Hiển thị các bài đăng có nhãn “Tin tưởng vào khoa học” có nghĩa là gì?. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn “Tin tưởng vào khoa học” có nghĩa là gì?. Hiển thị tất cả bài đăng

23.6.23

Những ồn ào của các chuyên gia truyền thông đã gây nhiều tai hại

NHỮNG ỒN ÀO CỦA CÁC CHUYÊN GIA TRUYỀN THÔNG ĐÃ GÂY NHIỀU TAI HẠI

Tác giả: Clément Boulle

Giám đốc điều hành của Polytechnique Insights

Mathias Girel

Triết gia, giảng sư tại ENS-PSL kiêm giám đốc Centre d’archives en philosophie, histoire et édition des sciences (CAPHES) - Trung tâm lưu trữ về triết học, sử học và xuất bản khoa học

Tóm tắt

·         Sự nghi ngại hiện nay đối với khoa học có thể được khơi dậy bởi những biểu hiện khác nhau làm ta lo lắng.

·         Do đó, vai trò của các khuyến nghị khoa học trong việc thiết lập những biện pháp chống lại coronavirus làm gay gắt thêm những phê phán cáo buộc tính chính trị của khoa học.

·         Mặt khác, ta nhận thấy có một sự lẫn lộn trong truyền thông, theo đó các chuyên gia “trong khoa học” nêu ra ý kiến của họ về những vấn đề không nhất thiết thuôc về lĩnh vực chuyên môn của họ. Đối với Mathias Girel (ENS-PSL), điều đó làm mất uy tín của cộng đồng khoa học và làm suy giảm hình ảnh của nó.

Ta không còn đếm được nữa số lượng các chương trình phát thanh/truyền hình, các hội thảo hay bài báo nói về một sự gia tăng giả định của sự nghi ngại đối với khoa học. Việc này gợi cho ông điều gì?

Đây đúng là một chủ đề thường gặp. Các cuộc điều tra dư luận lại làm xuất hiện một thực tế tương phản hơn: khi câu hỏi mang tính chung chung (“Bạn có tin cậy các nhà nghiên cứu của các tổ chức công cộng để nói lên sự thật về các chủ đề nghiên cứu của họ?”), hai phần ba những người được thăm dò đã khẳng định là có; viễn cảnh có thể là u tối hơn nhiu, đặc biệt là đối với những chủ đề về y tế[*]. Dù sao, một cách chung, sự nghi ngại đối với khoa học là thấp hơn sự nghi ngại đối với các nhân vật chính trị. Thế nhưng tôi không nghĩ rằng có một sự nghi ngại đối với khoa học “nói chung”, và nên xem xét lỹ lưỡng từng hồ sơ.

Xin ông giải thích cho chúng tôi điều ấy!

Print Friendly and PDF

13.6.23

Khoa học bị thiệt hại vì thiếu tính tái lập các kết quả nghiên cứu

KHOA HỌC BỊ THIỆT HẠI VÌ THIẾU TÍNH TÁI LẬP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tác giả: Valentin Weber

Nghiên cứu sinh tiến sĩ về khoa học nhận thức tại ENS-PSL

(Ecole Normale supérieure - Université Paris Sciences et Lettres)

Tóm tắt

  • Hiện nay, các khoa học xã hội, nhưng ngay cả nghiên cứu y sinh và các bộ môn khoa học khác đều đang trải qua “một cuộc khủng hoảng về tái lập các kết quả”.
  • 1/3 các kết quả nghiên cứu trong khoa học xã hội là không thể tái lập – và thế là có sai lạc tiềm tàng, vì tính tái lập là một yếu tố quyết định chính yếu của tính khoa học của các công trình.
  • Đáng chú ý là khủng hoảng này là do nhu cầu cung cấp những kết quả sáng tạo đổi mới và có ý nghĩa để được công bố trên những tạp chí khoa học có uy tín.
  • Như vậy, giải pháp có thể được thể hiện bởi các “báo cáo đã đăng ký quy ước nghiên cứu”, chúng bảo đảm rằng việc công bố nghiên cứu dựa trên nền tảng duy nhất của các giả thuyết ban đầu, ngay trước khi được biết các kết quả cuối cùng.

Tính tái lập hay khả năng tái lập – có nghĩa là những nhà khoa học khác có thể đạt được những kết quả tương tự như kết quả của một thí nghiệm gốc nếu họ thực hiện thí nghiệm trong những điều kiện giống nhau – là một điều bắt buộc của phương pháp khoa học. Tóm lại, nó có nghĩa là các kết quả của một thí nghiệm phải giống nhau, bất kể tác giả là ai. Và thường thường đó là trường hợp xảy ra. Tuy nhiên, trong nhiều bộ môn khác nhau của các khoa học xã hội, và ngay cả trong nghiên cứu y sinh, một số kết quả nghiên cứu khoa học đã không thể được tái lập sau đó bởi các nhà khoa học khác, điều này đã đặt lại vấn đề các nghiên cứu gốc[1],[2],[3].

Được biết đến với tên gọi “cuộc khủng hoảng của khả năng tái lập”, vấn đề không chỉ liên quan đến một vài nghiên cứu được công bố trên những tạp chí trình độ thấp. Thực ra, nó liên quan đến một phần ba các nghiên cứu trong các khoa học xã hội, kể cả những nghiên cứu được công bố trên những tạp chí có uy tín tương đương với Science hay Nature.[4] Các nghiên cứu được đề cập đến bao gồm nhiều hiện tượng khác nhau đã được biết rất rõ, nhiều hiện tượng đã tìm được chỗ đứng trong đại bộ phận công chúng. Trong số này, có những khái niệm đã lan truyền rộng rãi chẳng hạn như mối đe dọa của sự rập khuôn[5], những thiên kiến ngầm[6] hay hiệu ứng mồi xã hội[7]. Đó chỉ là ba kết luận nổi tiếng nhất, chúng đã là đối tượng của những phê phán nghiêm túc, đến mức chúng có thể không còn tồn tại sau một sự khảo sát về phương pháp luận kỹ lưỡng hơn. Nhưng chúng ta đã đi đến cuộc khủng hoảng này như thế nào, và chúng ta có thể làm gì để cứu chữa tình trạng này?

Print Friendly and PDF

5.6.23

Làm sao phân biệt hoài nghi đúng và hoài nghi sai

LÀM SAO PHÂN BIỆT HOÀI NGHI ĐÚNG VÀ HOÀI NGHI SAI

Tác giả: Agnès Vernet

Phóng viên khoa học

Jean-Gabriel Ganascia

Giáo sư tin học khoa Khoa học Đại học Sorbonne và là triết gia

Jean-Gabriel Ganascia

Tóm tắt

·  Hoài nghi là một yếu tố chính yếu của khoa học, và trong cộng đồng khoa học, sự thiếu vắng đồng thuận là chuẩn mực.

·   Nhưng đối diện với sự ngờ vực cố hữu của nhà khoa học, hiện nay xã hội đang trải qua một dạng hoài nghi khác: một sự hoài nghi chung đang đặt lại vấn đề các kết quả của khoa học. Tuy nhiên, để có hiệu quả hơn, sự hoài nghi phải được bao gồm trong phương pháp tiến hành khoa học.

·  Do đó, đối với Jean-Gabriel Ganascia, rất cần thiết phải trả lại vị trí trung tâm trong giáo dục cho giảng dạy khoa học, và nhất là cho phương pháp khoa học.

Khoa học không có sự hoài nghi…

Khoa học mà không có ý thức chỉ là sự hủy hoại tâm hồn”, Rabelais đã báo trước như vậy. Ta cũng có thể diễn giải là “Khoa học mà không có sự hoài nghi chỉ là sự hủy hoại tâm hồn”, vì hoài nghi là một động lực của khoa học; không có hoài nghi các kiến thức sẽ khô cứng, không tiến triển. Khoa học bao hàm sự nghi ngờ về những chân lý hiển nhiên nhất. Bản tính của nhà khoa học là ưu tư – với nghĩa gốc là “không ngơi nghỉ”. Nhà khoa học sẵn sàng đặt lại vấn đề tất cả, và để làm điều đó, họ nuôi dưỡng một sự hoài nghi “đúng”, có tính xây dựng và có tổ chức.

Print Friendly and PDF

27.10.21

Ta có thể học để trở thành duy lí hơn không?

TA CÓ THỂ HỌC ĐỂ TRỞ THÀNH DUY LÝ HƠN KHÔNG?

Tác giả: El Mahdi El Mhamdi[*]

Tóm tắt

  • Chúng ta phân biệt hai loại lập luận logic: diễn dịch và quy nạp. Phương pháp diễn dịch có những giới hạn của nó, điều này thúc đẩy các nhà nghiên cứu phát triển năng lực sử dụng lập luận quy nạp của chúng ta.
  • Trong quá khứ, diễn dịch đã đóng một vai trò chính yếu trong xã hội, cũng như trong sự hình thành nền dân chủ vốn dựa trên năng lực lấy các quyết định đã được thông tin đầy đủ và đã được cân nhắc của công dân.
  • Ngày nay, sức mạnh của tự động hóa suy diễn trong đời sống hàng ngày của chúng ta tạo nên một mối đe dọa cho năng lực này, ví dụ như qua việc lan truyền các “tin giả”.
  • Sự phát triển gần đây của tự động hóa quy nạp có thể được xem là một mối nguy cho phương pháp khoa học và tính độc lập của lập luận của chúng ta. Như vậy, giáo dục logic học cho các thế hệ tương lai đã trở thành một yêu cầu cấp bách.

Hơn một năm sau khi đại dịch bắt đầu, việc thiếu nguồn lực về truyền thông khoa học, sự lạm dụng khoa học luận tồi và một lề lối quản trị toàn cầu gây tranh cãi - như việc phân phối vắc xin đã cho thấy - còn đưa đến hậu quả là mỗi ngày có hàng ngàn tử vong lẽ ra có thể tránh được. Ngay cả trong các nền dân chủ phương Tây, các chính trị gia vẫn gặp khó khăn để hiểu vai trò của sự lây nhiễm qua đường không khí, và do đó đã lấy những biện pháp trọng yếu nhằm tạo luồng gió nhiều hơn trong những môi trường khép kín. Trong lúc đó, sự hoài nghi đối với vắc xin – cho dù nó đang bị tiêu trừ nữa – vẫn là một thiệt hại phụ lâu dài do sự rối loạn của cảnh quan truyền thông và của “dịch nhiễu loạn thông tin” gây nên.

Print Friendly and PDF

24.9.21

Tại sao khoa học coi thường ý kiến của bạn về sự thật?

TẠI SAO KHOA HỌC COI THƯỜNG Ý KIẾN CỦA BẠN VỀ SỰ THẬT?

Tác giả: Yves Laszlo[*]

Tóm tắt

  • Sự gia tăng gần đây của một sự nghi ngờ nhất định đối với khoa học đã làm giảm sự tin cậy đối với các sự kiện khoa học và đi ngược lại tiến bộ của khoa học.
  • Sự nghi kỵ này có xu hướng xem các ý kiến cá nhân – vốn được định nghĩa là chủ quan – là quan trọng hơn các sự kiện mặc dù chúng khách quan hơn.
  • Tính phổ quát của các sự kiện, và do đó khả năng lặp lại các kết quả thí nghiệm sẽ phải góp phần làm giảm thái độ hoài nghi đối với khoa học.
  • Trái ngược với nghi ngờ, sự hoài nghi trong nội bộ cộng đồng khoa học lại có lợi cho khoa học vì nó giúp xác định được tri thức của chúng ta dần theo việc đặt lại vấn đề về cách thức tiến hành khoa học, các phương pháp, các giả thuyết v.v..

Những thập niên vừa qua có thể được xem như thời hoàng kim của khoa học: các cuộc cách mạng về bộ gen và lượng tử, triều đại Internet, chiến thắng của học thuyết tương đối – đó là chỉ dẫn ra vài yếu tố - đã cho phép biến đổi cuộc sống của chúng ta. Và khi khoa học tiến triển, đem lại những lời giải thích và những mô hình mới, chúng ta cũng chờ đợi công nghệ cung cấp cho chúng ta những công cụ mới để giải quyết những thách thức toàn cầu mà chúng ta đang đối mặt.

Tuy nhiên, quá khứ gần đây cũng đã chỉ ra rằng chúng ta đang sống trong một thời kỳ hậu-sự thật (post-vérité), ở đó những “sự kiện đối chọn” (hoặc “tin giả”) là phổ biến, cũng như sự nghi ngờ đối với khoa học. Ta thường cho rằng các mạng xã hội phải chịu trách nhiệm, nhưng không phải chỉ một mình chúng.

Print Friendly and PDF