VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA MỸ THUẬT VIỆT NAM
VÀ VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG MỸ THUẬT ĐÔNG DƯƠNG (EBAI)
Phạm Thị Điệp Giang
Năm 2024, tôi làm chung dự án nhóm “cặp đôi” với một bạn Trung Quốc về triển lãm “Magiciens de la terre” (Những pháp sư của trái đất) do Jean-Hubert Martin làm giám tuyển tại Centre Pompidou (1989). Đây được coi là triển lãm đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật hiện đại đặt vấn đề về việc đưa nghệ thuật ngoài phương Tây vào trong một đối chiếu công bằng với Tây phương, với việc trưng bày tác phẩm và chọn lựa 50 tác giả đến từ Tây phương và 50 tác giả ngoài Tây phương (châu Phi, Mỹ Latinh, Úc, Á, …).
Ở thời điểm năm 1989, triển lãm thu hút khoảng 400 ngàn lượt khách tham quan tại không gian ở Paris và một không gian phụ cận.
Tầm quan trọng của Triển lãm này trong lịch sử được ghi nhận và tới năm 2014, sau 25 năm, triển lãm đã được tái lập tại Centre Pompidou. Điều đáng nói là, trong khi nỗ lực xoá nhoà ranh giới giữa nghệ thuật của Tây phương (được cho là mang đặc tính của chủ nghĩa thực dân và thuộc địa) của Jean-Hubert Martin là điều không thể phủ nhận, thì cách ông lựa chọn nghệ sĩ, trưng bày tác phẩm, tổ chức các sự kiện bên lề (như giao lưu nghệ sĩ không thuộc Tây phương với khách tham quan, …) lại bị phê phán là phản ánh hoàn toàn các đặc điểm “thượng đẳng” Tây phương mà triển lãm đang cố gắng tháo bỏ: – việc gọi tên các nghệ sĩ là “pháp sư” (mang tính chất tâm linh, phù thuỷ chứ không phải sáng tác như một nghề nghiệp chuyên nghiệp) chứ không phải nghệ sĩ; – chọn lựa các “nghệ nhân” từ các làng văn hoá truyền thống ngoài châu Âu hơn là các nghệ sĩ đã và đang thực hành nghệ thuật tương ứng các trào lưu nghệ thuật bấy giờ trên toàn cầu (vì cho rằng các nghệ sĩ địa phương này đã bị pha trộn và chịu ảnh hưởng từ Tây phương chứ không có tính nguyên bản); – lựa chọn mang tính độc tôn thể hiện quyền lực trong việc cho phép ai được gọi tên hay định danh là “nghệ sĩ” và cái gì là “nghệ thuật” (theo nghĩa fine-art) ngoài châu Âu. Những phê bình, chỉ trích này vẫn tiếp tục hiện diện trong đời sống phê bình mỹ thuật cho đến ngày nay, và nó được coi như một “điển cứu” cho ngành giám tuyển trong việc cẩn trọng với các dự án mang tính “hậu thuộc địa” để không phạm sai lầm trong tư duy đã mang sẵn tinh thần thuộc địa trong kể chuyện, sáng tác, thực hành…

.jpg)


.jpg)




