9.7.26

Cách đây 250 năm, Hoa Kỳ đã tuyên bố độc lập

CÁCH ĐÂY 250 NĂM, HOA KỲ ĐÃ TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP

Ngày 4 tháng 7 năm 1776, 13 thuộc địa bên bờ Đại Tây Dương tuyên bố độc lập, sau hơn mười năm chiến đấu chống lại các thuế thương mại áp đặt bởi Vương quyền Anh Quốc.

Công bố ngày 4 tháng 7 – 2026

Tác giả: Gérard Vindt

Giáo sư thạc sĩ, tiến sĩ lịch sử

Sự ra đời của lá cờ, tranh của Henry Mosler (1841-1920). 13 dải đỏ và trắng tượng trưng cho 13 thuộc địa sáng lập. © Getty Images

“Chúng tôi, những đại biểu của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, họp Đại hội toàn thể, khẩn cầu Đấng Phán xét Tối cao của vũ trụ chứng giám cho sự ngay chính trong ý định của chúng tôi, nhân danh và với thẩm quyền của nhân dân lương thiện ở các Thuộc địa này, long trọng tuyên bố rằng: các Thuộc địa Liên hiệp này là, và có quyền là những Quốc gia tự do và độc lập; rằng các thuộc địa ấy được giải phóng khỏi mọi sự thần phục đối với Vương quyền Anh quốc.” Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Hoa Kỳ tuyên bố độc lập.

Tuyên ngôn bắt đầu bằng câu: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng; rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”, nhưng tuyên ngôn này chỉ dành cho “nhân dân lương thiện”, nghĩa là những người đàn ông da trắng (phụ nữ không được hưởng những quyền này).

Những thuộc địa thịnh vượng

Các “Thuộc địa liên hiệp” này là gì? Năm 1776, lãnh thổ của 13 Thuộc địa có 2,5 triệu dân gốc châu Âu, trong đó 80% là gốc Anh và các nhóm thiểu số chính gốc Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Pháp (ít hơn). Hầu hết, 99% theo đạo Tin Lành thuộc nhiều phái khác nhau. Nhưng không phải chỉ có họ: 500.000 nô lệ châu Phi và con cháu của họ, phần lớn bị lưu đày đến đây vào thế kỷ XVIII cũng sống ở đó, 80% trong số họ sống ở các tiểu bang phía Nam (Virginia, Carolines, Maryland, Georgia), cũng như khoảng 2 triệu người Da đỏ bản địa, được phân bố trên toàn lãnh thổ của Hoa Kỳ hiện nay.

Như vậy 13 Thuộc địa chỉ chiếm phần phía đông, giữa dãy núi Appalaches và Đại Tây Dương, từ Massachusetts ở phía Bắc đến Georgia ở phía nam, với một vài nơi lấn qua khỏi dãy Appalaches, nơi mà vua George III của nước Anh, vào năm 1763 ấn định là ranh giới không được vượt qua.

Bản đồ 13 Thuộc địa vào năm 1776

1763 là năm thường được ghi nhận nhất để đánh dấu sự bất bình gia tăng dẫn đến Tuyên bố độc lập, đến cuộc chiến tranh công khai và sự công nhận nền độc lập này bởi Anh Quốc năm 1783 rồi đến việc thông qua Hiến pháp năm 1787.

Tất nhiên, kể từ cuộc Chiến tranh Bảy năm chống lại Pháp (1756-1763), mà ở Mỹ người ta gọi là “chiến tranh chống lại người Pháp và người Da Đỏ”, Vương quyền Anh Quốc đã có thể kiểm chứng lòng trung thành của các thần dân người Mỹ vui mừng được Vương quyền bảo vệ. Nhưng Vương quyền cũng đã nhận thấy sự năng động nhân khẩu cũng như sự giàu có của các thuộc địa của họ.

Biến động nhân khẩu gây ấn tượng mạnh, chủ yếu do gia tăng tự nhiên. Dân số da trắng các thuộc địa tăng gấp đôi từ năm 1750. Khả năng sinh sản cao. Đất đai không thiếu tại các thuộc địa này phần lớn sống về nông nghiệp, hiện trạng này tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng trẻ định cư và nuôi dưỡng một gia đình đông con. Con cái được xem là phước lành đối với những cư dân rất sùng đạo này.

Một nhân tố khác của sự năng động, tử suất thấp hơn châu Âu chắc hẳn liên quan đến các điều kiện sống tốt hơn và một mật độ dân số thấp hơn, điều này hạn chế bớt tác động của các nạn dịch: 9 trên 10 người Mỹ sống ở nông thôn, còn Philadelphia, thành phố đông dân nhất chỉ có 35.000 dân.

Một tầng lớp tư sản gắn bó với Vương Quốc

Đất đai dồi dào, diện tích trung bình của một nông trại là 40 hecta, nhưng cũng có những nông trại rất rộng lớn, như ở Virginia chẳng hạn. Một tầng lớp đại điền chủ tách ra, và được đại diện bởi những thành phần tinh hoa chủ trương độc lập. George Washington, năm 1773, sở hữu 4.000 hecta trong thung lũng Ohio có nô lệ trồng trọt.

Nhưng nhất là ở phía Nam vốn có những đồn điền lớn sử dụng nô lệ, trồng thuốc lá ở Virginia và Maryland, xa hơn nữa ở miền Nam thì trồng lúa và cây chàm (indigo). Các sản phẩm xuất khẩu này, chủ yếu là sang Anh Quốc, đem lại tiền bạc, nhưng chính miền Bắc, vựa lúa của Mỹ, mới nuôi sống các thuộc địa: các sản phẩm canh tác chính là bắp, lúa mì, lúa mạch đen, nhưng người ta cũng trồng đại mạch và yến mạch cũng như trái cây, rau củ.

Anh Quốc là một thị trường được bảo đảm, không có cạnh tranh đối với nhiều sản phẩm

Tất nhiên, Anh Quốc – dưới áp lực của chính sách trọng thương – bắt buộc người Mỹ vận chuyển hàng hóa của họ trên những con tàu của Anh Quốc, buộc họ phải mua các sản phẩm chế tạo của Anh, tìm mọi cách ngăn cản mọi sự phát triển sản xuất có thể cạnh tranh với các nhà kỹ nghệ và thủ công nghiệp của Anh. Nhưng, từ thực tế đó, nước Anh trở thành một thị trường được bảo đảm, không có cạnh tranh đối với nhiều sản phẩm. Một số sản phẩm, như cây chàm, còn được mẫu quốc tài trợ. Hàng hải Anh Quốc chuyển đơn đặt hàng cho các xưởng đóng tàu Mỹ.

Tóm lại, sự thịnh vượng của Mỹ dựa một phần vào sự hội nhập và vào sự bảo vệ của Đế Quốc Anh, tầng lớp tư sản các thuộc địa không sẵn sàng từ bỏ những lợi thế này.

1763, bước ngoặt

Tất cả xảy ra vào cuối Chiến tranh Bảy năm. Vương quyền Anh ra khỏi cuộc chiến với một món nợ ước tính từ 130 đến 160% tổng sản phẩm nội địa vào thời đó. Anh Quốc đã bảo vệ các thuộc địa chống lại các ý đồ của Pháp và sự xâm nhập của người Da đỏ. Thế là các thuộc địa giàu có phải tham gia vào việc khôi phục kinh tế, phía Anh Quốc ở Luân Đôn nhận định như vậy. Nhưng về phía các thuộc địa, họ mong muốn tiếp tục làm giàu với sự che chở của Đế quốc Anh, mà không phải trả giá cho an ninh.

Ở Luân Đôn người ta xem người Mỹ là những công dân của Anh và từ sự việc đó họ phải tuân lệnh nhà vua. Đó là không tính đến khát vọng tự do của họ, thường là nguyên nhân của sự di cư của họ đến châu Mỹ, và thói quen tự trị rất mạnh mẽ của họ.

Các biện pháp khác nhau mà Vương quyền áp dụng, trong lĩnh vực chính trị cũng như kinh tế từ đó gây ra những phản ứng ngày càng mạnh mẽ về phía dân thuộc địa, những người lãnh đạo chính trị và kinh tế và cả những thành phần khiêm tốn hơn như nông dân, người buôn bán, thợ thủ công, ví dụ như thợ kim hoàn Paul Revere, một trong những người thúc đẩy tổ chức Những người con của tự do (Sons of Liberty), nổi bật với những đòn tấn công chống lại người Anh.

Người Anh hành động để đưa vào khuôn phép đám đông nổi loạn này. Biện pháp đầu tiên được áp dụng ngay từ năm 1763 là cấm cư dân thuộc địa vượt quá dãy núi Appalaches và cấm gây ra những xung đột với người Da đỏ bản địa, điều mà Vương quyền muốn tránh. Năm 1764, Đạo luật Đường (Sugar Act) có mục đích thực hiện một sự kiểm soát chặt chẽ đối với việc nhập khẩu mật mía từ Antilles, phần lớn là nhập khẩu lậu. Năm 1765, Đạo luật Tem thuế (Stamp Act) đã châm ngòi thuốc súng: đó là áp dụng trên toàn thể các thuộc địa một tem thuế vốn đã tồn tại ở Anh Quốc đối với mọi loại văn bản chứng từ công cộng (hóa đơn, hợp đồng, những đơn từ yêu cầu khác nhau, v.v.).

Bắt đầu hình thành ở Mỹ niềm tin rằng Vương quyền muốn bóp nghẹt mọi tự do

Bắt đầu hình thành ở Mỹ niềm tin rằng Vương quyền muốn bóp nghẹt mọi tự do và những lợi thế đã đạt được. Vào tháng mười cùng năm đã diễn ra Đại hội đầu tiên quy tụ chín trong số 13 thuộc địa để phản đối trước nhà vua và Quốc hội Anh Quốc. Tổ chức Những người con của tự do buộc tội những người phân phối giấy có dán tem và nhân viên kiểm soát của nhà vua.

Thế là Quốc hội Anh Quốc bãi bỏ luật về tem thuế nhưng thông qua một luật tái khẳng định “mọi quyền hành và uy quyền” của quốc hội về ban hành luật tại các thuộc địa. Đến nỗi vào năm 1767, Bộ trưởng Tài chính nước Anh (phụ trách tài chính và Kho bạc) là Charles Townshend ấn định các thuế quan nhập khẩu mới tại các cảng của Mỹ đối với thủy tinh, chì, sơn, trà, giấy. Làn sóng phẫn nộ tại Mỹ diễn ra bằng cách tẩy chay hàng hóa của Anh Quốc.

Sự chống đối trên đà phát triển

Vào tháng năm 1770, tại Boston, những cuộc đụng độ giữa những người biểu tình và binh lính Anh làm năm người chết: đó là cuộc thảm sát ở Boston. Các “ủy ban liên lạc” được thành lập ở hầu hết khắp nơi để tổ chức các cuộc biểu tình. Đành rằng Quốc hội đã bãi bỏ các thuế quan, nhưng không bỏ thuế quan cho trà, theo yêu cầu của Công ty Đông Ấn. Và ngày 16 tháng 12 năm 1773, các kiện trà hàng hóa trên ba chiếc tàu của Công ty Đông Ấn đã bị đổ xuống biển ở hải cảng Boston bởi những người biểu tình cải trang thành người Da đỏ. Đó là Boston Tea Party – Tiệc trà Boston –. Cho dù phương pháp này không được đồng tình hoàn toàn, sự chống đối đã thắng thế.

Năm 1765, phần đông những người phản đối vẫn còn là những người trung thành. Năm 1770, họ chống đối trực diện với Quốc hội và cầu viện nhà vua. Kể từ năm 1773, họ không còn tin tưởng nhà vua và kêu gọi đoàn kết chống lại người Anh để giành độc lập: đối diện với sự không thông hiểu và cứng rắn của người Anh, những người lãnh đạo ôn hòa (như Washington, Jefferson và Franklin) tham gia cùng với những người cấp tiến có lập trường triệt để hơn.

Họ càng cảm thấy chính đáng hơn khi họ tự cho là đi theo truyền thống của Anh, của cuộc Cách mạng Huy hoàng năm 1688 đã đi đến kết quả là Bản tuyên ngôn các quyền và một khế ước giữa chính phủ và nhân dân. Hoàn toàn không phải là những người cách mạng muốn xóa sạch quá khứ [(“chế độ xưa ta đạp phá tan tành” (ND)], họ tự cho mình thuộc về lịch sử này của người Anh để đem lại tính chính đáng cho sự phản kháng và sự nổi dậy của họ.

Sau tuyên bố và tiếp theo là chiến tranh giành độc lập, những người nổi dậy chiến thắng, đặc biệt là nhờ sự ủng hộ có vụ lợi của Pháp, phải tái lập trật tự và sự ổn định tại các Thuộc địa. Một cuộc nổi dậy của các nông gia đang mắc nợ vào năm 1768 tại Massachusetts gây ra một cuộc nội chiến nhỏ, cho thấy sự cấp bách phải có một Hiến pháp tôn trọng các thiết chế hiện hữu tại các Tiểu bang khác nhau. Được thông qua năm 1787, Hiến pháp được áp dụng vào năm 1789.

Năm 1791, nhằm trấn an những người chống đối vốn muốn hạn chế quyền hạn của Liên bang, Bản Tuyên ngôn nhân quyền (Bill of Rights) khẳng định lại trong 10 tu chính án quyền tư hữu, quyền tự do tín ngưỡng, - tự do ngôn luận hay tự do có vũ khí. Hoa Kỳ ngày nay vẫn còn kế thừa trực tiếp thời kỳ anh dũng này.

Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư

Nguồn:Il y a 250 ans, les États Unis proclamaient leur indépendance”, Alterntives É conomiques, 4.7.2026.

Print Friendly and PDF