TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: CÁI BẪY CỦA MỘT NGÔN NGỮ THỐNG KÊ GIỐNG NHƯ NGÔN NGỮ CỦA CHÚNG TA
Tác giả: Mazarine Pingeot[*]
Giáo sư triết học
![]() |
| Khi chúng ta dùng ChatGPT, chúng ta đang tiếp xúc với một ngôn ngữ mà bản chất hoàn toàn khác với bản chất của ngôn ngữ con người. Shutterstock |
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh, như ChatGPT hoặc các hệ thống tương tự, một sản phẩm của văn bản mạch lạc không tri giác, không hình hài, không trải nghiệm và không có ý thức. Đó là cái mới triệt để mà ta cần suy nghĩ.
Khi ta hỏi ChatGPT, Claude hay các “Chat” khác về bất kỳ một chủ đề gì, nó trả lời như là một người đối thoại biết tất cả. Tuy nhiên, ngôn ngữ này được tạo ra theo phương thức thống kê, bằng cách tích hợp nhiều bối cảnh - điều này cho phép nó trả lời một cách thích hợp và mỗi lần là khác nhau, tuỳ theo ngữ cảnh được nêu ra -, bằng cách tổng hợp một khối lượng dữ liệu khổng lồ (các mô hình ngôn ngữ lớn hay LLM). Đặc thù này đem lại một chiều kích mới: nếu máy móc diễn đạt như con người, thì ngay cả khi ngôn ngữ đã được nhận thức bởi một số triết gia, mà đứng đầu là René Descartes, như là chỉ dấu của tư duy, và do đó là chỉ dấu của sự thừa nhận “tính người” nơi máy móc, thì làm sao phân biệt con người với máy móc?
Vấn đề này, dựa trên nền tảng của phép thử Turing, có vẻ như là một phép tu từ, tuy nhiên, có nhiều thực tiễn xác nhận, từ sự lẫn lộn này, rằng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đôi khi được sử dụng như người phụ tá, người bạn, và có khi làm công việc của nhà tâm lý học. Dù chỉ là trong cách chúng ta đặt câu hỏi cho trí tuệ nhân tạo, chúng ta đã kết nối với nó một cuộc đối thoại, và như vậy chúng ta trở thành nạn nhân của một phóng chiếu nhân hoá rất tự nhiên ngay từ khi kẻ kia – máy móc hoặc con người – trả lời chúng ta. Cách chúng ta xưng hô với “chat” của chúng ta chứng tỏ điều đó: đôi khi chúng ta nói chuyện với nó rất lịch sự, bằng cách thân ái gọi nó là “Bạn”.
Vậy thì làm sao nhận định lại về ngôn ngữ nếu nó không còn là chỉ dấu của một tư duy có ý thức? Và làm sao phân biệt ngôn ngữ của con người với ngôn ngữ của máy? Vì trong cấu trúc, cú pháp, tính mạch lạc, ngôn ngữ máy giống hệt ngôn ngữ của con người.
Tuy nhiên, việc phần lớn các văn bản do trí tuệ nhân tạo tạo sinh tạo ra từ nay không còn xuất xứ từ những văn bản do con người viết ra mà từ những văn bản khác do trí tuệ nhân tạo tạo ra đặt ra một vấn đề đầu tiên về tính tham chiếu.
Một sản phẩm thống kê không kết nối với sự thật
Ta đã biết từ những công trình của nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson là ngôn ngữ có nhiều chức năng (thông tin, tiếp xúc, tạo mối liên hệ, vẻ đẹp, v.v.). Chức năng tham chiếu là chức năng kết nối ngôn ngữ với thực tại và biến ngôn ngữ thành một nơi của sự thật với nghĩa là một sự tương hợp giữa một phát biểu và thực tại mà nó đề cập. Đó chính là định nghĩa nổi tiếng của Thomas d’Aquin (khoảng 1225-1274) “Veritas est adaequatio rei et intellectus” (“Sự thật là sự tương hợp của sự vật và của trí tuệ”). Do đó, “chỉ duy nhất các phát biểu có thể đúng hoặc sai. Về phần các sự vật, cho dù do một sự lạm dụng ngôn ngữ, mà ta cho là “đúng” hoặc “sai”, có thực hay không có thực, xác thực hay giả tạo. Nhưng những sự vật này không thể là “thực” được””, ta có thể đọc trong bài của l’Encyclopédie Universalis về sự thật theo nghĩa tổng quát.
Như vậy, phát biểu “trời tốt” là có ý nghĩa nếu trời tốt, được cho là cung cấp thông tin về thời tiết, nhằm nhiều mục đích (tổ chức ngày sinh hoạt của mình, chọn đi hay không đi xe đạp, v.v.). Mục đích của việc nói “trời tốt” là gì nếu không phải để truyền đạt thông tin này, hay tạo mối liên hệ với một người khác chỉ vì ta nói chuyện với người ấy (khi đó ta gọi là chức năng duy trì liên lạc của ngôn ngữ).
Tất nhiên, chữ viết sẽ truyền đạt chính ý tưởng giao tiếp nhưng chữ viết vẫn là một vectơ của một tri thức, một thông tin, một mối quan hệ giữa người đọc, người viết và điều được viết ra. Tuy nhiên, ở đây, ngôn ngữ được giải phóng khỏi những chức năng tham chiếu và duy trì liên lạc của nó.
Việc sản sinh ngôn ngữ tách rời khỏi thực tế
Phát biểu do trí tuệ nhân tạo tạo sinh không còn là dấu hiệu hướng về tính khách quan bên ngoài, và điều này mang tính cấu trúc, vì nó hoạt động theo một phương thức thống kê, bằng cách tính đến bối cảnh, từ những cơ sở dữ liệu số. Tính trung gian có nguy cơ gia tăng gấp nhiều lần, nếu các văn bản do trí tuệ nhân tạo sản sinh ra cuối cùng thay thế các văn bản do con người tạo ra. Trí tuệ nhân tạo tạo sinh sản sinh ra từ chính nó và theo cách các thuật toán một phát biểu mà theo định nghĩa hoàn toàn không có ý định giao tiếp. Phát biểu này là kết quả một một phép tính.
Rút ra bài học gì? Rằng chính cấu trúc của việc sản sinh ngôn ngữ tách rời khỏi thực tế: ta không thể trách máy móc không đưa mắt nhìn lên trời để xác nhận là trời tốt.
Như vậy, chính điều kiện cốt yếu của sự thật đã bị loại bỏ. Trong “Sự thật và chính trị”, nữ triết gia Hannah Arendt phân biệt “sự thật thực tế” và “sự thật lý trí”, liên hệ sự thật lý trí với chân lý khoa học và sự thật thực tế với “điều đã xảy ra”, nói cách khác là một cái thực tối thiểu, một điều kiện chung. Thế nhưng chính sự thật này mà các ý thức hệ toàn trị đã đặt lại vấn đề, thay thế thực tại bằng một hệ thống ý tưởng hoặc niềm tin ít nhiều nhất quán. Nhưng các nền dân chủ đại chúng cũng không chịu thua kém: theo Arendt, quảng cáo cũng đề ra một thay thế cho thực tại.
Ngày nay, ý thức hệ không còn cần thiết để thay thế cho quan hệ với thế giới bằng một diễn ngôn thoát khỏi ràng buộc với thế giới. Chính là hoàn cảnh của phát biểu làm cho phạm trù “sự thật thực tế” trở nên lỗi thời bởi vì trí tuệ nhân tạo tạo sinh, ngay chính trong sự vận hành của nó, không tham chiếu với thực tại để sản sinh ra ngôn ngữ, cho dù vẫn còn một liên hệ gián tiếp, vì sản xuất có tính chất thống kê của mô hình ngôn ngữ lớn LLM xuất phát từ những phát biểu bên ngoài LLM. Sự đứt gãy kết nối giữa sản sinh ngôn ngữ (mặc dù được cho là nơi chốn của sự thật) và thực tại mà ngôn ngữ nói đến đã được hoàn tất.
Do đó, hậu sự thật mà chúng ta đang sống từ nay được củng cố về mặt cấu trúc: không chỉ là một sự thờ ơ đối với sự thật, đó là một sự sản sinh nội dung tách rời khỏi hay độc lập với chính sự khả dĩ của đúng hay sai, cho dù một số lớn các văn bản cung ứng cho LLM vẫn còn đến từ con người. Ý thức hệ không nằm trong điều được nói ra, được sản sinh, được viết: nó nằm trong sự giải phóng một sản phẩm ngôn ngữ đối với thực tế và ngay với cả ý tưởng về tính tham chiếu. Trí tuệ nhân tạo tạo sinh không sáng tạo ra hậu sự thật, nhưng do sự vận hành của nó, nó củng cố cấu trúc của hậu sự thật.
Một ngôn ngữ được định dạng trước bởi các doanh nghiệp tư nhân?
Thêm vào đó, việc sản xuất này là độc quyền của các doanh nghiệp tư nhân. Chúng ta đang sống trong một xã hội tư bản, ai cũng biết rõ điều này, mà nguyên tắc là các phương tiện sản xuất tập trung trong tay một số ít người. Đó là cái mà Marx gọi là cơ sở hạ tầng, còn kiến trúc thượng tầng chỉ tất cả những lĩnh vực khác – chính trị, văn hoá. Nhưng ngày nay, cơ sở hạ tầng sản xuất ra ngôn ngữ. Và ngôn ngữ là bệ đỡ cho tất cả các kiến trúc thượng tầng: Nói như nhà ngôn ngữ học Klemperer, ngôn ngữ là phương tiện tuyên truyền vừa đại chúng nhất và vừa kín đáo nhất. Đại chúng, vì chúng ta không thể không có ngôn ngữ để sống trong xã hội; kín đáo, vì chúng ta không nhận ra đến mức độ nào ngôn ngữ bị chi phối bởi các chuẩn mực vốn chi phối chúng ta hơn là chúng ta chi phối chúng và đến lượt chúng ta chuyển tải chúng khi chúng ta phát biểu.
“Các kỹ thuật tái sản xuất nhất định tương ứng với mỗi thời đại”, Walter Benjamin đã viết như vậy. Kỹ thuật ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ: vào thế kỷ XIX, báo chí đại chúng đã biến đổi cách viết, tạo ra một thể loại văn chương mới – tiểu thuyết – mà Benjamin, trong tác phẩm le Raconteur (Người kể chuyện) cho là khác với chuyện kể, nhưng cũng là sự bùng nổ của báo chí gây giật gân, quan tâm đến những tin vặt và đề ra một “lối kể chuyện” hấp dẫn.
Do đó, ngôn ngữ sẽ ngày càng phải tuân thủ các phương tiện sản xuất kỹ thuật. Tất nhiên, ta có thể xem nó đã là như vậy trong cách sử dụng của công chúng, nhưng từ nay cũng là trường hợp của những cách sử dụng riêng tư, trong nghề nghiệp, trong thân tình, nói cách khác là hầu hết các cách sử dụng, kể cả lúc ta không hề cần công nghệ để giao tiếp: chúng ta đã từng giao tiếp qua thư điện tử khi chúng ta ở trong cùng một văn phòng, tham dự các buổi họp trực tuyến trong khi chúng ta chỉ cách nhau vài mét, giao tiếp qua Instagram khi ngồi cạnh nhau… Điều đó dẫn đến những hệ quả mang tính quyết định, nhất là đối với chính trị, và đặc biệt là đối với nền dân chủ, mà chất liệu nền tảng trước hết chính là ngôn ngữ và các quyền khác nhau gắn với ngôn ngữ.
Hannah Arendt viết “Là chính trị, sống trong quốc gia thành thị độc lập, điều đó có nghĩa là mọi việc đều được quyết định bởi lời nói và sự thuyết phục chứ không phải bởi sức mạnh hay bạo lực.” Bà thêm rằng chính là khi xuất hiện trước mắt mọi người mà lời nói trở thành chính trị. Do đó, cần có một không gian để lời nói được nghe, một không gian “công cộng” cho “một phát ngôn chính trị”.
Nhưng một không gian công cộng và một phát ngôn chính trị là gì, khi sản xuất ngôn ngữ thoát khỏi cả thực tại lẫn chủ thể phát biểu? Bằng cách tạo ra ngôn ngữ một cách tự lập không có tham chiếu, trí tuệ nhân tạo tạo sinh hoàn thành về mặt kỹ thuật một mơ tưởng về một phát biểu không cần chủ thể.
Do đó, ngôn ngữ không còn là yếu tố phân biệt con người và máy móc đã có những hệ luỵ cả về chính trị lẫn siêu hình. Mối quan hệ với cái thực đang bị biến đổi có lợi cho những trung gian tư nhân vô hình đang chiếm hữu ngôn ngữ: ngôn ngữ không còn giúp nhận ra một “người khác” nơi người gửi hoặc người nhận. Tuy nhiên, ngôn ngữ chỉ có nghĩa khi được gửi đến một con người. Đối với máy, ngôn ngữ hoàn toàn vô nghĩa. Cứu vãn ý nghĩa của ngôn ngữ tức là cứu vãn chính ý tưởng về chủ thể. Chính là với điều kiện này mà ngôn ngữ sẽ giữ được những tính năng giải phóng của nó.
Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư
Nguồn: “IA: Le piège d’un language statistique qui ressemble au nôtre”, The Conversation, 14.4.2026.
Chú thích: [*]
Mazarine M. Pingeot là tác giả của tác phẩm Inappropriable. Ce que l’IA fait à l’humain, (Flammarion, février 2026).
