly and PDF

29.7.23

Sự trỗi dậy về mặt chính trị của nền Đại Công Nghệ (Big Tech)

SỰ TRỖI DẬY VỀ MẶT CHÍNH TRỊ CỦA NỀN ĐẠI CÔNG NGHỆ (BIG TECH)

Phỏng Vấn Bà Allison Stanger do Jules Naudet thc hiện

bản dịch tiếng Pháp của Ariel Suhamy

Với sự trợ giúp của CASBS

Sự tiến hóa của công nghệ đã vượt qua pháp luật hiện hành, tạo ra khoảng trống trong lĩnh vực cai quản. Nhu cầu cấp thiết về một sự đổi mới các quy định có thể sẽ dẫn đến các hệ thống tự chủ và khép kín, đồng thời làm tăng thêm sự phân mảnh của trật tự toàn cầu.

Ấn phẩm này là một phần trong quan hệ đối tác của chúng tôi với Trung tâm Nghiên cứu Nâng cao về Khoa học Hành vi/Center for Advanced Study in the Behavioral Sciences. Có thể xem danh sách đầy đủ ở đây.

 

Allison Stanger

Allison Stanger là Giáo sư thực thụ của ghế giáo sư Russell Leng '60 về Chính Trị Quốc Tế và Kinh Tế Học tại Đại Học Middlebury. Bà cũng là giáo sư thỉnh giảng và là thành viên của Hội đồng Khoa học của Viện Santa Fe. Bà là tác giả của cuốn sách Những người thổi còi tố cáo: Sự trung thực ở Mỹ từ Washington đến Trump/ Whistleblowers: Honesty in America from Washington to Trump (Nhà xuất bản Đại học Yale, 2019) và Một quốc gia theo hợp đồng: Gia công quyền lực Mỹ và tương lai của chính sách đối ngoại/ One Nation Under Contract: The Outsourcing of American Power and the Future of Foreign Policy (Nhà xuất bản Đại học Yale, 2009). Bà là đồng biên tập (với W. Brian Arthur và Eric Beinhocker) cuốn Kinh tế phức hợp/Complexity Economics / (SFI Press, 2020). Bà đã nhận bằng tiến sĩ khoa học chính trị tại Đại học Harvard, nơi bà đã trải qua năm học 2019-2020 với tư cách là chuyên viên cấp cao về công nghệ và giá trị con người tại Trung tâm Đạo đức Edmond J. Safra. Bà là đồng tác giả của Lộ trình phục hồi đại dịch của Trung tâm và là Cố vấn cấp cao của Mạng lưới Nhân văn Hannah Arendt/ Hannah Arendt Humanities Network. Allison Stanger là Giáo sư Đạo đức và Lịch sử Hoa Kỳ của ghế giáo sư Cary và Ann Maguire tại Thư viện Quốc hội và là Thành viên CASBS 2020-21.

Với tư cách là Nhà nghiên cứu liên kết của CASBS, Allison Stanger đang thực hiện một cuốn sách có tựa đề tạm thời là Ai đã bầu chọn công nghệ lớn/ Who Elected Big Tech? Bà cũng đồng lãnh đạo với James Guszcza, Sáng kiến ​​Lý thuyết về Thực tiễn của Trí tuệ Nhân Tạo /Theory of AI Practice. Đặc biệt, bà nghiên cứu tác động của đổi mới công nghệ đối với sự bền vững của nền dân chủ và những thành kiến ​​mà các hệ hình lý thuyết của chúng ta khi suy nghĩ về các thị trường toàn cầu và sự cai quản quốc gia có thể ảnh hưởng đến các quan sát và giá trị của chúng ta.

 

La Vie des Idées: Dòng chảy của những đổi mới công nghệ liên tục sau cuộc cách mạng internet đã dần thay đổi cách chúng ta lướt mạng trong thế giới ngày nay. Từ thông tin tốc độ cao đến dư thừa nội dung, từ những cookie đến giám sát hành vi vĩnh viễn, từ ngân hàng trực tuyến đến bitcoin, từ làm việc từ xa đến viễn cảnh về một thế giới thực tế ảo có mặt khắp nơi, có vẻ như các khung và các cấu trúc của thế giới mà chúng ta đang sống ngày nay đang trải qua những biến đổi triệt để. Bà sẽ mô tả thời điểm chính xác này trong lịch sử mà chúng ta đang sống như thế nào?

Allison Stanger: Chúng ta đang sống trong thời kỳ chuyển đổi đa chiều. Trong nền kinh tế toàn cầu của chúng ta, chúng ta đang chứng kiến ​​sự thay đổi trong cán cân quyền lực giữa các chính phủ quốc gia và các tập đoàn đa quốc gia. Trong thế giới tự do, quyền lực đã chuyển từ tay chính phủ sang tay của Big Tech.

Print Friendly and PDF

27.7.23

Để tưởng nhớ Francisco Vergara, nhà phê phán không mệt mỏi tư tưởng tự do

ĐỂ TƯỞNG NHỚ FRANCISCO VERGARA, NHÀ PHÊ PHÁN KHÔNG MỆT MỎI TƯ TƯỞNG TỰ DO

Bernard Guerrien vinh danh nhà kinh tế và triết gia Francisco Vergara, qua đời tháng ba vừa qua.

Bernard Guerrien

Bernard Guerrien (1943-)
Christian Chavagneux

Nhà kinh tế và triết gia Francisco Vergara qua đời tháng ba vừa qua. Sinh tại Santiago (Chile), ông đã sống qua nhiều nước, đặc biệt ở Hoa Kì, điều này khiến ông nắm vững tiếng Anh và dẫn ông đến việc đọc thẳng trong nguyên tác các tác giả cổ điển mà ông đã nghiên cứu rất nhiều. Ông học kinh tế học ở Paris và đã làm việc tại đây với tư cách nhà nghiên cứu và nhà báo cho nhiều phương tiện truyền thông.

Alternatives Economiques đã công bố nhiều bài viết của ông vốn bao giờ cũng rất rõ và nghiêm túc. Nhưng chúng tôi xem ông nhiều hơn như một nhà kinh tế, một chuyên gia về hệ thống tài khoản quốc gia và một sử gia về tư tưởng các nhà cổ điển mà ông rất am hiểu. Ông thuộc kiểu học giả uyên bác, niềm nở, dễ gần khiến người đối thoại dễ đồng cảm, một tập hợp những đức tính hiếm có. Dưới đây Bernard Guerrien vinh danh ông.

Christian Chavagneux

-----------------------------------

Francisco Vergara (1945-2023) đã từ giã chúng ta. Một cách thanh thàn, trong giấc ngủ. Ông để lại cho chúng ta một trang mạng có tựa Economie et Philosophie và một cuốn sách, Les fondements philosophiques du libéralisme (truy cập miễn phí trên internet)/Đạo đức trong kinh tế mà Denis Clerc, giám đốc và nhà sáng lập tạp chí Alternatives Economiques dành nguyên một bài xã luận để ca ngợi khi tác phẩm được xuất bản. Xã luận này được đăng lại năm 1999 khi tác phẩm được tái bản:

“Có những cuốn sách, ngay khi ra mắt, trở thành những cuốn kinh điển. Đó là trường hợp của tác phẩm này, xuất bản năm 1992, mà ba chương đầu đã được viết lại nhân lần tái bản trong khổ sách bỏ túi [...] Bằng một văn phong dễ đọc, đây là một cuộc du hành thiết yếu vào lịch sử những tư tưởng góp phần định hình thế giới chúng ta.”

Thật vậy, trong cuốn sách này Francisco Vergara cho thấy điểm chung của các nhà triết học “lớn” từng sống trong các thế kỉ từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX – mà hầu hết những người bảo vệ chủ nghĩa tự do đều quy chiếu về – là giới hạn các phân tích và chủ trương của họ vào một, và chỉ một, tiêu chí đạo đức “tối thượng” và tiêu chí này lấn át mọi tiêu chí khác. Sự nhất quán này giải thích vì sao ngày nay người ta tiếp tục nghiên cứu các tác giả này trong lúc biết bao tác giả khác ít nhiều đã nhanh chóng bị lịch sử đào thải.

Print Friendly and PDF

25.7.23

Trí tuệ nhân tạo lừa mị (Potemkine) và tương lai của việc làm, một cuộc đàm thoại với Antonio Casilli

TRí TUỆ NHÂN TẠO LỪA MỊ (POTEMKINE[*]) VÀ TƯƠNG LAI CỦA VIỆC LÀM, MỘT CUỘC ĐÀM THOẠI VỚI ANTONIO CASILLI

Trí tuệ nhân tạo phải chăng là một mẹo lừa bịp?

Theo Antonio Casilli, có một sự liên tục giữa các không gian làm việc chất lượng thấp trong đó các dữ liệu được sản xuất và những không gian trong đó cơ sở tài nguyên quặng mỏ của trí tuệ nhân tạo được khai thác. Đã đến lúc thoát ra khỏi huyền thoại và suy nghĩ về sự khớp nối chặt chẽ giữa các cơ sở hạ tầng về con người và cơ sở hạ tầng vật chất của trí tuệ nhân tạo.

Tác giả: Victor Storchan[1]

Thiết diện của “người máy chơi cờ” (Turc mécanique) theo Racknitz với vị trí được cho là của người thao tác (1789), Thư viện Đại học Humboldt.

Các công trình của Antonio Casilli mô tả những công việc ghi chú cực nhỏ được thực hiện bởi “những người lao động tầm thường của trí tuệ nhân tạo”, cần thiết cho việc phát triển các ứng dụng như Chat GPT và ta thường không thấy chúng. Cần thiết cho việc thực hiện các kỳ tích nổi bật của trí tuệ nhân tạo, chúng tương đối hóa tầm quan trọng của “trí tuệ” và nhất là tính độc lập của nó đối với một hệ thống được xây dựng dựa trên nền tảng của công việc ít được đánh giá cao của con người vốn duy trì và thúc đầy thêm những bất bình đẳng trên quy mô lớn.

Cuộc đàm thoại này là phần 3 của loạt bài của chúng tôi “Những sức mạnh của trí tuệ nhân tạo”.

Có phải ông nói rằng chúng ta đang đi vào một kỷ nguyên mới đối với trí tuệ nhân tạo với những LLM (Large language model – mô hình ngôn ngữ lớn -) và generative AI (trí tuệ nhân tạo tạo sinh)? Bill Gates khẳng định rằng ChatGPT sẽ thay đổi thế giới trong khi Yann LeCun cho rằng chẳng có gì là cách mạng cả. Ông có nghĩ rằng chúng ta đang ở một thời điểm chuyển hướng? Ông thấy lịch sử gần đây của trí tuệ nhân tạo như thế nào?

Print Friendly and PDF

23.7.23

Một lịch sử các học thuyết tân tự do

MỘT LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT TÂN TỰ DO

Christian Chavagneux

Serge Audier

Serge Audier duy trì mối quan hệ mật thiết với lịch sử tri thức của chủ nghĩa tân tự do. Sau nhiều tác phẩm viết về chủ đề này, đây lại là một tác phẩm mới dày 500 trang, được thông báo như là tập đầu tiên của một ấn phẩm sẽ có hai tập.

Luận đề vẫn không khác: những ai đã từng thấy một sự liên tục đơn giản giữa hội thảo chuyên đề nổi tiếng Lippmann vào năm 1938, Hội Mont-Pèlerin thời hậu chiến, chủ nghĩa tự do trong trật tự của Đức, sự phát triển của chủ nghĩa tiền tệ với trường phái Chicago cùng các chính sách kinh tế tân tự do được khởi xướng với việc bà Margaret Thatcher và Ronald Reagan lên nắm quyền, thì tất cả đều đã sai hoàn toàn.

Khi tìm tòi và đào bới lại các văn khố, kể cả các văn khố Pháp, và từ đó mới thấy phần lớn tài liệu chưa được các nhà nghiên cứu Anglo-Saxon khai thác, Serge Audier đã trả lại cho chủ nghĩa tân tự do tất cả sự phức tạp về trí tuệ, vừa với tư cách là một lý thuyết về thế giới và vừa với tư cách là một chiến lược chính trị-ý thức hệ.

Print Friendly and PDF

21.7.23

Lời tiên tri về châu Âu của Kundera: Đọc lại “Một phương Tây bị bắt cóc”

LỜI TIÊN TRI VỀ CHÂU ÂU CỦA KUNDERA: ĐỌC LẠI “MỘT PHƯƠNG TÂY BỊ BẮT CÓC”

Milan Kundera[*] vừa qua đời.

Tác giả của một trong những tác phẩm ấn tượng nhất trong lịch sử văn học châu Âu cũng đã viết bài tiểu luận có ảnh hưởng nhất trong lịch sử trí tuệ của lục địa này. Với “Một Phương Tây bị bắt cóc/Un Occident kidnappé”, ông đã cấu trúc trí tưởng tượng về Trung và Đông Âu của nhiều nhà tư tưởng châu Âu. Jarosław Kuisz, tổng biên tập của “Kultura Liberalna”, giúp chúng ta khám phá lại sức mạnh của huyền thoại Kundera nhìn từ phía Đông.

Jarosław Kuisz[**]

Đây là một thực tế đủ hiếm để được chú ý[1]: vào những năm 1980, hình tượng về Trung và Đông Âu nơi nhiều trí thức phương Tây phần lớn bị ảnh hưởng bởi… một tiểu luận[2]. Năm 1983, Milan Kundera, một tiểu thuyết gia người Tiệp Khắc sống ở Paris, khi đang ở đỉnh cao của sự nổi tiếng, đã xuất bản một bài báo sắc sảo có tựa đề “Một phương Tây bị bắt cóc hoặc bi kịch của Trung Âu/Un Occident kidnappé ou la tragédie de l’Europe centrale”. Ban đầu dành cho độc giả Pháp, sau đó nó được dịch cho tạp chí New York Review of Books[3] uy tín. Bài viết đã trở thành một thành công về mặt học thuật. Trong tiểu luận của mình, Kundera khẳng định rằng, nếu Trung và Đông Âu nằm dưới sự kiểm soát chính trị của phương Đông kể từ năm 1945, các dân tộc trong khu vực thuộc về phương Tây về mặt văn hóa. Ông đã trình bày một số điều không đồng nhất kỳ lạ trong cách khu vực phía sau Bức tường sắt được nhận thức từ bên ngoài. Ví dụ, vì sao Vienna có thể được công nhận là một thủ đô tây phương, trong khi Praha, nằm xa hơn về phía tây trên bản đồ, lại bị từ chối tư cách này?

Kundera khẳng định rằng người Tiệp Khắc, người Ba Lan và người Hungary sẵn sàng trả giá đắt để thuộc về Tây Phương về mặt văn hóa. Tiểu thuyết gia đã liệt kê cách thức mà Moscow khuất phục các quốc gia vô kỷ luật đang cố thoát khỏi ách thống trị của mình. Tiểu luận của Kundera, được thảo luận và trích dẫn hàng ngàn lần, đã trở thành huyền thoại. Nhưng nếu ngày nay có vẻ như văn bản này thuộc về quá khứ của thời Chiến tranh Lạnh, thì không có gì sai bằng. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc dân túy ở Trung và Đông Âu đã làm sáng tỏ suy nghĩ của nhà văn. Với sự xuất hiện của Viktor Orbán và Jarosław Kaczyński, người ta tự hỏi liệu Trung và Đông Âu có thực sự là một phần bị bắt cóc của phương Tây… hay một thứ gì khác.

Print Friendly and PDF

19.7.23

Chủ nghĩa thực dân: châu Âu trên ghế bị cáo

 CHỦ NGHĨA THỰC DÂN: CHÂU ÂU TRÊN GHẾ BỊ CÁO

Tác giả: Rebekka Habermas, ZEIT 30.10.2022

Người dịch: Tôn Thất Thông

Quá khứ thuộc địa gây ra những tranh luận sôi nổi. Ai đã bắt đầu và thực hiện chế độ nô lệ? Ai đã bãi bỏ nó? Có thể có công lý cho lịch sử? Một câu trả lời đến nhà sử học cổ Egon Flaig.

Có một số vấn đề gây ra sự phẫn nộ của công chúng hơn những vấn đề khác và một số ít vấn đề khác thì ít tác động ra ngoài, nhưng tồn tại dai dẳng. Một trong những chủ đề như vậy dường như là lịch sử thuộc địa từ một vài năm trở lại đây. Nhiều người đang theo dõi sự phát triển này với sự phấn khích và tò mò, vì xét cho cùng, đây là cơ hội để nhìn lại lịch sử của chính mình và nhận ra rằng lịch sử quốc gia của họ từ lâu đã mang tính toàn cầu hơn so với lịch sử các quốc gia châu Âu mà họ đã học được qua cách viết lịch sử từ thế kỷ 19.

Đặc biệt là những người trẻ tuổi, sau một năm vừa làm việc vừa du lịch ở ngoại quốc, và mới đây là sau khi xem nhiều loạt phim Netflix, đã nhìn thấy thế giới nhiều hơn – chí ít là từ các bộ phim – hơn cha mẹ của họ, huống gì là so với thế hệ ông bà. Họ quan tâm đến lịch sử các quốc gia bên ngoài châu Âu. Câu chuyện nhập cư, với kinh nghiệm trực tiếp hay nghe kể lại, đã khơi dậy sự tò mò về các khu vực ở bên ngoài châu Âu.

Phần quan trọng nhất của lịch sử toàn cầu này đối với châu Âu có lẽ liên quan đến lịch sử thuộc địa, vốn đã nhiều lần trở thành chủ đề của các cuộc tranh luận sôi nổi trong những năm gần đây: ở London hay Oxford, có thể là ở Paris, Berlin hay Lisbon, đó là chưa kể đến các cuộc tranh luận bên ngoài châu Âu hoặc nhiều hoạt động khác như phong trào Rhodes-phải-sụp-đổ, bắt đầu bằng cuộc biểu tình phản đối một bức tượng Cecil Rhodes[1] ở Cape Town.

Print Friendly and PDF

17.7.23

Khả phản nghiệm luận như tiêu chuẩn khoa học (K. R. Popper, 1963)

TÍNH KHẢ PHẢN NGHIỆM NHƯ TIÊU CHUẨN KHOA HỌC (1963)

Tác giả: Karl Raimund Popper

Bản tiếng Pháp: Michèle-Irène & Marc de Launay

Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Karl Popper (1902-1994)

Trong việc tìm kiếm một tiêu chuẩn để phân biệt khoa học với khoa học giả, người ta thường viện dẫn phương pháp thực nghiệm như một bảo lãnh của chân lý khoa học. Như vậy, chỉ cần một lý thuyết được kinh nghiệm nhận thực là đủ để nó có thể tự xem như đã được thiết lập một cách khoa học chăng?

Theo Karl Popper, không phải vì chiêm tinh học chẳng hạn có thể đưa ra hàng tá bằng chứng dựa trên sự quan sát nhằm hỗ trợ các lý thuyết của nó mà chiêm tinh là một khoa học. Khi nhà tử vi tiên đoán cho bạn, trong thời gian tới, một cuộc hẹn quan trọng, một số vấn đề sức khỏe, hay một chuyện xấu trong quan hệ bạn bè, các biến cố đó có mọi khả năng xảy ra, nghĩa là được xác định bằng kinh nghiệm. Nhưng sự kiện là các tiên đoán của nó trở thành hiện thực có cho phép ta khẳng định tính khoa học của số tử vi ấy không? Không! Theo Popper, chính vì khi công bố những sự kiện có mọi khả năng xảy ra, một số tử vi như vậy đã tránh trước được mọi phản bác! Như vậy, không phải là sự phong phú của những bằng chứng kinh nghiệm bảo đảm tính khoa học của một lý thuyết, mà là khả năng bị phản bác của nó, tức là khả năng một lý thuyết bị kinh nghiệm chứng minh là sai. Trong thuật ngữ của Popper, đấy là tính khả phản nghiệm hoặc tính khả phản chứng của một lý thuyết.

Do đó, thứ lý thuyết có sức giải thích vô hạn, thứ lý thuyết tự cho giải thích được mọi hiện tượng xảy ra trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, không thể được cho là khoa học, trong chừng mức là chúng không bao giờ có nguy cơ bị phản bác, đơn giản vì không có sự kiện nào có khả năng vô hiệu lực hoá chúng.

Print Friendly and PDF

15.7.23

Chúng ta đã góp phần tạo ra các mô hình AI mà không hề hay biết như thế nào

CHÚNG TA ĐÃ GÓP PHẦN TẠO RA CÁC MÔ HÌNH AI MÀ KHÔNG HỀ HAY BIẾT NHƯ THẾ NÀO

Benoit Loeillet

Phó Giáo sư, Trường Kinh doanh EM Lyon

Bạn đã bao giờ tự hỏi mục đích của các hệ thống phát hiện “rô bốt” trên các trang web, khi được yêu cầu xác định, trên một bức hình, một lối đi dành cho người đi bộ, một chốt đèn giao thông hoặc một con vật cụ thể nào đó chưa? Bên cạnh đó, hệ thống sẽ xác minh các câu trả lời được đưa ra như thế nào? Và trên hết, các dữ liệu này được sử dụng như thế nào?

Kỹ thuật này đã được tạo ra vào giữa những năm 1990, hệ thống đã được cụ thể hóa và thuật ngữ đã được các nhà nghiên cứu tại Đại học Canegie-Mellon ở Hoa Kỳ phát minh và đăng ký bản quyền vào năm 2000 trong phiên bản đầu tiên, với mục đích là xác định người dùng là con người.

Sau đó, các hệ thống theo kiểu CAPTCHA (Completely Automated Public Turing test to tell Computers and Humans Apart Phép thử Turing công cộng hoàn toàn tự động để phân biệt máy tính với người) đã được Google phổ biến hóa vào năm 2009. Thiết bị CAPTCHA hoặc reCAPTCHA (tên gọi hệ thống CAPTCHA của Google) là một phần của họ các phép thử Turing. Đó là một biện pháp bảo mật bằng việc phát hiện người dùng đúng là con người. Mục tiêu chính là hạn chế quyền truy cập và tương tác của các “rô-bốt” kỹ thuật số, các chương trình máy tính tự động (còn được gọi là “bot”), bằng mọi phiếu điền trực tuyến bất kỳ thông tin nào. Ví dụ, biện pháp bảo mật ngăn chặn các nỗ lực lặp đi lặp lại để kết nối với một trang web, giải mã mật khẩu của bạn khi bạn xác thực bản thân trực tuyến, tự động điền vào một biểu mẫu, v.v..

Print Friendly and PDF

13.7.23

Những khám phá khoa học của Louis Pasteur vào thế kỷ 19 đã tạo ra một cuộc cách mạng trong y học

NHỮNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC CỦA LOUIS PASTEUR VÀO THẾ KỶ 19 ĐÃ TẠO RA MỘT CUỘC CÁCH MẠNG TRONG Y HỌC VÀ NGÀY NAY VẪN TIẾP TỤC CỨU SỐNG HÀNG TRIỆU NGƯỜI

Louis Pasteur là người tiên phong trong lĩnh vực hóa học, vi sinh, miễn dịch học và vắc-xin học. Ảnh/DigitalVision Vectors qua Getty Images

Một số khám phá khoa học vĩ đại nhất đã không mang về giải Nobel.

Louis Pasteur, sống từ năm 1822 đến năm 1895, được cho là nhà vi trùng học nổi tiếng nhất thế giới. Ông được công nhận rộng rãi với lý thuyết vi trùng gây bệnh và việc phát minh ra quy trình thanh trùng – được đặt theo tên ông – để bảo quản thực phẩm. Đáng chú ý, ông cũng đã phát triển vắc-xin bệnh dạibệnh than và có các đóng góp to lớn trong việc chống lại bệnh dịch tả.

Nhưng vì ông mất năm 1895, sáu năm trước khi giải Nobel đầu tiên được trao, nên trong lý lịch của ông không có giải thưởng này. Nếu sống trong thời đại của các giải Nobel, chắc chắn Pasteur hoàn toàn xứng đáng được trao thưởng cho công trình của mình. Giải Nobel, trao thưởng trong các lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả sinh lý học và y học, không được trao sau khi người đó đã qua đời.

Trong thời điểm hiện tại với các mối đe dọa đang diễn ra từ các bệnh truyền nhiễm mới nổi hoặc đang nổi lên, từ COVID-19 và bệnh bại liệt đến bệnh thủy đậu và bệnh dại, thật đáng kinh ngạc khi nhìn lại di sản của Pasteur. Những nỗ lực của ông đã thay đổi cơ bản cách mọi người nhìn nhận các bệnh truyền nhiễm và cách chống lại chúng bằng vắc-xin.

Print Friendly and PDF

11.7.23

NVIDIA trở thành công ty chip có giá trị vốn hóa “ngàn tỷ”

NVIDIA TRỞ THÀNH CÔNG TY CHIP CÓ GIÁ TRỊ VỐN HÓA “NGÀN TỶ”

Đoan Hùng [Nguyễn Lê Tiến]

Tháng 7/2020, lần đầu tiên NVIDIA vượt công ty “huyền thoại” Intel về mặt vốn hóa, với 251 tỷ USD so với Intel 248 tỷ.

Ngày 30/5/2023 NVIDIA chạm mốc “ngàn tỷ” USD, ngồi chung “chiếu” trong câu lạc bộ ngàn tỷ với Apple, Microsoft, Alphabet (Google) và Amazon.

Không những thế, đầu tháng 9, 2022 chính quyền Hoa Kỳ ra lệnh cấm xuất khẩu các chip AI của NVIDIA và AMD sang Trung quốc.

Cái gì làm cho giá trị vốn hóa NVIDIA tăng gấp 4 lần chỉ trong vòng 3 năm và trở thành công ty sở hữu những công nghệ quan trọng trong cuộc “chiến tranh lạnh” ngày nay?

NVIDIA được thành lập năm 1993 bởi Jensen Huang, cho tới nay mới vừa 30 tuổi.

Chúng ta hãy trở về thập niên 1980-1990 xem sao.

Print Friendly and PDF

9.7.23

Sự lưu hành quốc tế của tri thức trong khoa học xã hội

SỰ LƯU HÀNH QUỐC TẾ CỦA TRI THỨC TRONG KHOA HỌC XÃ HỘI

Các yếu tố thích đáng để chấp nhận và từ chối các văn bản lưu hành

Wiebke Keim[*]

Tóm Tắt

Bài viết đề xuất cái khung để nghiên cứu các khía cạnh lý thuyết và khoa học luận của sự lưu hành quốc tế của tri thức khoa học xã hội dưới dạng đặc thù các văn bản khoa học xã hội. Nó xây dựng cách đặt vấn đề về một loạt các thông số nội tại ảnh hưởng đến việc chấp nhận hoặc từ chối một văn bản được lưu hành ở bên ngoài bối cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hóa của quá trình sản xuất văn bản. Tất nhiên, các cấu hình địa chính trị, kinh tế và hệ tư tưởng, các cấu trúc thể chế, các hệ thống giáo dục, các thị trường sách, các công chúng khác biệt và được phân tầng, các cơ hội và mạng lưới tài trợ, vốn là lĩnh vực cổ điển của sử học và xã hội học về khoa học và của Nghiên Cứu về Khoa Học và Công Nghệ (Science and Technology Studies STS), tác động đến sự sản xuất và lưu hành tri thức. Tuy nhiên, những phân tích này gợi ý rằng các quan điểm được đề xuất được chấp nhận hoặc bị từ chối không phải vì nội dung của chúng mà vì chúng bị công cụ hóa về mặt chính trị hoặc vì các phương tiện hỗ trợ vật chất tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp đặt hoặc thống trị của chúng. Ngược lại, mục đích của bài viết này là đề xuất các nét chính của một chương trình sẽ xem xét nghiêm túc các thông số nội tại của văn bản, tức là bản thân tri ​​thức và hiệu quả của nó cũng như các cách thức đặc thù mà việc lưu hành các văn bản trong các khoa học xã hội bị tác động.

DÀN BÀI

Dẫn nhập

Các nội dung

Đối tượng và tham chiếu thực nghiệm

Các khái niệm

Các phép ẩn dụ

Các nhân vật khái niệm

Lý thuyết

Các đặc tính

Tính chuyển ngữ được

Tính tương ước

Tính khoa học

Các giá trị

Sự tương hợp

Phong cách

Tính phức tạp

Tính toàn bộ

Sự trừu tượng hóa

Kết luận

Dẫn nhập

Tuy nhiên, ý tưởng về một điểm xuất phát, về một “tập hợp các hoàn cảnh ban đầu” mà Said đã nêu lên có tầm quan trọng rất lớn đối với bất kỳ dự án lý thuyết nào, bao gồm cả dự án nữ quyền. Nói cách khác, ở đâu và làm thế nào để phát hiện ra những lập luận cho phép phổ biến một cách gần như chui những ý tưởng mang một hộ chiếu “xấu”? Chúng ta có nên kêu gọi tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong một hệ thống giáo dục trong đó tỷ lệ học sinh nữ và nam đã là 50/50 ở tất cả các cấp học và là nơi có sự “nữ tính hóa quá mức” trong các trường học, trong vai trò giáo viên và học sinh, thường được cho là phải chịu trách nhiệm về sự sụt giảm trình độ học vấn không? Chúng ta có nên vận động để phụ nữ tiếp cận việc làm ở một quốc gia mà gần 90% phụ nữ trong độ tuổi lao động đã có việc làm toàn thời gian? Chúng ta có nên yêu cầu kiểm duyệt sự khiêu dâm ở một quốc gia mà lịch sử gần đây chủ yếu dựa trên cuộc chiến ám ảnh cho quyền tự do ngôn luận? Sau khi lướt qua, dù chỉ một lần thôi, một tạp chí thời trang xuất bản ở Praha vào những năm 1970, đầy rẫy những hình dáng vô tính khoác trên mình những tấm vải không màu, liệu chúng ta có thể vận động nghiêm túc chống lại việc lạm dụng cơ thể phụ nữ trong lĩnh vực thời trang và quảng cáo? Chúng ta có nên yêu cầu áp dụng triệt để bình đẳng giới (hoặc các bình đẳng khác) trong một xã hội bị kiệt quệ bởi những làn sóng thử nghiệm được chỉ đạo một cách tập trung, vốn tìm kiếm sự không phân biệt xã hội mạnh hơn không? Những ai trong chúng ta, vào cuối những năm 1980, đã bắt đầu đề cập đến các vấn đề giới ở các nước được gọi là “ở Trung Âu” nhưng lại bị gạt ra ngoài lề về mặt chính trị và lý thuyết, sẵn sàng chấp nhận rủi ro du nhập chúng một cách chui. Chúng ta đã sẵn sàng đối mặt với những cáo buộc của các trí thức đồng đẳng của chúng ta về việc “phá hủy đoàn kết giới” trong thời điểm lịch sử này khi dự án “quan trọng” hơn nhằm tiêu diệt chủ nghĩa toàn trị phải được thực hiện. Đồng thời, ý định của chúng ta không phải là củng cố các kênh, vốn đã rất mạnh, chống đối và ghê sợ, trong cộng đồng “hậu cách mạng”. Chúng ta cũng không muốn kích động hoặc làm tổn thương “cấu trúc của tình cảm”, để sử dụng thuật ngữ của Raymond Williams, vốn quá nhạy cảm ở đất nước này. Tìm kiếm điểm khởi đầu cho dự án này, mà chúng tôi còn do dự gọi là nữ quyền, tỏ ra đặc biệt khó khăn. Vì tất cả những lời cáo buộc và những sự thù địch được đề cập ở trên tạo ra một bức bình phong đã che đậy bất kỳ nỗ lực nghiêm túc nào nhằm tiết lộ sự phức tạp của những sự sỉ nhục gắn với giới tính trong bối cảnh các thể nghiệm xã hội chủ nghĩa. Chúng ta sợ rằng cái bình phong này sẽ ngăn chúng ta đặt câu hỏi về “các chế độ cũ” vượt lên trên các câu hỏi duy nhất liên quan đến nền kinh tế kế hoạch hóa và tư cách thành viên của Đảng Cộng sản. (Smejkalova, 1995)

Print Friendly and PDF