Các mục về sách của Bourdieu và các mục liên quan đến Algérie trong Từ điển quốc tế về Bourdieu
BỊ BẬT GỐC. CUỘC KHỦNG HOẢNG CUẢ NỀN NÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG Ở ALGÉRIE [DÉRACINEMENT (LE). LA CRISE DE L’AGRICULTURE TRADITIONNELLE EN ALGÉRIE]
![]() |
![]() |
Với tựa đề phụ “La crise de l’agriculture traditionnelle en Algérie/Cuộc khủng hoảng của nền nông nghiệp truyền thống ở Algérie”, cuốn sách này, được soạn thảo cùng với Abdelmalek Sayad, được Nhà xuất bản Minuit xuất bản năm 1964. Đây là kết quả của một cuộc điều tra được thực hiện trong cùng điều kiện và cùng thời kỳ (từ năm 1959 đến năm 1960) với tác phẩm Travail et travailleurs en Algérie/Lao động và người lao động ở Algérie. Để hiểu được tác động của chiến tranh và của sự đàn áp đối với dân thường, Pierre Bourdieu và nhóm của ông đã đi vào các vùng chiến sự để gặp gỡ những người nông dân bị ồ ạt tập trung lại trong các trại tập trung, trong những điều kiện mà chính ông cho là “nguy hiểm”. Mục tiêu của các tác giả là mô tả các trại tập trung do quân đội khởi xướng chứ không phải ghi chép một cách có hệ thống các cuộc can thiệp của quân đội vào các làng mạc truyền thống, trong số đó một số vẫn còn hoạt động một phần lâu sau khi Algérie giành được độc lập. Điều này được minh chứng qua các bộ phim của Ahmed Rachedi, L’Opium et le bâton, về Chiến tranh Algérie, La Colline oubliée của Abderrahmane Bouguermouh và La Montagne de Baya của Azzedine Meddour, được quay tại các ngôi làng Kabyle trước chiến tranh.
Chính sách tập trung này do chính quyền Pháp thực hiện nhằm mục đích kiểm soát hoàn toàn mọi hoạt động của người dân và ngăn chặn họ cung cấp thông tin và tiếp tế cho các thành viên của ALN (Quân đội Giải phóng Dân Tộc). Chiến dịch này nhằm mục đích biện minh cho sự đàn áp bằng cách tuyên bố bất kỳ ai ở lại các khu vực bị cấm là “phiến quân”, trái ngược với những cư dân của các ngôi làng vẫn giữ được kiến trúc và phần nào lối sống của họ (múc nước từ nguồn nước, thu hoạch ô liu, làm việc trên đồng ruộng) dưới sự giám sát của quân đội. Trong trường hợp này, chính quân đội đã định cư ngay tại làng.
Quá trình này dần dần lan rộng khắp cả nước, nơi mà vào tháng 1 năm 1959, không dưới 936 trại đã được kiểm kê. Ngay từ năm 1955 trở đi, mục tiêu là tập trung dân chúng dựa trên học thuyết “chiến tranh cách mạng” được phát triển từ kinh nghiệm ở Đông Dương và được phổ biến trong bộ tổng tham mưu. Do đó, nhiệm vụ của quân đội Pháp không chỉ giới hạn ở cuộc chiến chống lại Quân Đội Giải Phóng Dân Tộc (ALN), nó còn bao gồm các hành động nhắm vào các nhóm dân cư được tập hợp lại với mục đích khuyến khích họ ủng hộ Pháp. Với mong muốn cắt đứt phong trào kháng chiến với những người ủng hộ ở địa phương, quân đội đã phá hủy các cấu trúc xã hội và kinh tế cũng như nhịp sống trong không gian-thời gian của dân chúng (thay đổi nơi sống và tước đoạt đất đai), như Bourdieu và Sayad đã chỉ ra sau nhiều tháng điều tra (từ năm 1959 đến năm 1961) tại các trại tập trung nông dân [PB 1964a]. Cuộc điều tra này do đó đã tiết lộ những tác động của một chính sách được giữ bí mật, được thiết lập từ năm 1955 và trở nên có hệ thống vào năm 1958, bởi một thế lực quân sự đã thách thức luật pháp của nền Cộng hòa.
Cuộc “di đày” hàng loạt này, tác động đến gần ba triệu người (bao gồm cả những người di cư từ nông thôn), đã tạo nên một bước ngoặt thảm hại trong lịch sử đất nước. Khi rời bỏ quê hương, những người nông dân đã mất đất đai, gia súc - nói cách khác, mất tất cả phương tiện sinh tồn. Họ cũng thấy mình bị tước đoạt một số khía cạnh văn hóa, mất mọi sáng kiến chủ động, và mất khả năng nhận thức và thấu hiểu thế giới. Vượt lên trên sự biến mất của hàng loạt bộ tộc, là cả một quá trình tổng quát hơn của “sự tăng tốc mang tính bệnh lý của sự biến đổi văn hóa” [Le Déracinement: 35] đã dẫn đến sự “phi nông dân hóa”. Bởi vì hiện tượng này đã khôi phục cuộc khủng hoảng của xã hội nông dân, không thể vượt qua những tác động của sự tàn phá lan rộng này, tác phẩm Le Déracinement đã không thu hút được lượng khán giả tương xứng với chất lượng của nó ở Pháp. Ở Algérie cũng vậy, bởi vì nó cũng ít “thích hợp” với kỳ vọng của một hệ thống đang theo đuổi chính sách chủ động tự quản và cải cách ruộng đất. Việc phê phán “chủ nghĩa xã hội chuyên quyền” [DÉ: 171] minh chứng cho tầm nhìn sáng suốt và hướng tới tương lai của tác phẩm này.
Tassadit Yacine[*]
☛ ALGÉRIE, CRISE, ENQUÊTE(S), ESQUISSE POUR UNE AUTO-ANALYSE, GUERRE D’ALGÉRIE, KABYLIE, MINUIT, PAYSANNERIE, SAYAD, TRAVAIL ET TRAVAILLEURS EN ALGÉRIE
Thư mục
1964 [DÉ] Le Déracinement. La crise de l’agriculture traditionnelle en Algérie (avec A. Sayad), Paris, Minuit.
* * *
LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở ALGÉRIE [TRAVAIL ET TRAVAILLEURS EN ALGÉRIE]
![]() |
![]() |
Những nghiên cứu ở cội nguộn của cuốn Travail et travailleurs en Algérie đã được thực hiện trong bối cảnh của cuộc chiến tranh giành độc lập của Algérie: Pierre Bourdieu đã thực hiện nghĩa vụ quân sự tại đây và trở về Alger với tư cách là giáo sư triết học. Được mời tham gia một dự án do Jacques Breil, lúc đó là giám đốc Cục Thống kê Algérie, người đã đề xuất với Quỹ Phát triển Algérie thành lập Hiệp hội Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Xã hội và tình hình lao động, ông đã làm việc với các nhà thống kê Alain Darbel, Jean-Paul Rivet và Claude Seibel, những chuyên gia trẻ tại Viện Thống kê và Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Pháp (INSEE). Việc áp dụng một cách có hệ thống bản câu hỏi dựa trên các phạm trù tư duy của lý lẽ thông thường ở Pháp đã dẫn đến những kết quả nghịch lý ở Algérie. Những điều kiện đặc thù của chiến tranh, vốn thuận lợi cho sự đình chỉ các mối quan hệ mang tính cấu trúc giữa các ngành khoa học xã hội khác nhau (sự thiếu hiểu biết và khinh miệt lẫn nhau), đã tạo ra một cuộc đối thoại chặt chẽ, mặc dù đôi khi khó khăn, giữa các nhà thống kê và các nhà dân tộc học (kết quả nghiên cứu được xuất bản theo ngành) đã tiếp tục cho đến khi xuất bản cuốn Partage des bénéfices (1966) và giúp giải thích được những kết quả thoạt nhìn có vẻ có vấn đề. Cách tiếp cận đa ngành độc đáo này và trải nghiệm chéo của Bourdieu về thế giới xã hội đã góp phần tạo nên tính độc đáo và tác động lý thuyết của tác phẩm Travail et travailleurs en Algérie. Mối quan tâm đặc biệt của Bourdieu đối với dân tộc học và việc ông áp dụng nhân học cấu trúc do Claude Lévi-Strauss chủ xướng, gắn liền với việc nghiên cứu các chiến lược hôn nhân và tỷ lệ độc thân cao ở vùng quê của ông, vùng Béarn, đã giúp ông có thể diễn giải các hành vi đặc thù của thế giới truyền thống. Công trình thực nghiệm đầu tiên này ở Algérie đã thay đổi quan điểm của ông, khuyến khích ông huy động mọi kiến thức về các chiều kích khác nhau của trật tự xã hội để giải thích nền kinh tế và sáng tạo về mặt khái niệm để giải thích thực tại quan sát được. Những điều kiện xã hội đặc biệt của nghiên cứu, cũng như của các tác nhân được coi là đối tượng (nông dân bị đẩy vào nền kinh tế thị trường bởi logic chiến tranh), đã cho phép ông nhận thức những hành vi bình thường của cuộc sống hàng ngày như là ngẫu nhiên: việc tính toán chi phí/lợi nhuận và một triết lý ngầm về lao động dựa trên sự tương đương giữa nỗ lực bỏ ra và tiền bạc. Điều này dẫn đến sự đoạn tuyệt với hình thức đặc thù của chủ nghĩa vị chủng này, vốn dẫn đến việc ban cho các tác nhân một khả năng phổ biến về cách hành xử kinh tế duy lý. Công trình này, đóng vai trò thiết yếu cho sự soạn thảo tác phẩm Esquisse d’une théorie de la pratique và Le Sens pratique, chứng minh tầm quan trọng của tư thế của nhà nghiên cứu, người chỉ có thể nắm bắt được logic sâu sắc của thế giới xã hội bằng cách đắm mình vào tính đặc thù của một thực tế thực nghiệm được xác định về mặt không gian và thời gian, để xây dựng nó như một trường hợp cụ thể của những cái khả thi, bằng cách sử dụng nhân học so sánh với mục tiêu là nắm bắt cái bất biến, cái cấu trúc trong biến thể được quan sát.
Tác phẩm Travail et travailleurs en Algérie tập trung vào logic của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tiền tư bản sang nền kinh tế tư bản, tức là việc áp dụng tinh thần tiên liệu và tính toán cần thiết cho hành động duy lý. Khác xa với chủ nghĩa phổ quát của các nhà lý thuyết kinh tế tân cổ điển, phân tích này nhấn mạnh các điều kiện kinh tế để tiếp cận sự tính toán duy lý. Đối với người nông dân thời xưa, việc không có kế toán là một trong những khía cạnh cấu thành của trật tự kinh tế và xã hội, và lao động là một cách để hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với tập thể; các nguyên tắc đạo đức và danh dự tố giác tinh thần tính toán. Từ những năm 1950 trở đi, việc tạo ra thị trường lao động thông qua quá trình khai thác thuộc địa đã được thúc đẩy bởi mong muốn tự chủ chính trị của người dân Algérie, buộc họ phải rời bỏ quê hương, bị tập trung trong các trại tị nạn, hoặc phải di cư đến các thành phố. Chính sách này dẫn đến việc từ bỏ các hành vi kinh tế thích đáng trong nền kinh tế truyền thống, áp đặt nền kinh tế thị trường lên những người nông dân trong khi họ không có khả năng có được tư duy và phép tính toán cho phép họ áp dụng các chiến lược phù hợp với tình hình mới. Thường thì những người nghèo nhất, những người thuộc tầng lớp bần cố nông lại là những người đưa ra những dự đoán quá mức khi được hỏi về thu nhập cần thiết để sống tốt. Khi nguồn lực thực tế tăng lên, quan điểm trở nên thực tế hơn, duy lý hơn, và tầm nhìn về tương lai phụ thuộc chặt chẽ vào tiềm năng khách quan được xác định bởi mỗi cá nhân, bởi địa vị xã hội và điều kiện vật chất của cuộc sống của họ. Phân tích của Bourdieu về những điều kiện mà người Kabyle có thể phát triển ý thức cách mạng, được Bourdieu bao gồm trong các điều kiện vật chất của việc duy lý hóa hành vi, cho thấy mối quan tâm chính trị của ông và cách thức mà nghiên cứu xã hội học có thể đóng góp vào.
Chủ nghĩa tư bản ở Kabylie, khác với giai đoạn khởi đầu được Werner Sombart gợi lên, nơi doanh nhân tạo ra chủ nghĩa tư bản, là một hệ thống áp đặt lên các tác nhân bị ném vào đó và phải học các quy tắc của nó. Sự thích ứng thành công của các tác nhân đòi hỏi một sự tái tạo sáng tạo. Việc tham khảo cuốn L’Éthique protestante của Max Weber, dưới sự chi phối của một chủ nghĩa duy vật tổng quát, đã củng cố những câu hỏi về các ràng buộc xã hội và các động lực văn hóa, vốn gây ra những thay đổi trong các phạm trù tư duy, các cách tính toán và các hành vi kinh tế. Bourdieu cho thấy rằng, trước sự tan rã của nền kinh tế truyền thống, hệ thống thái độ và mô hình mới không được hình thành trong hư không mà được cấu thành từ những tập quán, vốn vẫn tồn tại sau sự biến mất hoặc tan rã của nền tảng kinh tế của chúng, và chỉ có thể thích ứng với yêu cầu của tình hình mới với cái giá phải trả là một sự chuyển đổi sáng tạo đối mặt với vô số trở ngại. Trong khi sự lạc điệu giữa các thái độ cụ thể và các cấu trúc của nền kinh tế trong xã hội tư bản non trẻ hay đã trưởng thành được giới hạn, thì các thái độ và hệ tư tưởng khác nhau lại cùng tồn tại trong xã hội Algérie, và đôi khi thậm chí ngay trong cùng một cá nhân. Quá trình này làm nổi bật sự đa dạng của các tình huống khách quan và của các trải nghiệm về chúng: các tác nhân kinh tế không phải là những tác nhân chung chung, có thể thay thế cho nhau, mà là những người đàn bà và đàn ông ở một độ tuổi nhất định, xuất thân từ những dòng họ cụ thể, sống trong một không gian xã hội, với lịch sử cá nhân và tập thể để lại dấu ấn sâu sắc trong lối sống của họ. Như thế, một sự phê bình mang tính lịch sử về các phạm trù và khái niệm được sử dụng để xây dựng bản câu hỏi, đặc biệt là lao động và một phân tích về nhận thức của dân cư nông thôn và thành thị, giai cấp vô sản, tầng lớp bần cố nông và thương nhân về các tình huống khác nhau, đã được đề xuất. Cuốn sách cho thấy cách những trải nghiệm trong quá khứ vận hành như một ma trận nhận thức tại mỗi thời điểm, dẫn đến việc Bourdieu viết rằng “tính duy lý bị giới hạn, trái ngược với những gì Herbert Simon nói, không phải vì tâm trí con người bị giới hạn về mặt khái quát, mà bởi vì nó được cấu trúc về mặt xã hội, và do đó bị hạn chế. Các tác nhân không mang tính phổ quát bởi vì các đặc tính của họ là sản phẩm của sự sắp đặt và chuyển động của họ trong không gian xã hội, và do đó là của lịch sử cá nhân và tập thể.” [Les Structures sociales de l’économie: 259]. Hành vi kinh tế của mỗi tác nhân ít tùy thuộc vào các chiến lược và các tính toán rõ ràng của họ hơn là vào một “cảm thức về trò chơi”, được thủ đắc trong suốt hành trình xã hội của họ. Việc thay thế từ vựng “quyết định” và “duy lý” bằng từ vựng “thiên hướng” và “duy lý” là điều cần thiết để thể hiện một tầm nhìn hành động phù hợp hơn với thực tại xã hội.
Khái niệm tập tính được xậy dựng trong văn bản này như một nguyên lý tạo ra các chiến lược, mà không phải là sản phẩm của bất kỳ ý đồ chiến lược thực sự nào. Tương tự, khái niệm lịch sử được sáp nhập cũng được phác thảo. Mặc dù chủ yếu tập trung vào hành vi kinh tế, phân tích cho thấy việc tái cấu trúc các thực tiễn, sau khi bị bứng rễ khỏi thế giới truyền thống, mang một hình thức triệt để. Việc đề cập đến một tương lai được tính toán cho phép thống nhất tất cả các hình thức hành động duy lý (kiểm soát sinh đẻ, tiết kiệm, giáo dục trẻ em, v.v.) thông qua sự tương hợp mang tính cấu trúc.
Công trình nghiên cứu về các hoạt động kinh tế của người nông dân Kabyle xưa đã mở đường cho việc lý thuyết hóa một “nền kinh tế của các thực tiễn” trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng lại ít được biết đến trong một thời gian dài, đặc biệt là trong giới nhân học Pháp nghiên cứu về quá trình phi thực dân hóa Châu Phi Đen. Nó cũng không được biết đến ở Hoa Kỳ, nơi mà sự phân tích sức mạnh của mạng lưới trong hoạt động của thị trường được ca ngợi vào năm 1985 như một sự sáng tạo lý thuyết lớn với các công trình của Mark Granovetter, trong khi một chương trong Travail et travailleurs en Algérie được dành cho hiệu quả của các sự bảo hộ và các mối quan hệ cá nhân trong việc tìm kiếm việc làm. Khác với Sociologie de l’Algérie, Travail et travailleurs en Algérie là cuốn sách đầu tiên nắm lấy các vấn đề lý thuyết được xem xét từ những dữ liệu thực nghiệm được xây dựng tỉ mỉ.
Marie France Garcia Parpet
Nhà nghiên cứu tại INRA (CESSP)
☛ AGENT(S), ALGÉRIE, ANTHROPOLOGIE, ARGENT, ATTITUDE(S), BAL DES CÉLIBATAIRES (LE), CALCUL, CAPITALISME, CATÉGORIE(S), DARBEL, DISPOSITION(S), ÉCONOMIE, ESPACE SOCIAL, ESQUISSE D’UNE THÉORIE DE LA PRATIQUE, ETHNOCENTRISME, GUERRE D’ALGÉRIE, HABITUS, HONNEUR, IDÉOLOGIE, INCORPORATION, INSTITUT NATIONAL DE LA STATISTIQUE ET DES ÉTUDES ÉCONOMIQUES, INVARIANT(S), JEU(X), KABYLIE, LÉVI-STRAUSS, MARCHÉ, OBSERVATION(S), ORDRE SOCIAL, PAYSANNERIE, PERCEPTION, PRATIQUE, RATIONALITÉ, RÈGLE, QUESTIONNAIRE, SENS PRATIQUE (LE), SOCIOLOGIE DE L’ALGÉRIE, SOUS-PROLÉTAIRES, STRATÉGIE(S), STRUCTURE(S), SYSTÈME, TRANSFORMATION(S), TRAVAIL, WEBER
Thư mục
1958 [SA] Sociologie de l’Algérie, Paris, PUF, “Que sais-je”, rééd. 1960, 2001
1960 [TTA] Travail et travailleurs en Algérie, (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.
1966 [LPB] Le partage des bénéfices (avec A. Darbel), Paris, Minuit.
1972 [ETP] Esquisse d’une théorie de la pratique. Précédée de trois études d’ethnologie kabyle, Genève, Droz, rééd. Paris, Seuil, “Points”, 2000.
1980 [SP] Le Sens pratique, Paris, Minuit, rééd. 1989.
2000 [SSÉ] Les Structures sociales de l’économie, Paris, Seuil, rééd. “Points”, 2014.
* * *
ALGÉRIE 60. CẤU TRÚC KINH TẾ VÀ CẤU TRÚC THỜI GIAN [ALGÉRIE 60. STRUCTURES ÉCONOMIQUES ET STRUCTURES TEMPORELLES]
![]() |
![]() |
Được NXB Éditions de Minuit xuất bản năm 1977, trong bộ sưu tập “Grands documents”, Algérie 60 là kết quả của một nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành từ năm 1959 đến năm 1961 tại các vùng nông thôn và các thành thị của Algérie, mà bản tổng kết được công bố năm 1963 trong tác phẩm Travail et travailleurs en Algérie (một số phiên bản ban đầu của các văn bản rút ra từ những nghiên cứu này đã được tập hợp trong tác phẩm Esquisses algériennes). Pierre Bourdieu nghiên cứu các mối quan hệ giữa các cấu trúc kinh tế và các cấu trúc thời gian làm nền tảng cho các thực tiễn kinh tế như quỹ dự trữ hay tiết kiệm, quà tặng và quà đáp trả, tín dụng, tương trợ và hợp tác. Để làm được điều đó, ông đối lập hai thế giới với nền kinh tế hoàn toàn khác biệt: thế giới thứ nhất, đặc trưng của các xã hội truyền thống (và ở đây là xã hội bản địa), mà ông gọi là tiền tư bản; thế giới thứ hai, hệ thống tư bản chủ nghĩa, đặc trưng của các xã hội công nghiệp phát triển và trở nên phổ quát đối với tất cả các xã hội đang phát triển, miễn là các xã hội này từ bỏ thế giới quan định hình nên họ. Sự đối đầu giữa hai hệ thống đối kháng này tạo ra những rối loạn hành vi ở các cá nhân, đặc biệt là do sự không hòa hợp giữa các vị trí và các khát vọng.
Đối với Bourdieu, việc nghiên cứu quan niệm kinh tế của các xã hội tiền tư bản chỉ có thể được hiểu trong mối liên hệ với thế giới quan tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là trong một xã hội nơi chủ nghĩa thực dân áp đặt hệ thống kinh tế và các quy luật làm nền tảng cho nó (các cấu trúc kinh tế dựa trên sự nắm bắt thời gian và sự hợp lý hóa các thực tiễn). Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu tin rằng các xã hội công nghiệp đã chuyển đổi từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế tư bản mà không trải qua những biến đổi gắn liền với sự thích nghi của chúng với hệ thống tư bản – và đặc biệt là quá trình tiếp thu các kỹ thuật, thực tiễn và kiến thức cần thiết cho việc sáp nhập chủ nghĩa tư bản vào xã hội (phương pháp tính toán, phân loại, v.v.). Đây chính xác là những gì Bourdieu quan sát được về xã hội Algérie, một xã hội gắn bó với một hệ thống kinh tế đặc trưng bởi các nghi lễ, các huyền thoại, lịch và hệ thống quản lý các nguồn dự trữ; nói tóm lại, sở hữu một nền văn hóa đặc thù, “tạo ra sự an tâm” bởi vì nó hoàn toàn phù hợp với các quy tắc và nhịp điệu thời gian riêng của nó. Điều này dẫn đến những thái độ đặc thù đối với thời gian và tính hợp lý kinh tế rất khác so với những thái độ được du nhập và áp đặt bởi hệ thống tư bản chủ nghĩa. Trong thế giới tiền tư bản, logic kinh tế được hình thành thông qua sự tái sản xuất đơn giản, và tương lai không được tính toán theo thời gian mà được ghi khắc trong hiện tại như một tiềm năng khách quan. Như Polanyi đã chứng minh trong cuốn La Grande Transformation/Sự Chuyển Đổi Vĩ Đại, nền kinh tế là một phần của tổng thể, một tập hợp các thực tiễn, một thế giới quan đặc thù, mà các cấu trúc cần được làm sáng tỏ để hiểu được các hành vi. Ngược lại, “vũ trụ kinh tế” tư bản chủ nghĩa dựa trên khả năng dự đoán và sự tính toán, do đó cần có một thiên hướng “hướng về tương lai” dựa trên tính toán, cái lợi và lợi nhuận, hiện diện cả trong nền kinh tế gia đình và trên quy mô lớn hơn nhiều, chẳng hạn như việc dự phóng vào một tương lai “cách mạng”.
Cuối cùng, cuốn sách này nhấn mạnh những tác động của việc áp đặt chủ nghĩa tư bản lên một xã hội chưa sẵn sàng đón nhận nó, những tác động mà hậu quả đã gây ra thảm họa cho những người thiệt thòi nhất. Dựa trên sự nghiên cứu những biến thể của các thực tiễn kinh tế và các hình tượng về nền kinh tế tùy thuộc vào vị trí của mỗi người trong hệ thống kinh tế, Bourdieu mô tả mối quan hệ giữa “giai cấp vô sản”, những người được hưởng lợi từ tình trạng ổn định và có thể nắm bắt tương lai, và những người “bần cố nông” hoàn toàn không có khả năng đưa ra bất kỳ dự đoán nào. Đối với những cá nhân “bị phi nông dân hóa (dépaysannés)” và những người thất nghiệp này, những người sống lay lắt từng ngày mà không có sự đảm bảo về kinh tế và mạng lưới an sinh xã hội như những người nông dân (fellah) thời xưa, chỉ còn lại sự ứng biến: sự bất ổn về việc làm và thất nghiệp là gốc rễ của các vấn đề về hành vi. Theo Bourdieu, “chủ nghĩa truyền thống sinh ra từ sự tuyệt vọng và việc thiếu kế hoạch về cuộc sống là hai mặt của cùng một thực tại” [A 60: 65]. Do đó, điều cần thiết là phải xem xét “vấn đề của sự thành hình của các thiên hướng kinh tế và các điều kiện kinh tế và xã hội của sự thành hình này” [A 60: 7] nếu chúng ta muốn hiểu được lý do của sự hỗn loạn khi đối mặt với sự không hòa hợp giữa các vị trí và các khát vọng, và nắm bắt được cảm giác vỡ mộng đang chi phối cả một bộ phận xã hội, những người đã quay về với truyền thống vì tuyệt vọng.
Tassadit Yacine[*]
☛ ALGÉRIE, CALCUL, CAPITALISME, DISPOSITION(S), DON, ÉCONOMIE, ENQUÊTE(S), IMPOSITION, IMPROVISATION, INCORPORATION, MINUIT, POSITION(S), PRATIQUE, RATIONALITÉ, REPRÉSENTATION(S), SOCIÉTÉ(S), SOCIOGENÈSE, SOUS-PROLÉTAIRES, STRUCTURE(S), TEMPS, TRANSFORMATION(S), TRAVAIL ET TRAVAILLEURS EN ALGÉRIE, VISION DU MONDE
Thư mục
1960a “Guerre et mutation sociale en Algérie”, Études méditerranéennes, no 7, p. 25-37.
1977 [A60] Algérie 60. Structures économiques et structures temporelles, Paris, Minuit.
Phạm Như Hồ dịch
* * *
ALGÉRIE [ALGÉRIE]
Từ thời Cổ đại đến thế kỉ XIX, lần lượt bị người Phénicie, La Mã, Byzance, Hồi giáo và Thổ Ottoan thèm muốn, kể từ năm 1830 đến khi giành được độc lập năm 1962, sau một cuộc chiến tranh dài hơn bảy năm, Algérie bị Pháp chiếm đóng. Thời kì thuộc địa đã gây nên một cuộc đảo lộn, đặc biệt đã dẫn đến sự phá hủy các cấu trúc xưa. Một thiểu số người “châu Âu” thống trị “đám đông bản địa” phục tùng, đám đông này bị cai trị bằng bộ luật bản địa (được thu hồi năm 1946), và bị tước đoạt những tài sản kinh tế.
Tốt nghiệp École normale supérieure năm 1954, năm 1956 Pierre Bourdieu bắt buộc phải thi hành nghĩa vụ quân sự ở Algérie [Esquisse pour une auto-analyse: 54]. Như chính ông thổ lộ, khám phá đất nước đang có chiến tranh này là một “cú sốc” sớm là động cơ cho bước chuyển của ông từ triết học sang nhân học của xã hội Algérie. Ông công bố cuốn sách đầu tiên, Sociologie de l’Algérie (1958), cho thấy sự hiểu biết về những khác biệt giữa các văn hóa dân tộc và về lịch sử thuộc địa: từ những nguồn lực của thư viện thuộc chính quyền trung ương và các kho lưu trữ của chính quyền này, ông nghiên cứu các luật tước đoạt sở hữu ruộng đất và những tác động của chúng trên sự phân mảnh và phá vỡ có hệ thống các bộ tộc. Như vậy ông khảo sát dần dần những hậu quả của các chính sách được tiến hành trong thế kỉ XIX trên lối sống của dân chúng nông nghiệp; điều này khiến ông quan tâm đến các cấu trúc xã hội, chính trị và những thực hành văn hóa đặc trưng của xã hội bị thống trị và những phương thức kháng cự mà xã hội này phát triển để đối phó với công cuộc thực dân hóa. Ông cố gắng mô tả một thế giới có đặc trưng là tính vô cùng sự đa dạng của những lối sống (nông dân trên núi, trên cao nguyên, ở đồng bằng hay ở sa mạc như du mục hay nửa du mục) và văn hóa (kabyle, chaouia, mozabite, Ả rập, châu Âu, v.v.), các lối sống này có thể chia sẻ với nhau những nét văn hóa (trao đổi dịch vụ, thái độ đối với thời gian và không gian, nhận thức về nền kinh tế đặt cơ sơ trên sự không chia sẻ) và đồng thời khác nhau trong việc bảo tồn những thực hành riêng (ngôn ngữ đặc thù, tập quán pháp). Bourdieu khám phá một sự đa dạng văn hóa và một sự cân bằng giữa những nhóm khác nhau mà chế độ thuộc địa làm đảo lộn bằng cách áp đặt nhận thức của mình về kinh tế và thế giới. “Nền kinh tế truyền thống […] không chống nổi sự cạnh tranh với một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, ưu đãi các giới phong kiến tài chính […] một phương pháp bóc lột có năng suất cao […] sớm làm cho thủ công nghiệp nông thôn phá sản, sự du mục và nửa du mục bị dồn về vùng cao nguyên” [SA: 118]. Nông dân bị nền kinh tế tiền tệ cuốn vào cơn lốc thật sự này và như thế buộc phải vay tín dụng với “lãi suất cao”, bán đất đai và “di dân hay chịu thân phận còn dưới cả giai cấp vô sản” [SA]. Sự nổi lên của tầng lớp xã hội mới này được hợp thành từ những “nông dân mất gốc” – ở cội nguồn của một giai cấp dưới vô sản thành thị “chưa từng có” – xuất hiện trong các thành phố của đất nước Algérie cùng với chiến tranh: đặc biệt hơn Bourdieu nghiên cứu hiện tượng này với một ê-kíp các nhà thống kê thuộc Viện quốc gia thống kê và nghiên cứu kinh tế (Alain Darbel, Jean-Paul Rivet và Claude Seibel), sau này cuộc điều tra được xuất bản dưới tựa đề Travail et travailleurs en Algérie năm 1963.
Nhưng các công trình này không giới hạn ở tính thời sự, cùng một lúc chúng làm hiển lộ những cấu trúc lâu dài của sự thống trị đã cho phép duy trì hệ thống thuộc địa tự duy trì hơn một trăm ba mươi năm. Như thế Bourdieu cắt đứt với dân tộc học “sơ khai” của Đại học Alger, trong đó có những kẻ bảo vệ mạnh bạo hệ thống thực dân. Được tiến hành trong những điều kiện như vậy, các cuộc khảo sát này do đó thể hiện một đảo lộn kép: đảo lộn trong cách các “nhà đông phương học” lúc bấy giờ tư duy và trình bày đất nước Algérie, nhưng nhất là đảo lộn ngay cả quỹ đạo riêng của Bourdieu vì ông ngưng sự nghiệp triết gia của mình để chuyên tâm vào những đong đếm dân tộc học và mô tả chi tiết các chiến lược hôn nhân. Sự đảo lộn kép này là khởi nguồn của việc sáng tạo và hình thành của một cách tư duy mới thế giới xã hội. Trong số những nghiên cứu mà ông rút ra từ các công trình này, có thể phác họa hai hướng: hướng thứ nhất tập trung vào thời hiện tại với những cuộc khảo sát mở rộng ra những tập lớn (phỏng vấn và thống kê), trong lúc hướng thứ hai chọn hướng dài hạn với một địa bàn dân tộc học tạo điều kiện ưu tiên cho việc nghiên cứu những cấu trúc sâu, điều này cho phép đánh giá tốt hơn các hiệu ứng của một sự phân rã xã hội. Đất nước Algérie này mà đa số là nông dân (98% vào cuối thế kỉ XIX) đang phân rã và gánh chịu một sự thay đổi chóng mặt và một sự “đánh mất bản sắc dân tộc” một cách có hệ thống. Có một sự chuyển động hai chiều liên tục giữa hai thế giới. Chính nhờ các nông dân mất gốc trong các thành phố – vẫn giữ được các kiểu nhận thức về thời gian và không gian còn mang dấu ấn văn hóa nông dân – mà Bourdieu đã có thể thăm dò quá khứ văn hóa và nắm bắt những nền tảng nhân học của họ. Không nên đọc thực tiễn của xã hội học ở Algérie, như được ông quan niệm, theo từng mảnh nhưng như một tập có cấu trúc được đặt trong bối cảnh sản sinh ra nó, nơi mà những đóng góp khác nhau đáp ứng và bổ sung nhau. Trong số những công trình khác của ông về Algérie, còn có Le Déracinement, Algérie 60, và những bài viết tập hợp trong Esquisses algériennes, mà một số là khó tiếp cận như “Choc des civilisations” [PB 1959c] và “Logique interne de la société algérienne originelle” [PB 1959d], được Ban thư kí xã hội xuất bản ở Alger, hay còn có những đóng góp có liên hệ trực tiếp với thời sự: “Guerre et mutation sociale en Algérie” trong Études méditerranéennes [PB 1960a]; “Révolution dans la révolution” trong Esprit [PB 1961a]; và “De la Guerre révolutionnaire à la révolution” trong tác phẩm tập thể L’Algérie de demain do François Perroux chủ biên [PB 1962a].
Một mặt, đoạn tuyệt hoàn toàn với những phạm trù thống trị của một cách nhìn cổ điển của nghiên cứu trong khoa học xã hội và, mặt khác chủ nghĩa cấu trúc đang thời thượng, những công trình của Bourdieu đưa Algérie vào trong trường của nhân học và xã hội học. Mang dấu ấn của những bối cảnh sản xuất các cuộc khảo sát đầu tiên này, chúng sẽ được công bố sau ngày đất nước độc lập. Các đóng góp lớn này cho dân tộc học có trước những công trình – bắt đầu bằng “La maison kabyle ou le monde renversé” [PB 1970b] tới Esquisse d’une théorie de la pratique đến Sens pratique (1980) – trong đó Bourdieu giữ một khoảng cách phê phán để nghiên cứu những logic của thực tiễn rồi làm cho những nền tảng của kinh tế biểu tượng trở thành dễ hiểu. Đây là những công trình không thể né tránh đối với những nhà nghiên cứu Algérie và những ai tìm hiểu xã hội-dân tộc học vào một thời điểm quyết định của đất nước này.
Tassadit Yacine[*]
☛ ALGÉRIE 60, ANTHROPOLOGIE, CAPITALISME, CULTURE, DARBEL, DÉPOSSESSION, DÉRACINEMENT (LE), DOMINATION, ÉCOLE NORMALE SUPÉRIEURE, ÉCONOMIE, ENQUÊTE(S), ENTRETIEN(S), ESPACE, ESPRIT, ESQUISSE D’UNE THÉORIE DE LA PRATIQUE, ESQUISSE POUR UNE AUTO-ANALYSE, GUERRE D’ALGÉRIE, IMPOSITION, INSTITUT NATIONAL DE LA STATISTIQUE ET DES ÉTUDES ÉCONOMIQUES, KABYLIE, LOGIQUE(S), PAYSANNERIE, PERCEPTION, PRATIQUE, RÉVOLUTION, SENS PRATIQUE (LE), SOCIOLOGIE, SOCIOLOGIE DE L’ALGÉRIE, SOUS-PROLÉTAIRES, STATISTIQUES, STRATÉGIE(S), STRUCTURALISME, STRUCTURE(S), STYLE DE VIE, TEMPS, VISION DU MONDE
Thư mục
1958 [SA] Sociologie de l’Algérie, Paris, PUF, “Que sais-je”, rééd. 1960, 2001*.
1959c “Le choc des civilisations”, in Le Sous-développement en Algérie, Alger, Secrétariat social, p. 52-64.
1960a “Guerre et mutation sociale en Algérie”, Études méditerranéennes, no 7, p. 25-37.
1961a “Révolution dans la révolution”, Esprit, no 1, p. 27-40.
1962a “De la guerre révolutionnaire à la révolution”, in F. PERROUX (éd.), L’Algérie de demain. Étude présentée par François Perroux, Paris, PUF, p. 5-13.
1970b “La maison kabyle ou le monde renversé”, in J. POUILLON et P. MARANDA (éd.), Échanges et communications. Mélanges offerts à Claude Lévi-Strauss à l’occasion de son 60e anniversaire, Paris/La Haye, Mouton, p. 739-758.
1963 [TTA] Travail et travailleurs en Algérie (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.
1964 [DÉ] Le Déracinement. La crise de l’agriculture traditionnelle en Algérie (avec A. Sayad), Paris, Minuit.
1972 [ETP] Esquisse d’une théorie de la pratique. Précédée de trois études d’ethnologie kabyle, Genève, Droz, rééd. Paris, Seuil, “Points”, 2000.
1977 [A60] Algérie 60. Structures économiques et structures temporelles, Paris, Minuit.
1980 [SP] Le Sens pratique, Paris, Minuit.
2004 [EAU] Esquisse pour une auto-analyse, Paris, Raisons d’agir.
[PB 1970b] “La maison kabyle ou le monde renversé”, in J. POUILLON et P. MARANDA (éd.), Échanges et communications. Mélanges offerts à Claude Lévi-Strauss à l’occasion de son 60e anniversaire, Paris/La Haye, Mouton, p. 739-758.
* * *
GUERRE D’ALGÉRIE [Chiến tranh ALGÉRIE]
Trải nghiệm về cuộc chiến tranh giành độc lập của Algérie (1954-1962) để lại một trong những dấu ấn quan trọng nhất trong cuộc đời và sự nghiệp của Pierre Bourdieu. Trong bối cảnh cách mạng này, khi người Algérie quyết tâm dứt điểm một hệ thống thuộc địa cực kì bất bình đẳng, Bourdieu khởi đầu chuyển ngành sang xã hội học từ những cuộc điều tra trên thực địa về thế giới thuộc địa và những hiệu ứng của chủ nghĩa tư bản [Yacine 2003; Martin-Criado 2008; Goodman và Silverstein 2009; Pérez 2021].
Bourdieu bị động viên vào quân đội năm 1955. Do tinh thần “chống quân phiệt” và những quan điểm chống thực dân của ông, ông bị các sĩ quan cao cấp trừng phạt và, vào tháng tư năm 1956, chuyển ông sang Algérie để hoàn tất nghĩa vụ quân sự. Đầu tiên ông được giao giám sát sân bay Cheliff, trước khi nhận nhiệm vụ ở Phòng tư liệu và thông tin của chính quyền trung ương ở Alger. Tại đây, ông dịch các bài báo viết bằng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha về cuộc chiến tranh; ông cũng viết những báo cáo và phiếu về tình hình kinh tế và xã hội Algérie.
Sự tàn bạo của cuộc chiến tranh này gây sốc nặng cho Bourdieu. Ông thấy mình gần với những người mà ở Algérie được gọi là những “nhà tự do”, vốn trách các phương pháp và tư thế triệt để của FLN (Mặt trận giải phóng Algérie) nhưng không vì thế mà nhân nhượng với sự cần thiết phải đoạn tuyệt với chủ nghĩa thực dân [Pérez 2021]. Cường độ bạo lực lên cao sau các cuộc chiến ở thành phố Alger năm 1957, Bourdieu khó chấp nhận công việc của mình ở chính quyền trung ương, đi ngược chiều với các tư tưởng chính trị của ông. Ông càng thấy bối rối hơn trước những cuộc tranh luận trí thức ở Paris mà theo ông dường như tách biệt với thực tại ở Algérie. Trong một bức thư viết cho Lucien Bianco, người bạn đồng môn ở Trường sư phạm cao cấp, ông khẳng định là không thể chịu đựng hơn nữa đường hướng của những tay “cực đoan (ultra)” muốn giữ mãi “Algérie thuộc Pháp” bằng sức mạnh lẫn tu từ học chống thuộc địa hô hào sự kết thúc của một hệ thống mà không giải quyết những thảm họa sâu rộng nhân dân Algérie đang gánh chịu: “Ở đây tôi hiểu rằng rất nhiều tư tưởng mà mình từng mang theo là sai lầm, giản lược hay ngây thơ, rằng đạo lí của chúng ta, ít nhiều được thú nhận, không thể chấp nhận được khi đối mặt với các thực tế kinh khủng trên […]. Tôi bảo đảm với bạn là ta có một triết lí lịch sử kì lạ khi thấy tận mắt những ai làm nên lịch sử, và rằng những Hegel và ngay cả những Marx ở rất xa sự thật. Tất cả những điều này là khá xa lạ và khá tuyệt vọng” [thư viết mùa thu năm 1957, được trích dẫn trong Pérez 2021]. Trước khi kết thúc nghĩa vụ quân sự vào tháng 12 năm 1957, Bourdieu lao mình vào tìm hiểu, xa hơn cả chiến tranh, cái xã hội bị đảo lộn sâu rộng này. Ông tham khảo một khối tư liệu lịch sử và nhân chủng học về Algérie thuộc địa, tự bồi dưỡng qua những cuộc trao đổi với những chuyên gia khác nhau thuộc mọi bộ môn khoa học (trong số đó có André Nouschi, Jacques Berque, Émile Dermenghem hay Mouloud Feraoun) và đối chiếu họ với những quan điểm lấy cảm hứng từ Émile Durkheim hay từ thuyết văn hóa Mĩ lúc bấy giờ rất phổ biến trong nhân học. Kết quả là một tác phẩm sáng tạo về những cơ sở của xã hội truyền thống và vai trò của cuộc thuộc địa hóa trong sự tan rã của xã hội này [Sociologie de l’Algérie].
Trong bối cảnh này, xã hội học trở thành một công cụ nhận thức và đề kháng. Bourdieu theo đuổi sự phê phán có am hiểu của ông về tình hình thuộc địa và gác sang một bên dự án làm tiến sĩ triết học với Georges Canguilhem. Ông làm việc tại khoa ngữ văn Đại học Alger (1958-1960), viết vài bài khác nhau [PB 1959a; 1959b; 1959c] và chuẩn bị viết một tác phẩm cho Nhà xuất bản Minuit. Từ một phân tích tinh tế những kết quả của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa tư bản, ông chống lại những cách tiếp cận khoa học không tính đến nhũng điều kiện xã hội ở đầu nguồn của sự khốn quẫn và tình trạng cực kì bấp bênh của quần chúng Algérie [Esquisses algériennes]. Sự gặp gỡ và cộng tác ông thiết lập với học trò ông là Abdelmalek Sayad củng cố và nối dài những suy ngẫm đầu tiên này. Quan hệ anh em và trí tuệ này mở đường cho một chương trình nghiên cứu về trải nghiệm của một xã hội bị chấn động vì bạo lực [Sayad 1960; PB 1960a] và đối mặt với sự biến mất của một phương thức sống, kinh tế và xã hội. Nếu họ đồng ý với những tuyên ngôn và diễn đàn biết mấy cấp bách của các trí thức thiên tả chống sự tra tấn và chủ nghĩa thuộc địa, họ cho rằng cần có những cách khác hơn nữa. Họ đề xuất đi dọc khắp Algérie để hiểu những khó khăn mà quần chúng nước này đối mặt vì đại chúng sẽ không thoát khỏi sau khi có thể giành được độc lập.
Thông qua Association pour la recherche démographique, économique et sociale, Bourdieu và Sayad, cùng với một tập thể những nhà điều tra, cộng tác cùng các nhà thống kê của Institut national de la statistique et des études économiques, tiến hành một loạt nghiên cứu (1959-1963) về những tác động của các cuộc dịch chuyển nông dân vào trong các trại tập hợp, về sự thích nghi của các giai cấp với bình dân với các điều kiện cư trú hiện đại hay những biến đổi của quan hệ với lao động do sự đột nhập của một nền kinh tế hàng hóa [Travail et travailleurs en Algérie]. Các cuộc điều tra này dần dần hình thành một dự án tương đối sáng tạo trong các khoa học xã hội vào một thời điểm mà hiếm khi thấy những nhà xã hội học châu Âu nghiên cứu nhân học mô tả và cùng viết sách với người dân thuộc địa [Le Déracinement], khi mà hầu như không có công việc trên thực địa trong thời chiến và việc nhập môn thực tiễn nhân chủng học, bối cảnh bạo lực và những đặc điểm của xã hội thuộc địa này thúc đẩy họ xã hội hóa các vị thế nhà điều tra và những công cụ phân tích của mình; và khi mà sự cộng tác liên ngành (giữa các nhà thống kê, sử gia, nhân học, nhà văn và nhà hoạt động) mở ra triển vọng nghiên cứu các quan hệ thống trị và thứ bậc xã hội cấu trúc nên xã hội. Kết quả của các cuộc điều tra này luôn được đối chiếu cũng như tư duy cùng với những quan sát tiến hành song song về cuộc khủng hoảng nông dân của vùng Béarn [PB 1962b; Wacquant 2004]. Các cuộc điều tra về trải nghiệm của nông dân và vô sản cấp dưới ở thành thị bị chìm trong một nền kinh tế mới mà không có những điều kiện để “thích nghi”, cung cấp một cái nhìn am hiểu về khả năng của họ để làm chủ hiện tại và dự phóng mình vào tương lai. Công trình này về những ước vọng khả dĩ của người Algérie cũng cho phép các tác giả trên tự đặt mình trong cuộc tranh luận nóng hổi thời bấy giờ về các năng lực cách mạng của nông dân và vô sản trong bối cảnh giải thực dân này [PB 1961a; 1962a; 1962c].
Trải nghiệm lịch sử này trong thời chiến có một vai trò cơ bản trong khuôn khổ phân tích lí thuyết thực tiễn sau này được Bourdieu xây dựng [Esquisse d’une théorie de la pratique; Le Sens pratique]. Nó cũng định hình một cách thực hành xã hội học phản tư, liên ngành và có tính tập thể sẽ được triển khai tại Centre de sociologie européenne. Cuối cùng, không thể hiểu việc phân tích các quan hệ thống trị được Bourdieu tiến hành ở Pháp mà minh chứng là những công trình của ông về các bất bình đẳng xã hội hay các nỗi đau khổ xã hội [PB 1966; PB 1993], về xã hội học kinh tế [PB 2000; 2017], quan hệ giữa các giới [PB 1998] hay Nhà nước [Poupeau 2018] nếu không có trải nghiệm nghiên cứu trên trong một thời mà bạo lực được thực thi một cách hiển nhiên và xảo trá đến thế.
Amín Pérez
Giáo sư xã hội học Đại học Québec Montréal
GO J., 2016, Postcolonial thought and social
theory, New York, Oxford University
Press. – SAYAD A., 1960, “Les libéraux, un pont
entre les deux communautés”, Études
méditerranéennes, no
7, p. 43-50.
☛ ALGÉRIE, ALGÉRIE 60, ANTHROPOLOGIE, BÉARN, CANGUILHEM, CAPITALISME, CENTRE DE SOCIOLOGIE EUROPÉENNE, CLASSES POPULAIRES, CRISE, DÉRACINEMENT (LE), DOMINATION, DURKHEIM, ÉCONOMIE, ENQUÊTE(S), ESQUISSE D’UNE THÉORIE DE LA PRATIQUE, ÉTAT, FERAOUN, GENRE, HIÉRARCHIE, HISTORIENS, INSTITUT NATIONAL DE LA STATISTIQUE ET DES ÉTUDES ÉCONOMIQUES, INTELLECTUEL(S), MINUIT, OBSERVATION(S), PAYSANNERIE, PRATIQUE, RÉFLEXIVITÉ, RÉVOLUTION, SAYAD, SENS PRATIQUE (LE), SOCIOLOGIE DE L’ALGÉRIE, SOUS-PROLÉTAIRES, TRAVAIL, TRAVAIL ET TRAVAILLEURS EN ALGÉRIE.
Thư mục
1963 [TtA] Travail et travailleurs en Algérie (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.
1964 [DÉ] Le Déracinement. La crise de l’agriculture traditionnelle en Algérie (avec A. Sayad), Paris, Minuit.
1966 [LPB] Le partage des bénéfices (avec A. Darbel), Paris, Minuit.
1993 [MM] La Misère du monde (et al.), Paris, Seuil, rééd. “Points”, 1998.
2000 [PCP] Propos sur le champ politique, introduction de P. Fritsch, Lyon, Presses universitaires de Lyon
2017 [AE] Anthropologie économique. Cours au Collège de France, 1992-1993, éd. établie par P. Champagne et J. Duval, avec la collaboration de F. Poupeau et M.-C. Rivière; postface de R. Boyer, Paris, Raisons d’agir/Seuil.
SILVERSTEIN P. et J. GOODMAN (dir.), 2009, Bourdieu in Algeria. Colonial politics, ethnographic practises theoretical developments, Lincoln/Londres, University of Nebraska Press.
MARTÍN-CRIADO E., 2008, Les Deux Algéries de Pierre Bourdieu, Bellecombe-en-Bauges, Le Croquant.
PÉREZ A., 2021, Combattre en sociologues. Pierre Bourdieu et Abdelmalek Sayad dans la guerre de libération algérienne, Marseille, Agone.
YACINE T. (dir.), 2003, “L’autre Bourdieu. Celui qui ne disait pas ce qu’il avait envie de cacher”, Awal. Cahiers d’études berbères, no 27-28.
Wacquant L., 2004, “Following Pierre Bourdieu into the field”, Ethnography, vol. 5, no 4, p. 387-414.
[PB 1961a] “Révolution dans la révolution”, Esprit, no 1, p. 27-40.
[PB 1962a] “Révolution dans la révolution”, Esprit, no 1, p. 27-40.
[PB 1962b] “Célibat et condition paysanne”, Études rurales, no 5-6, p. 32-136.
[PB 1962c] “Les relations entre les sexes dans la société paysanne”, Les Temps Modernes, noo 195, p. 307-331.
* * *
SOCIOLOGIE DE L’ALGÉRIE [XÃ HỘI HỌC VỀ ALGÉRIE]
![]() |
Ra mắt trong tủ sách “Que sais-je?” của NXB Presses universitaires de France, cuốn sách 128 trang này được dịch sang tiếng Ạnh ngay năm 1960 là cấu trúc nền của các nghiên cứu mà Pierre Bourdieu đã tiến hành về Algérie. Lúc bấy giờ bị thiểu số thống trị ở Algérie phê phán mạnh, tác phẩm Sociologie de l’Algérie đã được tái bản nhiều lần, với những thay đổi của chính tác giả (không còn vết tích của chương nguyên thủy về tôn giáo trong các phiên bản sau này).
Tác phẩm có sáu chương. Chúng giới thiệu người Kabyle, người Chaouia, người Mozabyte, người nói tiếng Ả rập, đề cập cái vốn chung và sự tha hóa, mô tả kính vạn hoa của những cách nói, thực tiễn văn hóa và phong cách sống (người miền núi, người du mục nửa du mục, người thành thị, v.v.). Đặc biệt bị ấn tượng nặng của dân tộc học Mỹ [Silverstein et Goodman 2009], chắc chắn giúp ông tư duy “tính đặc thù” của “tình thế thuộc địa” và tìm thấy lại các “sự thống nhất văn hóa” [SA: 6-10] đằng sau cái kính vạn hoa của của các phong cách sống. Đặc thù này cho phép tránh việc tự nhiên hóa mà nhân loại học thuộc địa Pháp lúc bấy giờ tiến hành: “Ở Maghreb không có thế giới đóng và, từ đó, là thuần túy và nguyên vẹn: “không có nhóm cô lập, tự khép kín nào mà không tư duy, tự đánh giá mà không quy chiếu về các mô hình xa lạ” [SA: 8]
Trong một đất nước bị những đối kháng xã hội và chiến tranh giằng xé, Bourdieu phân tích sự lồng vào nhau của những đơn vị xã hội theo những vòng tròn đồng tâm, tiến hóa từ những vòng tròn nhỏ nhất đến lớn nhất và làm rõ những mối liên hệ giữa tính thống nhất và tính đa dạng, tính liên tục và tính phân mảnh. Một mặt ông chỉ ra, một mặt, trong cuộc xung đột tầm quan trọng của việc “bán buôn danh dự” [SA: 13] nhờ cuộc chơi “đồng nhất hóa và giấu diếm” và mặt khác, các cuộc chiến đấu thông thường gắn liền với chiến tranh, bộc lộ một triết lý xã hội bị che giấu sau một tổ chức nhị nguyên bảo đảm sự hài hòa: “các lực lượng đối lập nhau, dàn xếp với nhau, bổ sung nhau” [SA: 18]. Bourdieu nhấn mạnh đến “tính bất biến của những cấu trúc xã hội” do chế độ phụ quyền xác định: “Ở mọi nơi hệ thống xã hội được quan niệm thể theo mô hình gia phả vốn, ít ra là một cách lí tưởng, cho phép các nhóm bị phân nhánh và phân tán cùng tìm thấy những tổ tiên chung” [SA: 89]. Hơn nữa những nền tảng cấu trúc giữ vị trí trung tâm trong tác phẩm, tác giả báo trước những đối tượng mà ông sẽ suy nghĩ sau này: việc làm, các sự biến đổi, sự đánh mất văn hóa trong mối quan hệ với sự “lây lan văn hóa”, danh dự, các cấu trúc kinh tế và các cấu trúc thời gian, quan hệ họ hàng, các logic của thực tiễn. Đó là bấy nhiêu nét báo trước một cách gián tiếp các khái niệm cơ bản của ông, sẽ được phát triển rộng hơn trong hai tác phẩm Esquisse d’une théorie de la pratique (1972) rồi trong Le Sens pratique (1980). Ông tiếp tục nghiên cứu đầu tiên này với những cuộc điều tra sẽ cho ra đời những bài viết [được tập hợp trong Esquisses algériennes] và hai tác phẩm [Travail et travailleurs en Algérie; Algérie 60].
Tassadit Yacine[*]
☛ ALGÉRIE, ALGÉRIE 60, ANTHROPOLOGIE, CULTURE, ÉCONOMIE, ESQUISSE D’UNE THÉORIE DE LA PRATIQUE, GUERRE D’ALGÉRIE, HONNEUR, KABYLIE, PRATIQUE, SENS PRATIQUE (LE), STRUCTURE(S), STYLE DE VIE, TEMPS, TRAVAIL ET TRAVAILLEURS EN ALGÉRIE
Thư mục
1958 [SA] Sociologie de l’Algérie, Paris, PUF, “Que sais-je”, rééd. 1960, 2001*
1977 [A60] Algérie 60. Structures économiques et structures temporelles, Paris, Minuit.
1960 [TTA] Travail et travailleurs en Algérie, (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.
1972 [ETP] Esquisse d’une théorie de la pratique. Précédée de trois études d’ethnologie kabyle, Genève, Droz, rééd. Paris, Seuil, “Points”, 2000.
1980 [SP] Le Sens pratique, Paris, Minuit, rééd. 1989.
2008 [EA] Esquisses algériennes, Paris, Seuil.
* * *
COMITÉ INTERNATIONAL DE SOUTIEN AUX INTELLECTUELS ALGÉRIENS (CISIA) [ỦY BAN QUỐC TẾ HỖ TRỢ CÁC TRÍ THỨC ALGÉRIE]
Ủy ban quốc tế các trí thức École des hautes études en sciences sociales (CISIA) được thành lập tại Paris ngày 17 tháng sáu năm 1993. Tiếp sau một cuộc gặp gỡ tổ chức tại École des hautes études en sciences sociales về vấn đề Algérie, một số nhà nữ nghiên cứu có mặt (Fanny Colonna, Zakya Daoud, Catherine Lévy, Marie Virolle) đã quyết định mời gọi Pierre Bourdieu làm chủ tịch tổ chức này, vị trí mà ông đã giữ cho đến năm 1997. Chính xác hơn ông lãnh đạo “CISIA International”, một hiệp hội theo luật năm 1901, phối hợp hoạt động của các CISIA quốc gia (và các cùng ở Pháp) mà thành viên quan trọng nhất là CISIA France do nhà nghiên cứu Jean Leca chủ trì. Hội đồng quản trị còn có những tên tuổi lớn khác như Étienne Balibar, Jacques Derrida ou Mohamed Harbi.
Giống như Parlement international des écrivains/Quốc hội quốc tế các nhà văn mà Bourdieu đã tham gia ngay từ lúc thành lập, sáng kiến này ra đời từ cú sốc mà việc ám sát nhiều trí thức Algérie, được gán cho những người theo đạo Hồi gây nên, và đặc biệt là việc sát hai nhà báo và nhà văn Tahar Djaout (15 tháng năm năm 1993), nhà phân tâm học Mahfoud Boucebsi (15 tháng sáu năm 1993), rồi nhà xã hội học Mohamed Boukhobza (22 tháng sáu năm 1993), người từng là môn đồ của Bourdieu.
Trong bản “Charte/Hiến chương” phổ biến cho báo chí ngày 1 tháng giêng năm 1993, CISIA, nối bước các “comités/ủy ban” thời chiến tranh giành độc lập của Algérie, đảm nhận nhiều sứ mệnh. Trước tiên là tìm hiểu và thông tin cho dư luận Pháp về tình hình chính trị ở Algérie, và đặc biệt là tình hình của các nhà trí thức. CISIA cũng muốn “làm cho nền văn hóa sống động của Algérie được hiển lộ”: tổ chức này xuất bản La Lettre du CISIA/Bức thư của CISIA (ba số), rồi hỗ trợ báo Alternatives algériennes (hai số). Ủy ban cũng tổ chức những cuộc biểu tình đoàn kết lớn, như tại đại học Sorbonne ngày 7 tháng hai năm 1994, tại đó Bourdieu đã kêu gọi thành lập ở Algérie một “Parti de la paix civile/Đảng vì hòa bình dân sự” [Interventions: 311-314]. Sự dấn thân chính trị này về tình hình ở Algérie không phải là không tiềm ẩn rủi ro, và tư liệu của Bourdieu cho thấy là ông đã nhận nhiều lời đe dọa đến sinh mạng.
Trọng tâm hoạt động của CISIA nhanh chóng chuyển sang việc trợ giúp cụ thể các nhà trí thức Algérie để họ có thể lưu trú ở Pháp. Đặt trụ sở tại Maison des écrivains/Ngôi nhà các nhà văn, phố Verneuil, một ê-kíp thay phiên nhau giúp đỡ các nhà trí thức (bác sĩ, nhà báo, giảng viên đại học …) nhằm có được chỗ ở, việc làm, và nhất là giấy tờ hành chính, đôi lúc trong thế cấp bách đối với những ai không có khả năng hưởng quy chế tị nạn chính trị (chỉ dành cho những ai bị Nhà nước họ đe dọa, chứ không cho những ai bị các các nhóm khủng bố đe dọa).
Thật vậy, một trong những vai trò chính của Bourdieu với tư cách chủ tịch CISIA là lên tiếng về các chính sách hạn chế chiếu khán trên báo chí và kí tên vào các kiến nghị về vấn đề này. Chẳng hạn, trên nhật báo Le Monde, sau khi diễn đàn “Non-assistance à personne à danger/Không trợ giúp người bị nguy hiểm” của Bourdieu, Derrida và Sami Naïr ngày 29 tháng mười hai năm 1994, được xuất bản, các tác giả trên tố cáo các “luật ngụy trang về chủng tộc” [I: 315-316], Jean-Claude Barreau, cố vấn của Bộ trưởng bộ nội vụ, lên án “các nhà trí thức thiếu chặt chẽ” (6 tháng giêng năm 1995), và đến lượt Bourdieu và Derrida đáp trả (“M. Pasqua, son conseiller et les étrangers; Ông Pasqua, cố vấn của ông và người nước ngoài”, 10 tháng giêng năm 1995 [I: 317-318]). Ngày 3 tháng chín năm 1997, ít lâu sau khi chính phủ của Đảng xã hội được thành lập, Bourdieu cùng với Étienne Balibar, Catherine Lévy, Madeleine Rebérioux, Benjamin Stora và Pierre Vidal-Naquet, kí tên trên tờ Le Monde diễn đàn “Des visas pour les Algériens/Chiếu khán cho người Algérie”: vài tháng sau, Bộ trưởng bộ nội vụ Jean-Pierre Chevènement đơn giản hóa một số thủ tục cấp chiếu khán lưu trú bằng việc thiết lập quy chế “asile territorial/trú ẩn lãnh thổ”. Rộng hơn, cam kết này là cơ hội để Bourdieu đào sâu suy nghĩ của ông về quá khứ của sự thuộc địa hóa và sự hội nhập thiểu số người Hồi giáo ở Pháp (“Dévoiler et divulguer/Phát lộ điều ẩn ức bị đè nén”, tại hội thảo “Algérie-France-Islam” do Frankreich-Zentrum thuộc đại học Freiburg tổ chức ngày 27 tháng mười năm 1995) [I: 321-325].
Tristan Leperlier
Nhà nghiên cứu CNRS (Thalim)
☛ ALGÉRIE, ÉCOLE DES HAUTES ÉTUDES EN SCIENCES SOCIALES, DERRIDA, GUERRE D’ALGÉRIE, INTELLECTUEL(S), MONDE (LE), PARLEMENT INTERNATIONAL DES ÉCRIVAINS
Thư mục
2002 [I] Interventions, 1961-2001. Science sociale et action politique, Marseille, Agone.
Nguyễn Đôn Phước dịch
Nguồn: Dictionnaire international Bourdieu, Paris, CNRS Éditions, 2000.
Chú thích: [*]
Là nhà nhân học và là nhà nghiên cứu/giảng dạy người Algérie, chuyên về nền văn hóa Berbère, bà Tassadit Yacine hiện là Giám đốc nghiên cứu tại Trường Cao học Khoa học Xã hội (EHESS) và thành viên của Phòng thí nghiệm Nhân chủng học Xã hội. Bà cũng điều hành tạp chí nghiên cứu về văn hóa Berbère Awal/Lời nói, được thành lập năm 1985 tại Paris cùng với nhà nhân chủng học người Algérie Mouloud Mammeri và với sự hỗ trợ của nhà xã hội học Pierre Bourdieu.






