CÁC CUỘC TẬP TRẬN QUY MÔ LỚN CUẢ TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN VÀ PHILIPPINES ĐÃ BẮT ĐẦU XUNG QUANH ĐÀI LOAN
Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Nữ thủ tướng Nhật
Bản Sanae Takaichi chào đón Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. tại
Tokyo. DR.
Nhật Bản và Philippines đã thông báo vào cuối tháng 5 việc ký kết một thỏa thuận hợp tác chưa từng có tiền lệ liên quan đến việc phân định các vùng biển tại các đảo có vị trí địa lý nhạy cảm vì nằm gần Đài Loan. Thỏa thuận này đã gây ra sự phẫn nộ từ Bắc Kinh, và ngay sau đó, Bắc Kinh đã tiến hành các cuộc diễn tập hàng hải quy mô lớn, một số trong đó chưa từng có tiền lệ. Những sự kiện này cho thấy sự căng thẳng ngày càng gia tăng trong một khu vực đã trở thành tâm điểm của các cuộc cạnh tranh địa chiến lược toàn cầu.
---------------------------------------
Tất cả bắt đầu với tuyên bố vào ngày 28 tháng 5 tại Tokyo của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. về một thỏa thuận mà mục tiêu chính được nêu rõ là phân định quyền hàng hải của Vùng Kinh tế Đặc quyền (EEZ) của hai nước, vốn chồng lên nhau ở một số khu vực.
Vùng Kinh tế Đặc quyền (EEZ) là một vùng biển kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở của một quốc gia ven biển. Trong vùng này, các quốc gia có quyền chủ quyền để thăm dò và quản lý tài nguyên. Về bề ngoài, không có gì bình thường hơn.
Nhưng thỏa thuận này đánh dấu sự khởi đầu các cuộc đàm phán giữa hai nước láng giềng của Đài Loan về việc phân định biên giới biển, một vấn đề chưa được giải quyết trước đây giữa hai hòn đảo phía đông nam Nhật Bản và phía bắc Philippines. Thỏa thuận cũng quy định việc chia sẻ thông tin tình báo quân sự, hỗ trợ hậu cần quân sự từ Nhật Bản cho Philippines, và khả năng cung cấp thiết bị quân sự của Nhật Bản cho nước này.
Bên cạnh việc xác nhận sự tiếp tục của quá trình xích lại gần nhau rõ ràng giữa Tokyo và Manila, thỏa thuận này đánh dấu lần đầu tiên các cuộc đàm phán quốc tế tập trung vào các vùng biển nằm ở phía đông Đài Loan, điều mà Bắc Kinh chắc chắn đã lưu ý với sự lo ngại.
Sự chủ động tích cực của Nhật Bản trong việc thiết lập các mối quan hệ chiến lược trong khu vực
“Có một logic trong đó. Từ quan điểm của Nhật Bản, đó là việc tăng cường các mối quan hệ đoàn kết, nhưng cũng là các mối quan hệ chiến lược, không chỉ với Philippines, mà còn với các nước khác trong khu vực, Việt Nam, thậm chí cả Malaysia hay Singapore và, có lẽ kín đáo hơn, Indonesia, nơi Nhật Bản vẫn hiện diện khá mạnh,” nhà Hán học Jean-Pierre Cabestan giải thích.
Bất chấp những lo ngại rằng mình có thể bị gánh chịu thiệt hại ngoài ý muốn, “nhìn chung, Đài Loan không phản đối. Điều bất tiện là điều này thúc đẩy Trung Quốc lộ diện và hoạt động tích cực hơn nhiều ở phía đông Đài Loan so với trước đây. Chúng ta sẽ phải xem mọi chuyện diễn biến như thế nào”, ông nói thêm trong một cuộc phỏng vấn với Asialyst.
Mặc dù Tokyo không thể công khai mở rộng đàm phán với Đài Loan do không có quan hệ ngoại giao, “tình cảm của giới lãnh đạo Nhật Bản đối với Đài Loan không hề thù địch”, nhà nghiên cứu về Trung Quốc nói thêm. “Vấn đề đặt ra là liệu Philippines có sẵn sàng tham gia vào loại thảo luận này hay không”. Đài Bắc hoan nghênh “đối thoại hòa bình” trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, đồng thời kêu gọi cả hai chính phủ đảm bảo rằng các quyền và cơ chế đánh bắt cá hiện có của họ không bị đe dọa.
Cần nhắc lại ý rằng Đài Loan nằm ở trung tâm của chuỗi đảo đầu tiên ở Thái Bình Dương, với Nhật Bản ở phía bắc và Philippines ở phía nam. Do đó, hòn đảo này là một cái chốt quan trọng và là thách thức cho vấn đề an ninh đối với toàn châu Á. Việc quân đội Trung Quốc chiếm được hòn đảo này sẽ làm thay đổi toàn bộ cán cân quân sự ở Đông Á theo hướng có lợi cho Bắc Kinh, vì điều đó sẽ cho phép Trung Quốc và hải quân của mình giành quyền kiểm soát hiệu quả Biển Nhật Bản (978.000 km²), Biển Hoàng Hải (380.000 km²) và Biển Hoa Đông (770.000 km²), những vùng biển rộng lớn với tổng diện tích 2,13 triệu km², có tầm quan trọng sống còn vì chúng cung cấp lối đi đến các chuỗi đảo khác ở Thái Bình Dương, trải dài đến bờ biển Châu Mỹ.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và đã và đang không ngừng tăng cường kiểm soát quân sự đối với Biển Đông, một vùng biển rộng khoảng 3,8 triệu km² giàu tài nguyên thủy sản và có cả tài nguyên hydrocarbon ước định. Vùng biển này cũng có vị trí chiến lược vì nó thông ra Ấn Độ Dương. Một phán quyết của Tòa án Trọng tài Quốc tế tại La Haye hồi tháng 7 năm 2016 đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là vô hiệu, nhưng Bắc Kinh đã quyết định phớt lờ phán quyết đó.
Một cuộc phong tỏa đường biển đối với hòn đảo mà không cần chiến tranh nóng, kịch bản hiện đang được Bắc Kinh ưa chuộng để chiếm Đài Loan, cuối cùng sẽ dẫn đến những hậu quả tương tự vì mục tiêu sẽ là, thứ nhất, làm tê liệt nền kinh tế Đài Loan, thứ hai, tạo ra hỗn loạn xã hội, và cuối cùng, buộc chính quyền hòn đảo phải đầu hàng.
Địa chính trị vùng biển phía đông Đài Loan
Thỏa thuận được ký kết giữa Nhật Bản và Philippines, theo đó hai nước nâng tầm quan hệ lên “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”, quy định việc thực hiện thỏa thuận tiếp cận lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, và tán thành việc bắt đầu thảo luận về bảo vệ thông tin quân sự mật. Nhật Bản cũng có kế hoạch tăng cường lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines và đang thương thảo việc chuyển giao thiết bị quốc phòng.
Những vấn đề này liên quan đến các đảo phía tây nam Nhật Bản và phía bắc Philippines: các đảo của Nhật Bản, như Yonaguni (与那国) và Hateruma (波照間), và các đảo của Philippines, như Mavulis và Etayat. Các vùng biển này có khả năng chồng lên nhau, vì khoảng cách giữa các bờ biển nói trên là dưới 400 hải lý.
Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), mỗi quốc gia ven biển có thể tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa mở rộng đến 200 hải lý, do đó việc phân định ranh giới là cần thiết trong trường hợp có quyền lợi chồng lên nhau. Tuy nhiên, tình hình càng phức tạp và nhạy cảm hơn vì đường biên giới tương lai giữa Nhật Bản và Philippines nằm ở phía đông Đài Loan và chồng lên đáng kể với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Đài Loan.
Phản ứng của Bắc Kinh rất nhanh chóng: ngày 6 tháng 6, Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc tuyên bố các cuộc thảo luận là “bất hợp pháp”, mô tả chúng là hành vi xâm phạm đơn phương “chủ quyền và quyền hàng hải của Trung Quốc” vì chúng liên quan đến các vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền. Sau đó, họ đã phát động cái gọi là “chiến dịch kiểm soát giao thông hàng hải đặc biệt” ở vùng biển phía đông Đài Loan.
Chiến dịch quy mô lớn này do Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc tổ chức, chứ không phải do Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) hay thậm chí là Lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc (CCG), mặc dù lực lượng này đã hỗ trợ. Chiến dịch đã huy động Cục An toàn Hàng hải Phúc Kiến, Cục An toàn Hàng hải Quảng Đông, Trung tâm Hỗ trợ Hàng hải Biển Hoa Đông và Cục Cứu hộ Biển Hoa Đông.
Bắc Kinh tuyên bố hành động này nhằm tăng cường tuần tra trên biển khơi, điều tiết giao thông ở vùng biển chiến lược, đảm bảo an ninh hàng hải và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, đây không phải là một hoạt động an ninh hàng hải thông thường. Đó là một hành động ngoại giao “dưới ngưỡng” của một cuộc chiến tranh được dàn dựng cẩn thận.
Do đó, hoạt động được tiến hành ở phía đông Đài Loan không nên được xem như là một cuộc tuần tra an ninh mà là một phản ứng cưỡng chế đối với Tokyo và Manila và là một nỗ lực nhằm xóa bỏ Đài Loan như một chủ thể hàng hải độc lập.
Định vị cuộc tuần tra củng cố cách hiểu này. Tuyến đường mà các tàu Trung Quốc đi qua cách đảo Lan Vũ khoảng 40 hải lý, cách bờ biển phía đông Đài Loan 51 hải lý, cách quần đảo Ryukyu của Nhật Bản 35 hải lý và cách đảo Itbayat, phía bắc Philippines 56 hải lý.
Đây không phải là một sự triển khai ngẫu nhiên, vì nó cho phép các tàu của Nhà nước Trung Quốc được đặt ở một vị trí gần biên giới biển giữa Đài Loan, Nhật Bản và Philippines, và trực tiếp trong khu vực đang được tranh chấp giữa Nhật Bản và Philippines.
Chính đội hình này cũng cho thấy tầm quan trọng mà Bắc Kinh đặt vào diễn biến này. Đài Loan đã xác định bốn tàu lớn của Trung Quốc: tàu Haixun 09, tàu an ninh hàng hải 10.000 tấn do Cục An ninh Hàng hải Quảng Đông vận hành; tàu Haixun 06, tàu tuần tra và cứu hộ lớn 6.000 tấn thuộc Cục An ninh Hàng hải Phúc Kiến; tàu Haixun 08, tàu khảo sát thủy văn biển sâu 7.500 tấn do Trung tâm Hỗ trợ Hàng hải Biển Hoa Đông vận hành; và tàu Donghaijiu 113, tàu cứu hộ hàng hải chuyên nghiệp 3.500 tấn thuộc Cục Cứu hộ Biển Hoa Đông.
Chiến dịch này cũng được hỗ trợ bởi một số tàu của Lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc (CCG) có trọng tải từ 3.000 đến 4.000 tấn.
Bắc Kinh gửi lời cảnh báo tới Nhật Bản và Philippines
“Chiến dịch của Trung Quốc ở phía đông Đài Loan không chỉ đơn thuần là một cuộc tuần tra riêng lẻ. Đó là một thể hiện cho thấy Bắc Kinh có thể sử dụng lực lượng dân sự duy trì trật tự, tìm kiếm cứu nạn và trinh sát để hạn chế không gian chiến lược của Đài Loan, đồng thời gửi lời cảnh báo tới Nhật Bản và Philippines”, Zack Liao, một nhà nghiên cứu tại Viện Rủi ro Chiến lược Trung Quốc (CSRI) giải thích.
Thật vậy, Bắc Kinh không có lựa chọn nào khác ngoài việc phản ứng, bởi vì, dù không nói rõ ràng, Trung Quốc lo ngại về sự xích lại gần nhau giữa Tokyo và Manila, như được thể hiện qua thỏa thuận này khi hai nhà lãnh đạo cũng tuyên bố khởi động các cuộc đàm phán về Thỏa thuận An ninh Chung về Thông tin Quân sự (GSOMIA), một khuôn khổ thể chế được thiết kế để quản lý và hợp lý hóa việc chia sẻ dữ liệu quân sự nhạy cảm cho các hoạt động quan trọng, từ đó cải thiện sự chuẩn bị chung và phối hợp sự kế hoạch hóa khẩn cấp.
Một thỏa thuận như vậy sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự gia tăng lòng tin giữa hai nước. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí đẩy nhanh việc chuyển giao các tàu hộ tống lớp Abukuma của Nhật Bản cho Philippines, đánh dấu lần xuất khẩu thiết bị quốc phòng sát thương đầu tiên của Tokyo sang quốc gia Đông Nam Á này.
Hợp tác an ninh giữa Philippines và Nhật Bản đã được tăng cường và mở rộng đáng kể trong ba năm qua, phần lớn là nhờ tầm nhìn mới của Tokyo về địa chính trị khu vực, như đã được nêu trong Chiến lược An ninh Quốc gia 2022. Chiến lược này trùng hợp với tuyên bố tăng gần gấp đôi chi tiêu quân sự của Nhật Bản, dự kiến sẽ đạt 2% GDP của Nhật Bản trong vòng 5 năm.
Nhằm tăng cường vai trò của Nhật Bản với tư cách là người bảo đảm an ninh và là đối tác trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Nhật Bản đã thiết lập chương trình Hỗ trợ An ninh Hải ngoại (OSA), được thiết kế để tăng cường khả năng răn đe của các đối tác cùng chí hướng trong khu vực. Là quốc gia nhận OSA đầu tiên, Philippines đã nhận được hệ thống radar giám sát bờ biển và xuồng bơm hơi thân cứng từ Nhật Bản.
Một cột mốc quan trọng khác đã đạt được với việc ký kết Hiệp định Tiếp cận Tương hỗ (RAA) vào tháng 7 năm 2024, giúp đơn giản hóa hợp tác chung giữa Lực lượng Vũ trang Philippines (AFP) và Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF).
Trong khi viện trợ an ninh của Nhật Bản từ lâu được mô tả là khiêm tốn và thận trọng, Tokyo gần đây đã định hướng lại cách tiếp cận này, tìm cách tăng cường khía cạnh an ninh của Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do và Mở (FOIP), được triển khai dưới thời chính quyền Shinzo Abe năm 2016.
Để đạt được mục tiêu này, chính quyền Takaichi đã tăng hơn gấp đôi ngân sách năm 2026 dành cho Viện trợ An ninh Mở (OSA), nâng lên 116 triệu đô la, từ 54 triệu đô la năm trước. Vào ngày 21 tháng 4, Nội các Takaichi cũng đã công bố quyết định dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu lâu nay của Nhật Bản đối với một loạt các thiết bị quốc phòng có khả năng gây sát thương, bao gồm máy bay chiến đấu, tàu hộ vệ và tàu khu trục.
Trong bối cảnh này, việc chuyển giao các tàu chiến lớp Abukuma cho Philippines càng có ý nghĩa quan trọng hơn, vì nó sẽ đánh dấu một bước tiến lớn trong xuất khẩu các mặt hàng liên quan đến an ninh của Nhật Bản sang Philippines, vốn trước đây tập trung vào các trang thiết bị cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển dân sự Philippines (PCG).
Để phát triển hơn nữa hợp tác về mặt cơ sở công nghiệp, Nhật Bản và Philippines cũng đang xem xét thành lập một nhóm làm việc để giám sát việc bảo trì và quản lý dài hạn các tàu này. Sau khi hoàn tất, việc chuyển giao các tàu chiến này sẽ là một bước đệm quan trọng hướng tới việc tăng cường thương mại vũ khí giữa hai quốc gia.
Philippines cũng bày tỏ sự quan tâm đến hệ thống tên lửa đất đối hạm loại 88 và xe tăng loại 10 của Nhật Bản. Để tối đa hóa tiềm năng này, Manila có thể sử dụng khoản viện trợ quân sự nước ngoài trị giá 500 triệu đô la Mỹ do Washington cung cấp để hỗ trợ sự hiện đại hóa Lực lượng Vũ trang Philippines (AFP).
Hơn nữa, với việc Philippines từ nay có các thỏa thuận chia sẻ thông tin tình báo với cả Hoa Kỳ và Nhật Bản, và Hoa Kỳ cũng có thỏa thuận tương tự với Nhật Bản, các điều kiện dường như đã chín muồi để ba nước tăng cường phối hợp ba bên về chia sẻ thông tin.
Đài Loan bắt tay tới Philippines
Về phần mình, Đài Loan đã tận dụng cơ hội để bắt tay với Philippines, mời nước láng giềng tăng cường nỗ lực củng cố quan hệ đối tác nhằm đối phó với những áp lực hàng hải mới nhất từ Trung Quốc, mà, theo Đài Bắc, mục đích là thiết lập một “trạng thái bình thường mới”, Bộ trưởng Ngoại giao Đài Loan tuyên bố vào ngày 12 tháng 6.
“Đài Loan và Philippines đối mặt với nhiều thách thức tương tự, một số liên quan đến biến đổi khí hậu, nhưng cũng liên quan đến các mối đe dọa phi tự nhiên khác, chẳng hạn như các mối đe dọa quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc”, ông Lin Chia-lung, Bộ trưởng Ngoại giao Đài Loan và là nhân vật hàng đầu trong đảng cầm quyền Dân chủ Tiến bộ, đánh giá.
“Tôi đặc biệt muốn tăng cường hợp tác với Philippines” và thiết lập sự hợp tác nhằm đảm bảo “an ninh kinh tế toàn diện và khả năng phục hồi”, Bộ trưởng tuyên bố.
Hình ảnh về việc Hoa Kỳ dần rút khỏi Châu Á kể từ khi Donald Trump trở lại Nhà Trắng vào tháng 1 năm 2025 đang gây ra mối lo ngại ngày càng tăng trong giới lãnh đạo các đồng minh Châu Á của Mỹ. Dưới sự lãnh đạo kiên quyết của Sanae Takaichi, Nhật Bản đã đẩy nhanh chương trình tái vũ trang, dẫn đến những lời lẽ ngày càng gay gắt từ Bắc Kinh, vốn lên án việc Nhật Bản quay trở lại chủ nghĩa quân phiệt của những năm 1930.
Ngày 17 tháng 6, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Shinjiro Koizumi đã biện minh cho việc tái vũ trang này bằng cách viện dẫn sự cần thiết phải xem xét lại lập trường hòa bình, vốn đã đặc trưng cho đất nước kể từ Thế chiến II, để đối phó với nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh mới. Ông nói với BBC rằng Nhật Bản phải “tăng cường khả năng phòng thủ”. Việc tăng cường quốc phòng của Nhật Bản, “sự củng cố liên minh với Hoa Kỳ và mở rộng hợp tác với các quốc gia cùng chí hướng” là một phần của “việc triển khai khả năng răn đe đa tầng, điều cần thiết để đảm bảo không có chiến tranh mới nào nổ ra trong khu vực này”, ông nói thêm.
Ông đề cập đến những thay đổi gần đây trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản, chẳng hạn như việc nới lỏng các hạn chế xuất khẩu vũ khí đã tồn tại hàng thập kỷ. Lần đầu tiên sau 50 năm, Tokyo gần đây đã thông qua một đạo luật cho phép bán hoặc chuyển giao thiết bị quốc phòng và vũ khí sát thương cho 17 quốc gia mà nước này có thỏa thuận chính thức, đặc biệt là Hoa Kỳ và Vương quốc Anh.
“Úc đã lựa chọn các tàu chiến của Nhật Bản. Các cuộc thảo luận đang được tiến hành với Philippines về việc mua các tàu khu trục đã qua sử dụng từ Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản. Chúng tôi đang tiến hành các cuộc đàm phán sâu rộng với Indonesia, và New Zealand cũng đã bày tỏ sự quan tâm đến việc mua các tàu khu trục của Nhật Bản”, ông Koizumi giải thích trong một cuộc phỏng vấn với BBC tại Tokyo.
Những nỗ lực tái vũ trang của Nhật Bản đặc biệt tập trung vào các đảo phía nam gần Đài Loan, vốn là mục tiêu của các hoạt động hăm dọa từ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trong những năm gần đây. Tokyo đã và đang nỗ lực lắp đặt các trạm radar tinh vi và các cơ sở có khả năng phóng tên lửa ở đó.
Liệu thỏa thuận Nhật Bản-Philippines có mở ra chiếc hộp Pandora ở vùng biển phía đông Đài Loan? Rõ ràng, khu vực này sẽ mang tính chất quyết định đối với Trung Quốc nếu nước này phát động chiến sự chống lại Đài Loan. Đặc biệt là vì, như nhà nghiên cứu Marianne Péron-Doise đã chỉ ra trong tác phẩm mới nhất của bà, “Géopolitique des mers et océans/Địa chính trị của biển và đại dương”[*], hải quân Trung Quốc, vốn đã là một trong những lực lượng hải quân lớn nhất thế giới, đang đặt mục tiêu bắt kịp hải quân Hoa Kỳ. Bà viết: “Phù hợp với tham vọng của Tập Cận Bình, mục tiêu là biến hải quân Trung Quốc thành một lực lượng hải quân tương đương hoặc vượt trội hơn hải quân Hoa Kỳ vào năm 2049, kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc”.
Người dịch: Phạm Như Hồ
Về tác giả
![]() |
| Pierre-Antoine Donnet (1953-) |
Cựu tổng biên tập của AFP, Pierre-Antoine Donnet là tác giả của khoảng mười lăm tác phẩm tập trung vào Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Ấn Độ và những thách thức lớn của Châu Á. Năm 2020, cựu phóng viên này tại Bắc Kinh đã xuất bản cuốn “Le leadership mondial en question, L’affrontement entre la Chine et les États-Unis/Vấn đề lãnh đạo toàn cầu, Cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ” tại NXB Éditions de l’Aube. Ông cũng là tác giả của tác phẩm “Tibet mort ou vif/Tây Tạng chết hay sống”, do Gallimard xuất bản. Sau cuốn “Chine, le grand prédateur/Trung Quốc, kẻ săn mồi vĩ đại”, xuất bản năm 2021 (l’Aube), ông chủ biên tác phẩm tập thể “Le Dossier chinois/Hồ sơ Trung Hoa” (Cherche Midi) vào cuối năm 2022. Đầu năm 2023, ông xuất bản cuốn “Confucius aujourd’hui, un héritage universaliste/Khổng Tử ngày nay, di sản phổ quát” (l’Aube) rồi năm 2024 “Chine, l’empire des illusions/Trung Quốc, đế chế ảo tưởng” (Saint-Simon) và “Japon, l’envol vers la modernité/Nhật Bản, sự bay lên thời hiện đại” (l’Aube). Cuốn sách mới nhất của ông, “Taïwan, survivre libres/Đài Loan, sống đời tự do” (Nhà xuất bản Nevicata, bộ sách Linh hồn của các dân tộc), được xuất bản vào ngày 14 tháng 11 năm 2025.
Nguồn: “Les grandes manœuvres Chine/Japon/Philippines ont commencé autour de Taiwan“, Asialyst, 19/06/2026
Chú thích: [*]
GÉOPOLITIQUE DES MERS ET OCÉANS Sécurisation des espaces océaniques et gouvernance maritime, Marianne Péron-Doise, Éditions Le Cavalier Bleu
.jpg)