2.8.26

Cuộc khủng hoảng của các khoa học nhân văn

CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA CÁC KHOA HỌC NHÂN VĂN

Tác giả: Félix Delmas

Từ những năm 1970, các khoa học nhân văn đã trải qua một cuộc khủng hoảng về tính chính đáng cả về mặt phương pháp luận (các nhà khoa học cứng và thuần túy đã lên án những tham vọng khoa học của khoa học xã hội) hay đạo đức (đặt lại vấn đề về hậu quả đạo đức của cấu trúc luận và sự tan rã của chủ thể trong các cấu trúc xã hội quyết định họ). Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến những nỗ lực định nghĩa lại các phương pháp đặc thù của các khoa học nhân văn.

Sự thống trị của khoa học nhân văn

Những dấu hiệu đầu tiên về mặt trí tuệ

Nếu chúng ta hiểu nó là kiến ​​thức về con người, thì khái niệm khoa học nhân văn luôn tồn tại, nhưng theo nghĩa hiện đại của một phương pháp luận riêng biệt, nó đã xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Lúc bấy giờ sử học kết thúc sự tách rời khỏi lĩnh vực của cổ học và tự khẳng định mình là một ngành khoa học. Nhất là các ngành học tự chủ mới đã xuất hiện và ngay lập tức khẳng định quy chế khoa học: đó là nhân học, với Marcel Mauss, và xã hội học, với Émile Durkheim (1858-1917).

Émile Durkheim

Trong cuốn *Những quy tắc của phương pháp xã hội học*, Durkheim bảo vệ ý tưởng coi các sự kiện xã hội như những sự vật, với cùng một thái độ khách quan như một nhà vật lý quan sát các hiện tượng vật chất. Trong phòng thí nghiệm của mình, nhà sinh học có thể tách biệt một số yếu tố nhất định để xác định vai trò của chúng, điều mà nhà xã hội học không thể làm được, ông phải tìm ra một phương pháp tương đương. Đó là phương pháp so sánh.

Cần phải làm nổi bật những sự kiện mấu chốt mang tính quyết định, có giá trị điển hình và từ đó có thể suy ra các quy luật. Xã hội học thiết lập các quy luật có giá trị đối với các xã hội thuộc cùng một thể loại với nó. Nó dựa trên phương pháp biến đổi đồng thời, bao gồm việc làm nổi bật sự tiến hóa song song theo thời gian giữa các chuỗi giá trị liên quan đến một số nhóm xã hội. Việc Durkheim sử dụng thống kê đã cho phép ông xác định các quy luật xã hội mà không cần quy chúng vào ý định của các tác nhân xã hội.

Trong tác phẩm *Tự tử* (1897), Durkheim đã hiện thực hóa mong muốn giải thích xã hội bằng chính cái xã hội. Ông lập luận dựa trên một dữ liệu mới, tỷ suất tự tử mà sự ổn định đã được ông ghi nhận.

Sự ổn định này có thể được giải thích như thế nào nếu tự tử là một bi kịch hoàn toàn mang tính cá nhân và do đó phải mang tính khả biến? Nghiên cứu về tỷ suất tự tử ở Pháp đã cho phép Durkheim xác định mối tương quan giữa mức độ hội nhập xã hội và tỷ suất tự tử: tự tử phổ biến hơn, ví dụ, ở những người độc thân hoặc những người không có con, cho thấy gia đình cung cấp sự bảo vệ chống lại tự tử.

Những mối tương quan này giúp giảm thiểu tầm quan trọng của các nhân tố chủ quan trong tự tử: hẳn là hành vi đó chắc chắn có thể được giải thích bằng những điểm yếu về tâm lý, những thất bại đau đớn và xuất phát từ một quyết định mang tính cá nhân riêng tư, nhưng tính ổn định của tỷ suất và nhiều mối tương quan được Durkheim xác định cho thấy một logic xã hội rõ rệt cho phép ông xây dựng một quy luật cơ bản: một xã hội bị điều tiết quá mức hoặc hội nhập không đầy đủ sẽ thúc đẩy tự tử. Ý tưởng về các quy luật xã hội do đó lần đầu tiên xuất hiện một cách chặt chẽ, được củng cố bởi dữ liệu thống kê.

Sự tách biệt khỏi chủ thể và tâm lý của họ là điều mà Marx đã thực hiện trong triết học. Thông qua các ý niệm về cấu trúc (Phê phán khoa kinh tế chính trị, 1859), cơ sở hạ tầng và kiến ​​trúc thượng tầng, và giai cấp, cùng với quy luật cơ bản về xu hướng giảm dần hiệu xuất của tư bản, Marx đã biến đổi quan niệm về lịch sử, từ nay biến nó thành không gian cho sự hoàn thành các quy luật khách quan. Tuy nhiên, triết học vẫn tiếp tục thống trị bối cảnh trí thức vào đầu thế kỷ 20. Năm 1914, Bergson là hình mẫu trí thức tiêu biểu, và ảnh hưởng của ông đối với văn học và khoa học vẫn không gì sánh kịp.

Cuộc cách mạng cấu trúc luận

Chính trong giai đoạn này, lý thuyết ngôn ngữ học đã phát triển. Saussure, và sau đó là Trường phái Praha (Jakobson, Trubetskoy), đã từ bỏ phương pháp lịch sử và xã hội truyền thống (của Meillet hay Vendryès) thông qua từ nguyên học và phân tích văn học để ủng hộ một cách tiếp cận trừu tượng và mang tính phương pháp.

Ferdinand de Saussure

Trong tác phẩm “Khóa học Ngôn ngữ học Đại cương” (1916), Ferdinand de Saussure đề xuất hiểu ngôn ngữ như một hệ thống trừu tượng, trong đó mỗi yếu tố chỉ có thể được xác định bởi các mối quan hệ tương đương hoặc đối lập mà nó xây dựng với các yếu tố khác. Nói cách khác, sự chú ý của nhà ngôn ngữ học phải tập trung vào cấu trúc, tức chính xác là tập hợp các mối quan hệ này.

Cách tiếp cận này dẫn đến việc giảm thiểu vai trò của người phát biểu trong việc hình thành ngôn ngữ. Thật vậy, nói rằng ngôn ngữ là một cấu trúc, một hệ thống các khác biệt, tức coi rằng ngôn ngữ là khách quan, nhưng do đó cũng được kế thừa, vì không cá nhân nào quyết định những khác biệt này.

Đây chính là cái khó trong luận điểm của Saussure vốn, bằng cách định nghĩa ngôn ngữ độc lập với người phát biểu như một tập hợp các khác biệt khách quan, đã không giải thích được sự hình thành của những khác biệt này.

Cách tiếp cận này đã được Claude Lévi-Strauss chuyển sang lĩnh vực nhân học, ông đã áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học cấu trúc vào các hệ thống quan hệ họ hàng. Ông làm sáng tỏ logic khách quan của chúng, vượt ra ngoài sự chính đáng hóa của chúng trong nền văn hóa được nghiên cứu.

Claude Lévi-Strauss

Lévi-Strauss giao cho nhà nhân học nhiệm vụ khám phá và phân tích cách tổ chức logic tiềm ẩn tạo nên nền tảng ngầm của các cộng đồng người.

Chẳng hạn, Lévi-Strauss đã phân tích các mối quan hệ hôn nhân như những cuộc trao đổi: bằng cách ưu tiên hôn nhân ngoại tộc, với người ngoài thị tộc, các xã hội truyền thống hoạt động theo một mô hình ngôn ngữ.

Mỗi người phụ nữ được gả cho một thị tộc cho phép thị tộc đó nhận lại những người anh em rể, những người sẽ là đối tác xã hội bổ sung và làm phong phú thêm các hoạt động xã hội của nhóm. Các quy luật chi phối cấu trúc quan hệ họ hàng, đặc biệt là điều cấm kỵ loạn luân, do đó xuất hiện như một ngôn ngữ thực sự, mà theo một nghĩa nào đó, tước đoạt quyền lựa chọn bạn đời của mỗi cá nhân: vượt ra ngoài những cảm xúc lãng mạn chi phối sự lựa chọn này, chính xã hội và luật lệ của xã hội giải thích lựa chọn đó.

Lévi-Strauss nhấn mạnh rằng cấu trúc xã hội này thực sự mang tính khách quan và vô thức, nằm ngoài phạm vi diễn ngôn và tư duy, và nhiệm vụ của nhà nhân học chính là làm cho cấu trúc đó lộ diện ra. Bằng cách áp dụng phương pháp cấu trúc, nhân học tự khẳng định mình là một khoa học thuần túy về con người: nó nâng tầm con người và các hệ thống được các nhà nhân học xác định lên vị thế của một đối tượng khoa học tương tự như trong các khoa học tự nhiên, bởi vì cấu trúc của các hệ thống này thoát khỏi sự biến động của lịch sử và ý chí con người.

Cấu trúc luận của Strauss, giống như ngôn ngữ học của Saussure, do đó là một chủ nghĩa phản lịch sử và một phương thức phân tích kiên quyết loại trừ chủ thể. Tuy nhiên, cấu trúc luận không phải là chủ nghĩa hình thức vì nó không đối lập cái trừu tượng và cái cụ thể. Cấu trúc không có nội dung riêng biệt: bản thân nó là nội dung. Tổ chức logic mà nó thiết lập là một thuộc tính của thực tại, chứ không phải lý thuyết hay lời giải thích về thực tại.

Lý thuyết về huyền thoại của Lévi-Strauss minh họa hoàn hảo quan niệm cấu trúc luận này. Tư duy huyền thoại không phải là tiền logic, mà là tư duy logic ở cấp độ giác quan, một tư duy phân loại và hợp lý hóa sử dụng các phạm trù thực nghiệm nhị phân (sống/chín, tươi/thối, ướt/cháy) làm công cụ khái niệm để rút ra các ý niệm trừu tượng và liên kết chúng thành các mệnh đề. Do đó, cấu trúc luận trước hết là một phương pháp khoa học, nhưng nó cũng là một thế giới quan thế tục hóa, duy vật và hậu nhân văn.

Sự thống trị của các khoa học nhân văn: 1945–1980

Chỉ trong vài năm, cấu trúc luận sẽ làm cho trật tự trí thức bị đảo lộn. Nó đối lập với chủ nghĩa hiện sinh của Sartre, CamusBeauvoir bằng cách tố cáo một ảo tưởng: ảo tưởng về sự tự do của chủ thể để thoát khỏi và nổi dậy chống lại các cấu trúc giải thích hành động của họ mà không cần phải ý thức về điều đó.

Sartre, Camus và Beauvoir

Trong những năm 1950, lý thuyết cấu trúc luận, vốn bắt nguồn từ các ngành ngoại vi như ngôn ngữ học và nhân học, đã thâm nhập vào các ngành nhân văn cổ điển. Ảnh hưởng của nó được khuếch đại thông qua sự thống trị của những người kế thừa trường phái Annales.

Fernand Braudel, Emmanuel Le Roy Ladurie phân tích một lịch sử tĩnh, tập trung vào các nhân tố quyết định dài hạn của lịch sử xã hội hơn là chính sự kiện lịch sử. Cách tiếp cận này cũng thấm nhuần vào phân tích văn học thông qua tác phẩm của Roland Barthes. Ảnh hưởng trí tuệ và xã hội của Barthes đã phổ biến cấu trúc luận vốn trở thành tín điều của báo chí đổi mới (L’Express, Le Nouvel Observateur, Libération). Theo lời của Michel Foucault, cấu trúc luận đã trở thành “lương tâm thức tỉnh và bất an của tri thức hiện đại”.

Fernand Braudel, Emmanuel Le Roy Ladurie Michel Foucault

Giờ đây, khoa học nhân văn đã chiếm ưu thế tuyệt đối trong xã hội những năm 1960 và 1970. Sự thống trị của chúng trên trường trí thức được củng cố bởi các định chế cạnh tranh với đại học Sorbonne: Trường Nghiên cứu Cao cấp về Khoa học Xã hội (EHESS) Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS).

Thông qua ảnh hưởng trí tuệ và quyền lực hành chính, các định chế này lần lượt lan rộng và thiết lập vị thế của khoa học nhân văn trong giáo dục trung học (với việc cải cách chương trình giảng dạy lịch sử, thiết lập ưu thế của lịch sử xã hội đối với lịch sử biên niên và lịch sử theo sự kiện, còn được gọi là “lịch sử chiến trận”, và du nhập lịch sử văn hóa) và giáo dục đại học (Michel Foucault từng là giám khảo tại ENA – Trường Quốc Gia Hành Chánh trong những năm 1970).

Kết thúc thời đại hoàng kim: thời đại thách thức

Thách thức đối với cấu trúc luận: thập niên 1980

Jacques Derrida (1930-2004)

Khoa học nhân văn bước vào cuộc khủng hoảng lý thuyết và chính trị trong thập niên 1980. Ngay từ năm 1983, tạp chí văn học *Magazine littéraire* đã đăng bài viết với tiêu đề “la crise des sciences humaines/cuộc khủng hoảng của khoa học nhân văn”. Thập niên 1980 chứng kiến ​​triết học trả thù cấu trúc luận với lý thuyết giải cấu trúc: Derrida đã bác bỏ ý đồ của diễn ngôn khoa học để tạo ra ý nghĩa và khả năng của nó mang một ý nghĩa khách quan. 

Sự thống trị của cấu trúc luận trùng hợp với sự thống trị của chủ nghĩa Mác. Một số luận điểm chung thống nhất hai hệ thống lý thuyết này: vai trò được gán cho khái niệm cấu trúc, ý tưởng rằng ý nghĩa của các sản phẩm xã hội không phải do ý định của các chủ thể mà do hoạt động khách quan của hệ thống. Cấu trúc luận, theo một cách nào đó, thể hiện cho sự mở rộng ra nhân học của ý niệm tha hóa của chủ nghĩa Mác.

Tuy nhiên, sự tiếp nhận trí thức càng mạnh của các nhà bất đồng chính kiến ​​Đông Âu (Alexander Solzhenitsyn, Alexander Zinoviev, Milan Kundera, Václav Havel, v.v.) và sự sụp đổ của Khối Đông Âu đã cho thấy những hạn chế của việc xác định khách quan các sự kiện xã hội và, thông qua sự dấn thân chính trị, đã phục hồi chủ nghĩa hiện sinh trong thực tiễn.

Alexander Solzhenitsyn, Alexander Zinoviev, Milan Kundera và Václav Havel

Trên quan điểm đạo đức, những lệch lạc của các học thuyết phủ nhận chủ thể đã trở nên rõ ràng. Từ cuối những năm 1970 trở đi, Triết học Mới tập trung vào việc làm nổi bật mối liên hệ giữa các lý thuyết Mác-xít và cấu trúc luận về cái chết của chủ thể trong lĩnh vực lý thuyết và sự vi phạm nhân quyền trong lĩnh vực chính trị (Người đầu bếp và kẻ ăn thịt người, 1975, và Những nhà tư tưởng bậc thầy, 1977, của André Glucksmann; Sự man rợ với khuôn mặt con người của Bernard-Henri Lévy, 1977).

André Glucksmann và Bernard-Henri Lévy

Thách thức khoa học đối với các khoa học nhân văn

Các khoa học nhân văn giờ đây phải đáp trả loại tấn công thứ hai, lần này liên quan đến phương pháp luận của chúng. Bị cáo buộc chỉ là những ngành khoa học diễn giải, và bị gán cho cái mác miệt thị là “khoa học mềm”, giờ đây chúng đang đối mặt với nguy cơ bị sáp nhập vào các khoa học chính xác.

Trong xã hội học, các tác giả như Jean-Claude Passeron đã cố gắng ngăn chặn cuộc khủng hoảng về tính chính đáng khoa học của các ngành này bằng cách thiết lập tính đặc thù về phương pháp luận của các ngành khoa học lịch sử. Các khoa học nhân văn luôn được hưởng lợi rất nhiều từ việc xem các ngành khoa học chính xác như một mô hình về tính khoa học, và đây đã là tham vọng của Max Weber với lý thuyết về sự thấu hiểu/lĩnh hội thích đáng của ông. Theo lý thuyết này, nhà sử học hoặc nhà xã hội học có thể tuyên bố giải thích một hiện tượng xã hội giống như một nhà vật lý giải thích một hiện tượng tự nhiên, miễn là họ có thể xác định được trong số nhiều nguyên nhân của hiện tượng đó, một nguyên nhân chủ yếu được coi là thích đáng. Tuy nhiên, phương pháp của các khoa học nhân văn vẫn khác biệt.

Trong cuốn *Raisonnement sociologique/Lý luận xã hội học* (1991), Jean-Claude Passeron bác bỏ bất kỳ sự nghi vấn triệt để nào đối với các khoa học nhân văn: chúng thực sự là khoa học, như kết quả của chúng đã chứng minh. Nhưng xã hội học, chẳng hạn, giống như bất kỳ ngành khoa học lịch sử nào, đều xem xét các hiện tượng xã hội trong một bối cảnh lịch sử nhất định. Xã hội học sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ duy nhất có khả năng tái cấu trúc thực tại xã hội theo cách diễn giải, để đưa ra các giải thích.

Do đó, các khái niệm xã hội học là những điều trừu tượng không hoàn chỉnh, bởi vì nhà xã hội học không thể lập luận mà không tính đến bối cảnh về không gian - thời gian.

Các khoa học nhân văn không thể sử dụng một ngôn ngữ đã được quy chế hóa dẫn đến một hệ thống ổn định và thống nhất, bởi vì tất cả các khái niệm được nhà xã hội học sử dụng đều đề cập đến một bối cảnh cụ thể. Tương tự, các phân tích xã hội học, lịch sử hoặc nhân học buộc phải sử dụng các khái niệm phân loại như loại hình lý tưởng của Max Weber hoặc các phép loại suy. Đây thực sự là những sự khái quát (ví dụ, loại hình lý tưởng của doanh nhân tư bản), nhưng chúng được xây dựng với phương pháp so sánh.

Passeron nhấn mạnh hai ảo tưởng rình rập tất cả các khoa học lịch sử: một mặt, ảo tưởng thực nghiệm theo đó chỉ riêng số liệu thống kê là đủ để tạo ra các sự khái quát, và mặt khác, ảo tưởng diễn giải rằng khoa học lịch sử chỉ đơn thuần là những sự diễn giải. Việc sử dụng thống kê cho phép chúng ta làm nổi bật vai trò của một số yếu tố nhất định; về mặt này, thống kê có thể so sánh với lập luận thực nghiệm.

Nhưng nhà xã hội học không chỉ bằng lòng với các phạm trù thống kê. Như vậy, lập luận xã hội học được xây dựng trong sự căng thẳng phong phú giữa tường thuật lịch sử đơn giản, sự diễn giải các sự kiện liên quan đến một bối cảnh, và lập luận thực nghiệm, cho phép chúng ta lập luận “với điều kiện các yếu tố khác không đổi”.

Việc thừa nhận rằng lập luận xã hội học bắt nguồn từ sự pha trộn này cho phép chúng ta duy trì yêu cầu mạnh mẽ về tính khoa học. Trong kinh tế học, một cuộc tranh luận tương tự đang phát triển để phê phán vai trò của tính toán trong khoa học kinh tế. Như sự nổi loạn gần đây của sinh viên tại Trường Sư phạm Cao Cấp ở Cachan chống lại chương trình giảng dạy kinh tế bị chi phối bởi tính toán nhằm mục đích làm nổi bật sự cần thiết của tính đa dạng phương pháp luận trong các khoa học nhân văn.

Nguy cơ về sự đồng hóa

Cuộc khủng hoảng trong các khoa học nhân văn hiện nay bắt nguồn từ việc đặt vấn đề về chiều kích lịch sử. Ví dụ, tâm lý học dường như đang bị đe dọa của sự hòa tan trong các khoa học sinh học với sự phát triển của các kỹ thuật như chụp ảnh não, cho phép hình dung các hoạt động tinh thần/trí tuệ mà các nhà tâm lý học âm thầm giả thuyết.

Theo nhà tâm lý học Françoise Parot (trong tác phẩm “Pour une psychologie historique/Vì một nền tâm lý học lịch sử”), nền tâm lý học bị đồng hóa này phi nhân hóa chúng ta; nó tước đoạt kinh nghiệm, trải nghiệm sống, lịch sử và ý nghĩa. Trong khi con người không thể được nghiên cứu độc lập với môi trường của họ, ngay cả khi khả năng của họ là giống nhau ở tất cả mọi người. Coi trí tuệ là tự nhiên có nghĩa là thừa nhận rằng các quy tắc hoạt động của trí tuệ là các cấu trúc tinh thần hiện diện về mặt vật chất trong não bộ; những quan niệm tự nhiên hóa này nhằm mục đích giải thích và khám phá các cấu trúc sinh học, di truyền và thần kinh giải thích hành vi. Khi đó, thuốc trở nên không hiệu quả; đối với người mắc chứng sợ không gian rộng, chỉ cần kê đơn thuốc chống trầm cảm là đủ, và liệu pháp thậm chí trở thành liệu pháp gen.

Françoise Parot cảnh báo chống lại việc giản lược nỗi đau tâm lý thành sự vật, một sự vật thuộc về lĩnh vực của các bác sĩ. Ngược lại, tâm lý học lâm sàng cho phép chúng ta xác định một chiều kích độc đáo của trải nghiệm của con người: “bãi tắm ngôn từ”, bà viết, thể hiện nỗi đau tâm lý, chúng đi sâu vào ý nghĩa, mang lại ý nghĩa cho nỗi đau và xoa dịu bằng sự nhân hóa bằng cách đưa chúng ta ra khỏi sự cô lập. Khoa học tự nhiên nói rằng thuốc chống trầm cảm làm giảm serotonin, nhưng chúng không mang lại ý nghĩa cho thế giới.

Điều thực sự thuộc về con người, trên thực tế, chính là khả năng biểu tượng hóa bất tận song hành với thế giới các sự vật. Văn hóa là bản chất con người bên trong con người và không hề mang tính tự nhiên. Nếu khoa học về con người tan biến vào tự nhiên, nguy cơ thực sự là sự mất mát ý nghĩa về con người. Do đó, đằng sau cuộc khủng hoảng nhận thức luận, một cuộc khủng hoảng đạo đức đang diễn ra.

Về tác giả

Félix Delmas

Félix Delmas là nhà sử học

Người dịch: Phạm Như Hồ

Nguồn:La crise des sciences humaines, Wukali, 16.8.2020.

Print Friendly and PDF