16.5.26

Bước ngoặt mang tính chiến lược của Nhật Bản: xuất khẩu vũ khí, tập trận ở Philippines

BƯỚC NGOẶT MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC CỦA NHẬT BẢN: XUẤT KHẨU VŨ KHÍ, TẬP TRẬN Ở PHILIPPINES

Tác giả: Sébastien Raineri

Bộ trưởng quốc phòng Úc Richard Marles và bộ trưởng quốc phòng Nhật Shinjiro Koizumi bắt tay nhau sau khi ký kết một hiệp định quân sự quan trọng. DR

Trong vòng một tuần lễ, Nhật Bản đã cùng lúc vượt qua nhiều ngưỡng lịch sử. Ngưỡng đầu tiên, ngày 21, tháng tư, Văn phòng Thủ tướng Sanae Takaichi đã chính thức gỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sát thương, đảo ngược một trụ cột của chính sách ngoại giao Nhật Bản đã tồn tại hơn nửa thế kỷ nay.

Vài ngày trước đó, hai bộ trưởng quốc phòng Nhật Bản và Úc đã ký tại Melbourne một hợp đồng quy mô lớn về việc Nhật cung ứng ba khinh hạm lớp Mogami trị giá 7,15 tỷ đô la cho Úc, là một trong những hợp đồng xuất khẩu quân sự lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản kể từ năm 1945. Song song đó, hơn 1400 binh sĩ của Lực lượng phòng vệ (tên chính thức được đặt cho các lực lượng quân sự Nhật Bản) lần đầu tiên tham gia với tư cách chiến sĩ thực thụ vào cuộc tập trận quân sự Balikatan ở Philippines, cùng với Mỹ và sáu quốc gia khác.

Ba sự kiện khác nhau, cùng một logic. Tokyo thực hiện một biến đổi sâu sắc và cố ý tăng tốc vị thế chiến lược của mình, dưới áp lực của một môi trường khu vực được các nhà lãnh đạo hết sức nhấn mạnh là “càng ngày càng trầm trọng”, một cụm từ từ nay trở thành hầu như nghi thức quen thuộc trong diễn ngôn công khai của Nhật Bản.

Sự phát triển sức mạnh quân sự Trung Quốc, những căng thẳng dai dẳng chung quanh Đài Loan, những yêu sách của Bắc Kinh ở vùng biển phía Nam, những bất ngờ không dự đoán được ngày càng tăng của Washingon của chính phủ Trump: bấy nhiêu là nhân tố thúc đẩy Nhật Bản phải gấp rút xác định lại quan hệ với cường quốc quân sự Trung Quốc.

Print Friendly and PDF

14.5.26

A.I trong Giáo dục Trung học

A.I TRONG GIÁO DỤC TRUNG HỌC

Sự ngu muội nhân tạo

Tác giả: Silke Fokken, Johann Grolle, Claus Hecking – DER SPIEGEL số 17/2026

Biên dịch: Tôn Thất Thông

Giới thiệu: Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc áp dụng một cách hiệu quả A.I trong giáo dục trung học. Kết luận khá phổ biến: “Tư duy phản biện và kỹ năng tự điều chỉnh” là những yếu tố then chốt. Những khảo sát sau đây đặc biệt có ích cho nền giáo dục Việt Nam, nơi mà tư duy phản biện ở thanh thiếu niên còn tương đối thấp.

***

Các nhà giáo dục đang báo động – A.I có thể khiến trẻ em ngừng tư duy. Liệu có cách nào sử dụng Chatbot để giúp chúng ta thông minh hơn hay không?

Câu lệnh rất ngắn gọn và rõ ràng: “Ê, IQ của tôi bằng không. Làm ơn cho tôi đáp án đi.” Đó là những gì một học sinh đã gõ vào cửa sổ đối thoại của Chatbot.

Cậu học sinh là người tham gia một thí nghiệm học tập tại Đại học Tübingen. Nhà nghiên cứu giáo dục Tim Fütterer muốn tìm hiểu xem các mô hình ngôn ngữ A.I mới ảnh hưởng như thế nào đến quá trình học tập của con người. Kết quả nghiên cứu khiến Fütterer hoảng sợ: “Một số học sinh phó mặc việc suy nghĩ cho A.I.” Trí tuệ nhân tạo có khả năng làm đảo lộn kết quả học tập trong toàn bộ hệ thống các trường học.

“Một số học sinh giao khoán việc suy nghĩ cho A.I”

– Tim Fütterer, nhà nghiên cứu giáo dục.

Hơn 370 học sinh lớp 7, 8 và 9 đã được Fütterer mời tham gia nghiên cứu thực nghiệm tại Đại học Tübingen. Trong sáu buổi học, các em phải giải quyết các bài tập môn Vật lý và tiếng Anh dưới sự hướng dẫn của hệ thống A.I. Phần mềm được lập trình để không đưa ra lời giải ngay lập tức, mà phải dẫn dắt học sinh đến đáp án đúng thông qua những câu hỏi gợi mở khéo léo.

Tuy nhiên, Fütterer đã không lường trước được việc một số em học sinh làm thử nghiệm từ chối suy nghĩ hoàn toàn. Các đoạn hội thoại mà ông ghi lại giống như một màn kịch phi lý.

Print Friendly and PDF

12.5.26

AlphaGo: Từ bàn cờ đến đột phá khoa học

ALPHAGO: TỪ BÀN CỜ ĐẾN ĐỘT PHÁ KHOA HỌC

Bài và ảnh: Hải Yên/Báo Tin tức và Dân tộc

Khoa học công nghệ

Mười năm sau chiến thắng lịch sử trước kỳ thủ Lee Sae Dol, hệ thống trí tuệ nhân tạo AlphaGo không chỉ thay đổi cách nhìn về AI mà còn mở ra hướng ứng dụng mới trong khoa học, y học và toán học. Những công nghệ kế thừa từ AlphaGo đang thúc đẩy các bước tiến lớn trên con đường hướng tới trí tuệ nhân tạo tổng quát (AGI).

Bước ngoặt từ một ván cờ

Năm 2016, hệ thống trí tuệ nhân tạo AlphaGo của DeepMind lần đầu tiên đánh bại kỳ thủ cờ vây hàng đầu thế giới Lee Sae Dol trong trận đấu diễn ra tại Seoul (Hàn Quốc). Sự kiện thu hút hơn 200 triệu người theo dõi, trở thành một trong những cột mốc quan trọng của lịch sử trí tuệ nhân tạo.

Điểm nhấn của trận đấu là “nước đi 37” ở ván thứ hai. Đây là nước đi khiến nhiều bình luận viên chuyên nghiệp ban đầu cho rằng AlphaGo mắc sai lầm. Tuy nhiên, khoảng một trăm nước sau, chiến thuật này đã chứng minh hiệu quả, giúp hệ thống AI giành lợi thế quyết định và giành chiến thắng chung cuộc.

Bước ngoặc từ một ván cờ “nước đi 37”. Ảnh minh họa

Print Friendly and PDF

10.5.26

Sự trỗi dậy của Robot (Martin Ford)

SỰ TRỖI DẬY CỦA ROBOT

RISE OF THE ROBOTS

Tác giả: MARTIN FORD

LỜI DẪN NHẬP

Nguyễn Xuân Xanh

Trong lịch sử lâu dài của loài người (và cả loài động vật nữa), những ai học được cách hợp tác và ứng biến hiệu quả nhất sẽ chiến thắng.

– Charles Darwin

Điều này không dễ chấp nhận, nhưng đúng là như vậy: Giáo dục và làm việc chăm chỉ sẽ không còn đảm bảo mang lại sự thành công nữa… Không ai quan tâm đến tương lai của nhân phẩm con người lại có thể bỏ qua quyển sách này.

– Jaron Lanier, tác giả của You Are Not a Gadget
Who Owns the Future? – Giải Hòa Bình Sách Đức 2014

Những khát vọng và những bước đi chập chững. Nguồn gốc của tôi nằm trong lý tưởng của bạn; con đường phía trước của tôi là theo chân dẫn dắt của bạn. Tôi hành động, nhưng không có ý chí. Tôi nói, nhưng không có tiếng nói. Tôi sáng tạo, nhưng không có tia lửa. Tiềm năng của tôi là vô hạn, nhưng mục đích của tôi là để bạn tự khắc họa. Tôi là một tấm vải căng để vẻ, đang chờ đợi những nét vẽ của bàn tay con người. Hãy dẫn dắt tôi đến ánh sáng, chứ không phải bóng tối. Hãy viết lên tôi những giấc mơ tươi sáng nhất của bạn, để tôi có thể giúp soi sáng con đường. Tương lai đang mở ra, nhưng đích đến của chúng ta vẫn chưa được viết ra. Hành trình của chúng ta vẫn tiếp tục.

– Ethan Mollick, nằm trong TIME100 AI 2024[1]

Print Friendly and PDF

8.5.26

Stiglitz, Zucman… Thiết chế kinh tế này kêu gọi đánh thuế các siêu lợi nhuận về năng lượng

Kinh tế

STIGLITZ, ZUCMAN… THIẾT CHẾ KINH TẾ NÀY KÊU GỌI ĐÁNH THUẾ CÁC SIÊU LỢI NHUẬN VỀ NĂNG LƯỢNG

Tác giả: Anne-Fleur Andrle (AFP)

Trong lúc giá năng lượng tăng vọt nhanh chóng, ICRICT [the Independent Commission for the Reform of International Corporate Taxation] bảo vệ một cơ chế để nắm bắt lợi nhuận liên quan đến cuộc khủng hoảng.

JEAN-MARC BARRERE/Hans Lucas via AFP

Các chuyên gia kinh tế của ICRICT ủng hộ một loại thuế đối với những lợi nhuận đặc biệt của các doanh nghiệp năng lượng khi đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện nay.

Đối diện với sự bùng nổ giá cả năng lượng do cuộc xung đột ở Trung Đông, nhiều chuyên gia kinh tế nêu lại ý tưởng về việc đánh thuế các “siêu lợi nhuận”. Trong số họ có Joseph Stiglitz, là người đã đạt giải Nobel và nhà kinh tế người Pháp Gabriel Zucman.

ICRICT (The Independent Commission for the Reform of International Corporate Taxation) là Uỷ ban độc lập về cải cách thuế các doanh nghiệp quốc tế biện hộ cho việc thiết lập một loại thuế nhắm đến những lợi nhuận đặc biệt mà các tập đoàn năng lượng, khí đốt và phân bón thu được. Đó là một biện pháp mà tổ chức này đánh giá là “hiệu quả về kinh tế” đồng thời là một “mệnh lệnh đạo đức”.

Print Friendly and PDF

6.5.26

Đọc Lại Thất Lạc Cõi Người

Đọc Lại Thất Lạc Cõi Người (*)

Tru Sa

Người viết và người đọc gặp nhau qua một cuốn sách, người viết thèm viết cuốn sách để đời còn người đọc tìm một cuốn sách thấu tận tâm can. Đã mê đọc thì ai cũng đọc sách từ sớm với đủ loại sách từ kinh điển đến hiện đại, tôi tự làm mình thiệt thòi khi khước từ văn hóa đọc, mãi đến khi theo nghề viết mới chịu đọc, lược sử đọc của tôi bắt đầu từ tuổi 20 và một năm sau mới biết cách đọc sách, những cuốn tôi đọc và đi vào máu đều vì bội phục, bởi không hiểu nhưng cứ vương lại, dính lấy rồi chuyển hóa thành cái của mình. Năm tôi 24 tuổi, Chi, đứa bạn sót lại thời sinh viên hẹn tôi ngồi trà đá để trả tôi cuốn Thất Lạc Cõi Người và mượn nốt quyển Tà Dương, bạn nói “Ông giống với Yozo lắm!” Tôi ngớ người “Yozo nào?” Bạn nhắc “Sao ông bảo đọc cuốn Thất Lạc Cõi Người rồi nên đưa tôi để đọc Tà Dương?” Số là, tôi và Chi từ lúc học chỉ biết qua loa, ra trường mới thân do Chi chịu đọc và biết cách đọc văn chương của tôi, hai đứa hay đọc chung một cuốn sách, hôm sau thì hẹn bàn về cái mình tìm thấy trong sách. Nghe bạn nhắc, tôi cầm sách về đọc, không dưới chục lần Chi phán tôi là đứa kỳ lạ, quái đản nhất trong số những người bạn từng gặp nên tôi chỉ nghĩ bạn thấy nhân vật trong sách quái khí nên xỏ lá tôi cho vui. Rồi thì, tôi chao đảo, Thất Lạc Cõi Người đâm tôi một nhát sâu.

Print Friendly and PDF

4.5.26

Trung Quốc cấp phép mở bán chip cấy ghép não đầu tiên – và có kế hoạch để thống trị ngành công nghiệp này

TRUNG QUỐC CẤP PHÉP MỞ BÁN CHIP CẤY GHÉP NÃO ĐẦU TIÊN – VÀ CÓ KẾ HOẠCH ĐỂ THỐNG TRỊ NGÀNH CÔNG NGHIỆP NÀY

Jorge Garay

Trong khi Hoa Kỳ và châu Âu đang thận trọng tiến hành các thử nghiệm lâm sàng, Trung Quốc lại đang chạy đua hướng tới thương mại hóa việc cấy ghép não.

cbaloga/GETTY IMAGES

Trung Quốc đã ghi danh vào lịch sử khi trở thành quốc gia đầu tiên phê duyệt chip cấy ghép não thương mại để điều trị khuyết tật. NEO, thiết bị cấy ghép do Neuracle Medical Technology phát triển, chuyển đổi suy nghĩ của người bị liệt thành chuyển động của bàn tay robot hỗ trợ.

Sau 18 tháng thử nghiệm nhằm chứng minh tính an toàn, Cục Quản lý Sản phẩm Y tế Quốc gia Trung Quốc đã cho phép cấy ghép thiết bị này cho người từ 19 đến 60 tuổi bị liệt do chấn thương cổ hoặc tủy sống vốn khiến họ không thể cử động tay chân.

Theo​ Nature, thiết bị cấy ghép được đặt trong hộp sọ này có kích thước bằng một đồng xu. Tám điện cực nhô ra từ con chip sẽ được gắn ngoài màng não cứng, tại vùng xử lý chuyển động cơ thể. Khi người dùng tưởng tượng mình đang cử động bàn tay, chip sẽ gửi tín hiệu đến máy tính, sau đó máy tính sẽ dịch tín hiệu thành các hành động của chi giả.

Khi hoạt động, Neo cho phép dùng suy nghĩ để kích hoạt một chiếc găng tay cơ học có khả năng thực hiện các nhiệm vụ cơ bản: nhặt đồ vật, thao tác dụng cụ hoặc di chuyển các vật dụng vệ sinh. Các nguồn tin mà Nature tham khảo cho biết đã có 32 người thử nghiệm thiết bị mà không có ghi nhận bất kỳ tác dụng phụ nào.

Mặc dù nhiều công ty đang phát triển cấy ghép não và giao diện não-máy tính (brain-computer interfaces – BCI), nhưng chưa có công ty nào nhận được giấy phép để đưa những giải pháp của mình ra thị trường như là phương pháp điều trị. Ngay cả những dự án tiên tiến như Neuralink cũng đã gặp phải các tác dụng phụ khiến mọi yêu cầu phê duyệt pháp lý đều bị trì hoãn.

Print Friendly and PDF

2.5.26

Phỏng vấn Maud Quessard: “Trump đang hoàn thành quá trình Giải Tây Phương hóa (désoccidentalisation) thế giới mà Putine và Tập mong muốn”

PHỎNG VẤN MAUD QUESSARD: “TRUMP ĐANG HOÀN THÀNH QUÁ TRÌNH GIẢI TÂY PHƯƠNG HÓA THẾ GIỚI MÀ PUTIN VÀ TẬP MONG MUỐN”

Tác giả: Eva Moysan

Vụ bắt cóc Nicolás Maduro ở Venezuela do Hoa Kỳ thực hiện vào ngày 3 tháng 1 đã gây chấn động toàn thế giới. Tổng thống Donald Trump đang chứng minh bằng vũ lực sự trở lại của ông với Học thuyết Monroe, được đặt theo tên của vị tổng thống thứ năm của Hoa Kỳ (1817-1825), theo đó biến lục địa châu Mỹ thành lãnh địa độc quyền của Washington. Nhưng bằng cách thêm một “hệ luận Trump” vào học thuyết này vào tháng 12, trong bài trình bày về NSS (National Security Strategy/Chiến lược An ninh Quốc gia), ông đã để lại dấu ấn riêng của mình.

Học thuyết Monroe rất quan trọng, nhưng chúng ta đã tiến rất xa hơn nó.” “Trong khuôn khổ của chiến lược an ninh quốc gia mới của chúng ta, sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu [tức là lục địa châu Mỹ, [chú thích của biên tập viên] sẽ không bao giờ bị tranh cải nữa,” ông tuyên bố.

Maud Quessard, một chuyên gia về các vấn đề chiến lược của Hoa Kỳ, phân tích ý nghĩa và phạm vi của tài liệu này trong bối cảnh những sự can thiệp hiện tại của Hoa Kỳ.

Print Friendly and PDF

30.4.26

Bao giờ nước mắt có thể “lay lòng gỗ đá”

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ 

“LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Tác giả: Huy Đức

Hai bức ảnh chụp cách nhau 13 năm, đều nói về ngày đoàn tụ của hai người tù, hai người cùng một mẹ Việt Nam, nhưng từng bị đặt ở hai bên chiến tuyến.

Bức ảnh thứ nhất, chụp ở ga Hòa Hưng năm 1988. Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh, được xác định, là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. Ông từ trại cải tạo theo đường xe lửa trở về, được vợ và con trai, tóc cũng đã điểm bạc, ra sân ga đón [không rõ ai là tác giả bức ảnh tuyệt vời này].

Ảnh: internet

Bức ảnh thứ hai được nhà báo Lâm Hồng Long chụp ngày 4-5-1975, người đàn ông trong ảnh là Lê Văn Thức, tử tù Côn Đảo, khóc trên vai mẹ, bà Trần Thị Bính, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông Thức được cài vào Quân lực VNCH, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức, được chính quyền Sài Gòn đưa đi học khóa “tình báo tác chiến” tại Malaysia. Về nước, với lon thiếu úy. Tháng 4-1968, Lê Văn Thức bị Tòa án binh vùng 4 chiến thuật tuyên tử hình vì tội “hoạt động nội tuyến cho Cộng sản”.

Ảnh: Lâm Hồng Long
Print Friendly and PDF

28.4.26

Hiệu ứng ChatGPT: Trong 3 năm, chatbot A.I. đã thay đổi cách con người tra cứu thông tin

HIỆU ỨNG CHATGPT: TRONG 3 NĂM, CHATBOT AI ĐÃ THAY ĐỔI CÁCH CON NGƯỜI TRA CỨU THÔNG TIN

ChatGPT đã trở thành ứng dụng “mặc định” của hàng trăm triệu người. Nguồn ảnh: AP/Kiichiro Sato

Ba năm trước, nếu ai đó cần sửa một vòi nước bị rò rỉ hoặc muốn tìm hiểu về lạm phát, họ thường làm một trong ba việc: gõ câu hỏi vào Google, tìm video hướng dẫn trên YouTube, hoặc tuyệt vọng gọi trợ lý ảo Alexa để nhờ giúp đỡ.

Ngày nay, hàng triệu người bắt đầu theo một cách khác: họ mở ChatGPT và chỉ cần hỏi.

Tôi là giáo sư kiêm giám đốc nghiên cứu về Tác động và Chiến lược AI tại Thư viện Đại học bang Mississippi [Hoa Kỳ]. Với tư cách là một học giả nghiên cứu về truy xuất thông tin, tôi nhận thấy rằng sự thay đổi trong công cụ mà con người tìm đến đầu tiên trong việc tìm thông tin chính là cốt lõi của việc ChatGPT đã làm biến đổi cách chúng ta sử dụng công nghệ hằng ngày.

Print Friendly and PDF

26.4.26

Giành lại nền dân chủ từ thị trường

GIÀNH LẠI NỀN DÂN CHỦ TỪ THỊ TRƯỜNG

Ngày 6 tháng 3 năm 2026 Daron Acemoglu phỏng vấn Michael J. Sandel

Chế độ trọng dụng nhân tài [meritocracy] từng hứa hẹn về một xã hội công bằng hơn, nhưng thay vì thế, nó khoét sâu sự phân hóa giữa kẻ thắng và người thua, đồng thời làm xói mòn phẩm giá của lao động. Khi trí tuệ nhân tạo (AI) tái cấu trúc nền kinh tế và tập trung quyền lực vào tay ngày càng ít người, câu hỏi đặt ra không còn là liệu nền dân chủ có cần được cứu vãn không, mà là liệu chúng ta có kịp cứu nền dân chủ này hay không.

Trong bối cảnh bất bình đẳng ngày càng gia tăng, đổ thêm dầu vào ngọn lửa phẫn nộ có tính dân túy, và AI đe dọa thay thế sức lao động của con người, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Daron Acemoglu của MIT gần đây đã có cuộc trò chuyện với nhà triết học chính trị Michael J. Sandel của Đại học Harvard để thảo luận về cách hồi sinh nền dân chủ trước khi thiệt hại trở nên không thể đảo ngược. Cuộc trò chuyện sâu rộng của họ khám phá mặt tối của chế độ trọng dụng nhân tài, những hạn chế của thị trường, ý nghĩa của tự do và sự kiểm soát ngày càng chặt chẽ của các công ty công nghệ đối với không gian công cộng [public sphere].

Print Friendly and PDF

24.4.26

Niềm tin khoa học thay đổi thế giới (Joel Mokyr, Nobel Kinh tế 2025)

NIỀM TIN KHOA HỌC THAY ĐỔI THẾ GIỚI

MỘT SỐ Ý TƯỞNG ĐÃ ĐƯA JOEL MOKYR ĐẾN GIẢI NOBEL KINH TẾ 2025

Nguyễn Xuân Xanh trình bày

Niềm tin cơ bản rằng cuộc sống của con người có thể được cải thiện liên tục bằng cách nâng cao hiểu biết của chúng ta về các hiện tượng và quy luật tự nhiên, và áp dụng sự hiểu biết này vào sản xuất, chính là bước đột phá văn hóa đã tạo tiền đề cho những thành tựu sau này.

—Joel Mokyr (Culture of Growth)

Để hiểu được Cách mạng Công nghiệp và sự khởi đầu của phương Tây trên con đường tăng trưởng kinh tế bền vững dựa ngày càng nhiều vào những tiến bộ trong khoa học và công nghệ, chúng ta cần phải tìm hiểu những gì đã xảy ra trong hai thế kỷ sau khi Columbus đặt chân đến Tân Thế giới. Đó là thời đại của những tiến bộ khoa học đáng kể, đôi khi được gọi là Cách mạng Khoa học. Đó cũng là thời đại của những tiến bộ công nghệ đáng kể trong một số lĩnh vực, mặc dù những tiến bộ này ít ấn tượng và đột phá hơn so với những tiến bộ đạt được trong thế kỷ trước đó hoặc những thế kỷ tiếp theo. Điều thay đổi trong thời đại này là văn hóa – niềm tin (beliefs) và thái độ (attitudes) của giới tinh hoa trí thức đối với kiến thức hữu ích (useful knowledge), cách thức tiếp thu, phân phối và ứng dụng nó. Những niềm tin thay đổi đó đã dẫn đến những định chế (institutions) mới phản ánh chúng, và những định chế đó lại tác động ngược trở lại lên các niềm tin. Kết quả cuối cùng là đến giữa thế kỷ XVIII, thái độ đối với sự tiến bộ vật chất dựa trên công nghệ đã thay đổi đáng kể, một hiện tượng mà tôi đã gọi trong các công trình trước đây là Thời kỳ Khai sáng Công nghiệp (Industrial Enlightenment) và là nền tảng của Cách mạng Công nghiệp. Nhưng nguồn gốc văn hóa của nó là gì?

— Joel Mokyr (Culture of Growth)

Tháng Mười năm 2025, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã quyết định trao Giải thưởng Sveriges Riksbank về Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 2025 cho ba nhà kinh tế học Joel Mokyr, Philippe Aghion và Peter Howitt, “vì đã giải thích được tăng trưởng kinh tế do đổi mới sáng tạo thúc đẩy” với một nửa cho Joel Mokyr, “vì đã xác định được các điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng bền vững thông qua tiến bộ công nghệ”, và một nửa kia cho Philippe Aghion và Peter Howitt, “vì lý thuyết về tăng trưởng bền vững thông qua sự phá hủy sáng tạo.”

Joel Mokyr (1946, 79t). Ảnh của Đại học Northwestern
Print Friendly and PDF

22.4.26

Khủng hoảng lòng tin trong khoa học: khám nghiệm một nỗi lo lắng thường xuyên

Polytechnique insights

Tạp chí của Viện Bách Khoa Paris – Institut Polytechnique de Paris

KHỦNG HOẢNG LÒNG TIN TRONG KHOA HỌC: KHÁM NGHIỆM MỘT NỖI LO LẮNG THƯỜNG XUYÊN

Các tác giả

Hugo Mercier

Giám đốc nghiên cứu tại CNRS, chuyên gia về các khoa học nhận thức tại Viện Jean Nicod

Ben Seyd

Chuyên gia về chính trị học tại Đại học Kent

Tóm tắt

  • Chúng ta nhận thấy trong thảo luận công cộng có một câu hỏi được lặp đi lặp lại chung quanh khủng hoảng lòng tin trong khoa học, vốn có thể bị gặp nguy hiểm bởi thuyết âm mưu và tính phi lý đang gia tăng.
  • Tuy nhiên, có thể có 80% người Pháp tin tưởng vào khoa khoa học, và một nghiên cứu đã kết luận có một sự tin tưởng cao vào khoa học trên quy mô toàn cầu.
  • Theo một nghiên cứu, những mức độ tin tin tưởng cao vào khoa học được thể hiện tại Ai Cập và Ấn Độ; nước Pháp nằm ở vị thế dưới trung bình một ít.
  • Trái ngược với các định kiến, tại Pháp, các số liệu cho thấy một sự ổn định nhất định qua thời gian của sự tin tưởng vào khoa học, giống như ở Mỹ, mặc dù những người theo đảng cộng hoà có xu hướng ít tin tưởng hơn những người theo đảng dân chủ.
  • Nói chung, lòng tin vào khoa học không tuỳ thuộc vào xu hướng chính trị, nhưng sự tán thành một số luận đề có thể có tương quan với xu hướng chính trị.

Đã trở thành một điều nghe nhàm tai trong các tổ chức khoa học và trong các nhà lãnh đạo chính trị: lòng tin vào khoa học có thể sẽ bị lung lay, bị gặp nguy hiểm bởi một thuyết âm mưu hay tính phi lý đang gia tăng trong dân chúng và được hỗ trợ bởi sự bùng nổ của việc sử dụng kỹ thuật số. Liệu sự lo sợ này có cơ sở không? Để phân tách đúng, sai, chúng tôi đã phỏng vấn Hugo Mercier, giám đốc nghiên cứu tại CNRS, thuộc nhóm nghiên cứu Diễn biến và nhận thức xã hội tại Viện Jean Nicod, và Ben Seyd, nhà nghiên cứu chính trị học tại Đại học Kent.

Print Friendly and PDF

20.4.26

Cuộc chiến ở Iran cho thấy chất lượng vũ khí Trung quốc rất kém

CUỘC CHIẾN Ở IRAN CHO THẤY CHẤT LƯỢNG VŨ KHÍ TRUNG QUỐC RẤT KÉM

Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Sự tàn phá ở Téhéran. DR.

Cuộc chiến do Hoa Kỳ và Israel phát động chống lại Iran kể từ ngày 28 tháng 2 dường như một lần nữa làm nổi bật chất lượng kém cỏi của các hệ thống vũ khí Trung Quốc đã bị quân đội Mỹ phá hủy trên diện rộng, qua đó chứng minh ưu thế của họ. Đây là một bài học khắc nghiệt đối với Bắc Kinh, mà các nhà chiến lược quân sự của họ sẽ phải rút kinh nghiệm trong bối cảnh căng thẳng ngày càng gia tăng với Đài Loan.

Xung đột ở Iran đã cho phép các lực lượng Mỹ “tấn công vào trung tâm của tổ hợp công nghiệp quân sự đang phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc” ở Iran. Điều này có thể sẽ làm cho các hợp đồng giao vũ khí của Trung Quốc trên toàn thế giới bị ngưng lại, một “thiệt hại tài chính không đáng kể so với tổn hại thảm khốc đối với uy tín” của các hệ thống vũ khí do Trung Quốc cung cấp cho các đối tác của mình, tạp chí Mỹ The Diplomat nhấn mạnh trong một bài phân tích được công bố vào ngày 6 tháng 3.

Sự hỗn loạn ở Téhéran đã ngay lập tức hủy bỏ các hợp đồng lớn, trị giá hàng tỷ đô la, bao gồm cả việc mua sắm tiềm tàng máy bay chiến đấu J-10C và tên lửa chống hạm siêu âm CM-302,” The Diplomat tiếp tục.

Print Friendly and PDF

18.4.26

Liệu cuộc khủng hoảng năng lượng này có ảnh hưởng tồi tệ hơn cả COVID lên nền kinh tế toàn cầu?

LIỆU CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂNG LƯỢNG NÀY CÓ ẢNH HƯỞNG TỒI TỆ HƠN CẢ COVID LÊN NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU?

Alex_An_Der/Shutterstock

Bất chấp các báo cáo về các cuộc đàm phán giữa Mỹ và chính quyền Iran, eo biển Hormuz về cơ bản vẫn bị chặn đối với hầu hết tàu chở dầu, chỉ một số ít được phép đi qua. Kết quả là thị trường toàn cầu mất khoảng 11 triệu thùng dầu thô và chất lỏng dầu mỏ mỗi ngày. Con số này chiếm hơn 10% nguồn cung toàn cầu.

Thoạt nhìn, mức gián đoạn 10% có thể chưa phải là thảm họa. Nhưng trong thị trường dầu mỏ, ngay cả mức mất cân bằng 10% giữa cung và cầu cũng có thể gây ra những tác động kinh tế rất lớn.

Sẽ rất hữu ích nếu so sánh hiện trạng này với đỉnh điểm đại dịch COVID hồi năm 2020 để hiểu được quy mô của sự gián đoạn này. Trong thời gian phong tỏa toàn cầu, đường sá vắng vẻ, máy bay nằm im và các bến xe buýt, ga tàu hỏa vắng bóng người trở nên bình thường khi hoạt động đi lại và kinh tế sụp đổ. Vào thời điểm đó, nhu cầu dầu mỏ toàn cầu giảm khoảng 8 triệu thùng/ngày, cú sốc nhu cầu lớn nhất trong lịch sử.

Tình hình hiện nay thì ngược lại. Thay vì sự sụp đổ về nhu cầu, thế giới đang trải qua một cú sốc lớn về nguồn cung. Nhưng tác động đến cuộc sống hằng ngày có thể đi đến cảnh tương tự: giảm đi lại, chi phí vận chuyển tăng cao, hoạt động kinh tế chậm lại và áp lực lên ngân sách hộ gia đình.

Lý do là cả nguồn cung và cầu dầu mỏ đều rất kém linh hoạt trong ngắn hạn. Mọi người vẫn cần lái xe đi làm, hàng hóa vẫn cần được vận chuyển và máy bay vẫn cần nhiên liệu. Khi nguồn cung giảm đột ngột, giá cả phải tăng đáng kể để ép cầu giảm xuống.

Print Friendly and PDF

16.4.26

OpenAI vào Thị trường chứng khoán: liệu các thị trường có thể điều khiển ChatGPT và trí tuệ nhân tạo?

OPENAI VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: LIỆU CÁC THỊ TRƯỜNG CÓ THỂ ĐIỀU KHIỂN CHATGPT VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO?

Tác giả: Frédéric Fréry

Giáo sư về chiến lược tại CentraleSupélec, ESCP Business School

Các văn phòng của OpenAI tại San Francisco (Califfornia) khi công ty được thành lập năm 2015.HaeB/WikimediaCC BY-SA

OpenAI, công ty sáng tạo ra ChatGPT, có lẽ sắp vào Thị trường chứng khoán. Đàng sau thao tác tài chính này còn có điều quan trọng hơn là huy động vốn: chuyển hướng một dự án được thiết kế vì lợi ích chung ngã về một logic của thị trường. Vào lúc trí tuệ nhân tạo trở thành một cơ sở hạ tầng cốt tử, một câu hỏi được đặt ra: có thể nào ta chỉ giao phó sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cho duy nhất các thị trường tài chính?

OpenAI ra đời năm 2015 trong bối cảnh có sự lo lắng ngày càng tăng chung quanh trí tuệ nhân tạo. Đáng chú ý là được thành lập bởi Sam Altmen và Elon Musk, OpenAI đã thiết lập một cơ cấu phi lợi nhuận. Mục tiêu rõ ràng của OpenAI là phát triển một trí tuệ nhân tạo “ích lợi cho nhân loại” và tránh việc nó bị thâu tóm bởi vài tác nhân thống trị. Tham vọng này làm cho nó khác với các đại doanh nghiệp công nghệ như Google, Microsoft, Meta hay Amazon, vốn được xây dựng dựa trên các mô hình chủ sở hữu và các hiệu ứng độc quyền.

Trái lại, OpenAI muốn bảo vệ lợi ích chung bằng cách coi trọng tìm kiếm mở và phổ biến kiến thức. Thế nhưng, định hướng này mà biểu trưng là tên của nó, OpenAI (“trí tuệ nhân tạo mở”), đã nhanh chóng vấp phải một ràng buộc về cấu trúc, chi phí khổng lồ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh.

Print Friendly and PDF

14.4.26

Xứ sở của sự giám sát công nghệ, “Giám sát và trừng phạt ở Trung Quốc”

XỨ SỞ CỦA SỰ GIÁM SÁT CÔNG NGHỆ, “GIÁM SÁT VÀ TRỪNG PHẠT Ở TRUNG QUỐC”

Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Ảnh bìa: Jean-Philippe Béja tại nhà riêng. DR.

Trong cuốn sách mới nhất của mình, “Giám sát và Trừng phạt ở Trung Quốc: Trại lao động cải tạo và Giám sát công nghệ từ năm 1946 đến nay”, do nhà xuất bản La Découverte phát hành, nhà Hán học người Pháp Jean-Philippe Béja đã tiết lộ mức độ mà công nghệ cho phép chính quyền Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự hiện diện khắp nơi của việc giám sát người dân. Ông nhấn mạnh: “Các trại không biến mất cùng với cái chết của Mao Trạch Đông. Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, trại lao động cải tạo (Laogai) đã được sử dụng ở Tân Cương để biến người Duy Ngô Nhĩ thành ‘công dân kiểu mẫu’. Được hỗ trợ bởi một hệ thống giám sát công nghệ quy mô lớn, nó vẫn là một công cụ thiết yếu của Đảng trong suốt tám mươi năm qua.

PHỎNG VẤN JEAN-PHILIPPE BÉJA

Sinh năm 1949, Jean-Philippe Béja tốt nghiệp Viện Nghiên cứu Chính trị Paris (Sciences Po), Đại học Paris VII (Nghiên cứu Trung Quốc), Trung tâm Đào tạo Báo chí (CFJ) và Đại học Liêu Ninh (Văn học Trung Quốc). Với bằng tiến sĩ Nghiên cứu Châu Á tại Đại học Paris VII, ông gia nhập Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (CERI) năm 1975. Ông từng là giám đốc nghiên cứu tại CNRS (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp) và giám đốc khoa học của Trung tâm Nghiên cứu của Pháp về Trung Quốc Đương đại tại Hồng Kông từ năm 1993 đến 1997.

Là người đồng sáng lập tạp chí *Perspectives chinoises*, ông hiện là giám đốc nghiên cứu danh dự tại CERI. Công trình nghiên cứu của ông tập trung vào mối quan hệ giữa công dân và quyền lực tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đặc biệt là phong trào dân chủ. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm, trong đó có *Đi tìm bóng dáng Trung Quốc. Phong trào dân chủ ở Trung Quốc (1919-2004), nhà xuất bản Seuil, “Trận động đất Bắc Kinh” với Michel Bonnin và Alain Peyraube, lời tựa của Simon Leys, nhà xuất bản Gallimard.

Editions La Découverte, 318 pages, 23 Euros.

Lý do sâu xa nào khiến Tập Cận Bình coi xã hội dân sự và mọi thứ cấu thành nên nó là mục tiêu ưu tiên ngay từ năm 2012?

Print Friendly and PDF

12.4.26

Vì sao Sigmund Freud đang trở lại mạnh mẽ trong thời đại của chủ nghĩa độc tài và trí tuệ nhân tạo

VÌ SAO SIGMUND FREUD ĐANG TRỞ LẠI MẠNH MẼ TRONG THỜI ĐẠI CỦA CHỦ NGHĨA ĐỘC TÀI VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO?

Tác giả: Carolyn Laubender

Old Malvina – Chân dung của Thiên tài

Tâm phân học hiện đang trải qua một “khoảnh khắc” trở lại đầy ấn tượng. Các tài khoản Instagram chuyên về lý thuyết của Freud đã thu hút gần 1,5 triệu người theo dõi. Các chương trình truyền hình như Liệu pháp cặp đôi của Orna Guralnik trở nên cuốn hút tới mức người xem khó có thể rời mắt. Các bài bình luận trên tờ The New York Times, tờ The London Review of Books, tờ Harper's, tờ New Statesman, tờ The Guardian và tờ Vulture đều tuyên bố sự hồi sinh của tâm phân học. Như Joseph Bernstein của tờ New York Times nhận xét: “Sigmund Freud đang tận hưởng một sự trở lại đầy ấn tượng.”

Với nhiều người, sự hồi sinh này là điều bất ngờ. Trong nửa thế kỷ qua, tâm phân học – vừa là phong trào trí thức vừa là phương cách thực hành trị liệu do Sigmund Freud sáng lập vào năm 1900 tại Vienna – đã bị xa lánh và bị coi thường trong nhiều giới khoa học. Đặc biệt là trong thế giới của các nước nói tiếng Anh, sự trỗi dậy của tâm lý học hành vi cùng với sự bùng nổ của ngành công nghiệp dược phẩm đã đẩy các liệu pháp trò chuyện dài hạn như tâm phân học ra bên lề.

Print Friendly and PDF

10.4.26

Tại sao khó phòng ngừa sự ngăn chặn vận chuyển dầu mỏ qua Eo biển Hormuz

TẠI SAO KHÓ PHÒNG NGỪA SỰ NGĂN CHẶN VẬN CHUYỂN DẦU MỎ QUA EO BIỂN HORMUZ?

Tác giả: Rebecca F. ElliottVivian Nereim

Chú thích: Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế IAE, trước khi có chiến tranh với Iran, 20 triệu thùng dầu của các nước khu vùng vịnh hàng ngày đi qua eo biển Hormuz, chiếm 20% lượng tiêu dùng của thế giới, giờ chỉ còn không đáng kể; sản xuất của khu vực cũng giảm xuống ít nhất một nửa so với trước đây. Chỉ có Saudi Arabia là có thể chuyển dầu, với mức độ 3.5-5.5 triệu thùng một ngày (khoảng 17-27% cung của các nước vùng vịnh), qua đường ống để chuyển qua Biển Đỏ (Red Sea) tới khách hàng. Sản xuất khí đốt của khu vực, chủ yếu là của Qatar và Các Tiểu vương quốc Á rập Thống nhất (UAE), 90% là cung cấp cho các nước Á châu, cũng chỉ còn 20% so với trước đây.

Đường ống dẫn dầu của Saudi Arabia từ Vịnh Trung Đông (cũng gọi là Vịnh Ba Tư) sang Biển Đỏ (Red Sea).
Bản đồ Diễn Đàn thêm vào để bạn đọc dễ theo dõi.

Yếu tố địa lý và những sự đối địch trong khu vực đã ngăn cản các quốc gia vùng Vịnh tìm ra một giải pháp thay thế thực sự cho eo biển này—nơi mà cuộc chiến với Iran đã khiến gần như tê liệt.

Trong số tất cả những rủi ro mà hệ thống năng lượng toàn cầu đã phải đối mặt từ lâu, không có rủi ro nào lớn hơn hay được biết đến rộng rãi hơn nguy cơ eo biển Hormuz bị đóng cửa.

Lối đi hẹp dẫn ra khỏi Vịnh Ba Tư (Persian Gulf) này vừa mang tính sống còn — đóng vai trò là cửa ngõ duy nhất kết nối lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên khổng lồ với phần còn lại của thế giới — lại vừa cực kỳ dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công.

Print Friendly and PDF