250 NĂM CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC MỸ
Ngày 2 tháng 7 năm 2026
Mặc dù diễn ngôn kinh tế thịnh hành ở Hoa Kỳ thường ca ngợi thị trường tự do, việc hoạch định chính sách trong thực tế lại luôn thực dụng hơn. Ngay từ khi thành lập, Hoa Kỳ đã áp dụng mô hình lai, trong đó nhà nước định hướng, trợ cấp và đôi khi giải cứu doanh nghiệp tư nhân nhằm phục vụ các ưu tiên quốc gia.
NEW YORK—Khi Hoa Kỳ kỷ niệm
250 năm ngày ký Tuyên ngôn Độc lập vào mùa hè này cũng
là lúc thích hợp hơn cả để đối mặt với một trong những lầm tưởng lớn
của đời sống kinh tế Mỹ: rằng sự thịnh vượng của đất nước được xây dựng trên chủ
nghĩa tư bản tự do kinh doanh (laissez-faire). Ngay từ ngày đầu lập nước, Hoa Kỳ đã áp dụng mô hình lai ghép, trong đó nhà
nước định hướng, trợ cấp và
đôi khi giải cứu doanh nghiệp
tư nhân để phục vụ các ưu tiên quốc gia. Mặc dù diễn ngôn thịnh hành thường ca ngợi thị trường tự do, nhưng việc hoạch định chính sách lại mang
tính thực dụng hơn.
Câu chuyện này không bắt đầu từ chương trình chăm sóc sức khỏe của Barack Obama, hay thậm chí là Chính sách Kinh tế mới (New Deal) của Franklin D. Roosevelt vào những năm 1930, mà khởi nguồn từ chính quyền đầu tiên của Hoa Kỳ, dưới thời George Washington. Năm 1791, Bộ trưởng Tài chính Alexander Hamilton đã trình lên Quốc hội một văn kiện được cho là tài liệu chính phủ đầu tiên trong lịch sử thế giới trình bày một lập luận có hệ thống, có cơ sở lý luận cho chính sách công nghiệp. Trong Báo cáo về Công nghiệp chế tạo (Report on Manufactures), ông lưu ý rằng các ngành công nghiệp non trẻ ở Hoa Kỳ, đặc biệt là dệt may, không thể cạnh tranh hiệu quả với các nhà sản xuất lâu đời của Anh nếu không có sự bảo hộ của chính phủ. Ông đề xuất sử dụng thuế quan và trợ cấp để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp của tương lai.
Hamilton đã thất bại trong trận đánh ngay trước mắt khi
mà Quốc hội, vốn vẫn còn tư tưởng trọng
nông, đã gác lại bản báo cáo.
Nhưng cuối cùng ông đã thắng cả cuộc chiến, bởi những ý tưởng của ông đã định hình chính sách kinh tế của Mỹ
trong thế kỷ tiếp theo. "Hệ thống Mỹ" của Henry Clay, cùng với thuế
quan bảo hộ giúp công nghiệp hóa miền Bắc và các đợt cấp đất của liên bang để xây dựng đường sắt xuyên lục
địa, đều mang dấu ấn trí tuệ của Hamilton. Hóa ra, chính sách công nghiệp chẳng
hề ra đời ở Brussels, Bắc
Kinh, Tokyo hay Moscow.
Chủ nghĩa thực dụng thuở đầu này chưa bao giờ biến mất. Trong suốt thế kỷ 20, Chiến tranh Lạnh đã rèn
giũa tổ hợp công nghiệp-quân sự. DARPA phát minh ra internet, NASA
phát triển và sau đó chuyển giao những công nghệ đã định hình
toàn bộ các ngành công nghiệp, và các hợp đồng mua sắm của liên bang giúp duy trì các ngành hàng không vũ trụ cũng
như bán dẫn của Mỹ trong nhiều thập
kỷ. Hệ thống đường cao tốc liên tiểu bang, được xây dựng dưới thời Dwight Eisenhower, không chỉ là một trong những
khoản đầu tư cơ sở hạ tầng lớn nhất trong lịch sử; mà còn là khoản trợ cấp liên bang mang tính quyết định cho ngành công nghiệp ô tô. Và
khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 xảy ra, chính phủ đã mua cổ phần trong các ngân hàng và nhà sản xuất
ô tô, một lần nữa bất chấp
nguyên tắc thị trường tự do.
Tuy nhiên, lầm tưởng về
nước Mỹ tự do kinh doanh đã chứng
tỏ sức sống bền bỉ đáng kinh ngạc, gần như trở thành một kiểu tôn giáo quốc gia, ngay cả khi thực tiễn chệch
xa với tín điều ấy. Hơn nữa, chính
tư tưởng chính thống đó, được thúc đẩy thông qua Ngân hàng Thế giới và USAID do
Mỹ chi phối, đôi khi lại trở thành rào cản đối với sự phát triển kinh tế thực
tiễn ở các quốc gia khác.
Trong bài nghiên cứu gần đây, “Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia chủ động trong
chính sách công nghiệp”,
Jiandong Ju, Yuankun Li và tôi đã ghi lại khoảng cách giữa lời hùng biện và thực
tế này. Chúng tôi phân tích một
cách có hệ thống tất cả 12.167 đạo luật của Quốc hội và 6.030 sắc lệnh của Tổng
thống được ban hành từ năm 1973 đến năm 2022, sử dụng các mô hình ngôn ngữ lớn
(LLM) để xác định các chính sách cố
tình làm thay đổi cấu trúc
kinh tế chệch khỏi đầu ra của (thị trường) tự do kinh doanh. Kết quả rất đáng chú ý.
Chúng tôi đã xác định được 267 đạo luật của Quốc hội và 187 sắc lệnh của Tổng
thống chứa các chính sách
công nghiệp mới đáng kể. Điều
đó có nghĩa là trung bình có hơn chín chỉ thị chính sách công nghiệp mới mỗi năm trong suốt nửa thế kỷ,
và xu hướng này vẫn đúng bất kể đảng nào kiểm soát Nhà Trắng hay Quốc hội. Mỗi
tổng thống từ Richard Nixon đến Joe Biden đều ban hành các chính sách công nghiệp mới. Sự
khác biệt giữa hai đảng chỉ là về mức độ, chứ không phải về bản chất.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng phát hiện ra một số đặc điểm thú vị của các
chính sách công nghiệp của Hoa Kỳ. Ví dụ, chúng tôi nhận thấy rằng các nhà hoạch
định chính sách Mỹ từ trước đến nay luôn xây dựng cơ chế bảo vệ trong các can thiệp kinh tế. Khoảng 59% tất
cả các luật và sắc lệnh về chính sách công nghiệp đều có ngày hết hạn rõ ràng,
với thời hạn trung bình khoảng bốn năm. Nhiều văn bản được xây dựng rõ ràng như các chương trình thí điểm—các
thử nghiệm có thể bị chấm dứt nếu thất bại. Một số bao gồm các điều kiện kích
hoạt: ví dụ, ưu đãi mua sắm “Mua
hàng Mỹ” chỉ áp dụng nếu giá trong nước không cao hơn 125% giá thị trường quốc
tế. Nếu tổn thất từ sự phi hiệu quả này trở nên quá lớn, khoản trợ cấp sẽ hết hiệu lực.
Khi nước Mỹ bước sang tuổi 250, xu hướng đã nghiêng lại về phía chủ nghĩa tư bản nhà nước một cách
rõ rệt. Đạo luật CHIPS và Khoa học, Đạo luật Giảm lạm phát, và các mức thuế
quan mạnh tay được cả Tổng thống
Donald Trump và Biden áp dụng không phải là những thay đổi lớn về chất so với
truyền thống của Mỹ.
Nhưng cuộc tranh luận hiện nay—giữa những người cho rằng chủ nghĩa xã hội đang âm thầm xâm
nhập và những người đòi hỏi phân phối
lợi ích công bằng hơn—có nguy
cơ bỏ qua sự tiếp nối lâu đời
hơn. Hoa Kỳ chưa bao giờ là một nền
kinh tế tự do kinh doanh thuần túy. Ngay từ đầu, đó đã là một quốc gia sẵn sàng sử dụng quyền lực của mình một
cách chiến lược trước điều mà
họ coi là thất bại của (mô hình) tự do kinh doanh, đồng thời
duy trì một khu vực tư nhân cạnh tranh như động lực của tăng trưởng và đổi mới.
Bí quyết thực sự cho sự thành công kinh tế của Mỹ trong 250 năm qua không
phải là sự cam kết giáo điều với thị trường hay với nhà nước. Đó là sự sẵn sàng
vận dụng cả hai một
cách thực dụng. Khi đất nước hướng tới
tương lai, chủ nghĩa thực dụng đó có thể là một trong những di sản quan trọng
nhất của quốc gia này.
![]() |
| Shang-Jin Wei |
Đã viết tổng cộng 79 bài bình luận cho PS từ năm 2015.
Shang-Jin Wei, cựu kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển Châu Á, hiện là
Giáo sư Tài chính và Kinh tế tại Trường Kinh doanh Columbia và Trường Quan hệ
Quốc tế và Chính sách công
thuộc Đại học Columbia.
Huỳnh Thị Thanh Trúc
dịch
Nguồn: 250
Years of American State Capitalism by Shang-Jin Wei, Project Syndicate,
Jul 2, 2026.
