PHỤ TRƯƠNG ĐẶC BIỆT: Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM
Số ra ngày 13 tháng 8 năm 1970
.jpg)
Hình minh hoạ của PTKT (do A.I tạo)
Chuyến bay ICC tới Hà Nội bay vòng lên cao quanh Viêng Chăn [Thủ đô của Lào – ND] cho tới khi đạt độ cao được chỉ định, rồi bay qua một hành lang được bảo vệ trên khu vực mà trước đây từng hứng chịu một trong những trận bom dữ dội nhất trong lịch sử. Một chiếc máy bay Phantom lướt qua gần đó — khiến phi hành đoàn và các hành khách khá khó chịu — nhưng ngoài điều đó ra, chúng tôi chẳng cảm thấy điều gì khác giữa những đám mây dày đặc cho tới khi ánh đèn Hà Nội dần dần hiện ra bên dưới. Những hành khách trên chuyến bay là một hỗn hợp kỳ lạ: có nhiều nhà ngoại giao Trung Quốc; nhiều ký giả Nga, một tiểu thuyết gia người Ý, vài người Ba Lan và ba du khách người Mỹ.
Chúng tôi đến Hà Nội vào ngày 10 tháng 4 [năm 1970], và rời khỏi trên cùng chuyến bay vào một tuần sau đó. Vì chuyến thăm Việt Nam của tôi quá ngắn ngủi, nên chắc chắn ấn tượng của tôi là hời hợt. Vì không nói được tiếng Việt, tôi thường có một người phiên dịch đi cùng, và tuy những người phiên dịch có trình độ cao, nhưng quá trình phiên dịch lại rất tốn thời gian, thế nên việc trò chuyện của tôi với mọi người bị chậm lại. Tôi sẽ mô tả những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến đi này. Bạn đọc nên lưu ý rằng những gì tôi có thể kể là có hạn.
Đối với một vùng đất đang xảy ra chiến tranh, miền Bắc Việt Nam có vẻ thư thái và thanh thản đến lạ thường. Chúng tôi đi bộ mà không có ai đi kèm cùng trên những đoạn đường dài ở Hà Nội và nông thôn. Thỉnh thoảng, chúng tôi được nhắc nhở là không được chụp ảnh – chẳng hạn như ở lối vào một cái hang có một công xưởng nằm lẩn khuất trong đó. Những chủ nhà người Việt Nam của ngôi nhà mà chúng tôi trú ngụ không yêu cầu chúng tôi phải rửa ảnh hay kiểm tra bất kỳ bức ảnh nào mà chúng tôi chụp được, kể cả ảnh màu. Theo như tôi thấy, không có nhiều người làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh ở những nơi tôi ghé. Chúng tôi tới thăm Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại một nơi nghỉ dưỡng ở ngoại ô thành phố [Hà Nội – ND], nhưng không thấy những người lính gác hay viên cảnh sát nào ở gần đó. Trong thành phố, có rất nhiều người lính ngồi bên hồ, tản bộ trên phố, hoặc hòa mình vào dòng người đạp xe đông đúc. Trông họ giống như những người lính đang nghỉ phép. Cũng có nhiều thanh niên ở cả thành phố lẫn nông thôn hành nghề dân sự. Tôi chỉ thấy một vài viên cảnh sát, chủ yếu là điều hướng giao thông và dường như họ không mang vũ khí.
Ở vùng nông thôn, một lũ trẻ tụ tập quanh chúng tôi khi chúng tôi đi qua một ngôi làng hẻo lánh cách xa các cơ sở hành chính của tỉnh Thanh Hóa, nơi chúng tôi dừng chân nghỉ qua đêm. Lũ trẻ nghĩ chúng tôi là người Nga, và khi xe của chúng tôi đi qua các thị trấn và làng mạc, có những đứa trẻ đứng vẫy tay và hét lớn “Liên Xô”. Chúng tôi luôn được chào đón bằng những nụ cười thân thiện, và ở những vùng xa xôi hẻo lánh hơn, chúng tôi còn nhận được những biểu hiện hiếu kỳ nào đó của người dân.
Mỗi nơi chúng tôi ghé thăm, mỗi người dân ở đó dường như đều khỏe mạnh, đều có cơm ăn áo mặc, no đủ. Không có sự khác biệt rõ nét nào về mức sống giữa thành phố và vùng nông thôn. Hàng hóa thì khá khan hiếm. Ngoài một chiếc xe đạp, một cái bình giữ nhiệt, có lẽ là có thêm một chiếc radio nữa, thì hầu hết mỗi người dân có lẽ có rất ít sản phẩm tiêu dùng trong nhà. Tôi không nghĩ mình nhìn thấy không quá vài chục chiếc ô tô ở Hà Nội đâu. Trung tâm thành phố trông chẳng khác mấy so với vùng ngoại ô. Thành phố Hà Nội sạch sẽ và yên bình, ngoại trừ tiếng còi xe tải vang inh ỏi mỗi khi bóp còi cảnh báo để những chiếc xe đạp nhường đường. Tôi đã nghe nói rằng loa phóng thanh phủ khắp Hà Nội để phát tin tức và thông báo, nhưng tôi chỉ nhớ tới một cái loa phóng thanh phát nhạc trong một công viên ở ngay trung tâm thành phố. Thành phố trông thật buồn tẻ. Những nguồn lực khan hiếm của đất nước này phần lớn được chuyển tới vùng nông thôn. Nhưng tôi tin rằng vào một ngày nào đó, khi cuộc chiến kết thúc, Hà Nội sẽ là một thành phố xinh đẹp, với những con phố rợp bóng cây, nhiều hồ và công viên.
Sự khác biệt rõ rệt nhất giữa Hà Nội và vùng nông thôn dĩ nhiên là sự điêu tàn và đổ nát do “cuộc tập kích đường không hủy diệt” gây ra. Bản thân Hà Nội, như tôi thấy, không bị ảnh hưởng gì nặng nề cả, ngoại trừ những cây cầu và khu vực quanh sông Hồng vốn hứng chịu những trận bom dữ dội. Nhưng ngay khi rời khỏi địa giới thành phố, chúng tôi chứng kiến sự điêu tàn khủng khiếp. Dọc theo quốc lộ chính, chúng tôi di chuyển đến Thanh Hóa, nơi cách Hà Nội chừng 145 km về phía nam. Chúng tôi có thể nhìn thấy rõ hậu quả của những trận bom ở khắp mọi nơi. Từ trên xe, chúng tôi có thể nhìn thấy lối vào các hang động, nơi người dân, nhất là những đứa trẻ nhỏ, trú bom khi bị thả bom. Các gian nhà gỗ tạm bợ nằm rải rác dưới chân những ngọn đồi hình nón. Mỗi khi nhìn thấy một cây cầu ở phía trước, thì chúng tôi nhìn thấy các hố bom càng lúc càng dày đặc hơn – đôi khi “cây cầu” chỉ dài vài thước. Ở đâu có cầu, thì ở đó thường sẽ có một ngôi làng. Đường bộ và tuyến đường sắt gần đó cũng bị thả bom dữ dội, và các ga tàu chỉ còn là một đống đổ nát. Dĩ nhiên, các nhà ga luôn nằm ở trung tâm thị trấn hay làng mạc.
Hoạt động tuyên truyền của Chính quyền Hoa Kỳ thường cố gắng tạo ra ấn tượng rằng cuộc oanh tạc từ trên không có độ chính xác gần với độ chính xác trong các ca phẫu thuật, nên có thể phá hủy những mục tiêu quân sự và giảm mức độ thương vong của dân thường xuống mức thấp nhất. Nhưng các tài liệu chuyên sâu lại cho thấy một bức tranh khác. Chẳng hạn như Đại úy C.O. Holmquist từng viết:
Người ta tự nhiên tự hỏi tại sao lại cần nhiều phi vụ thả bom đến vậy để phá hủy một cây cầu hoặc mục tiêu được định vị chính xác khác…. Tuy nhiên, ngay cả với hệ thống máy tính tinh vi nhất, việc thả bom bằng bất kỳ chế độ nào vẫn là một quá trình vốn dĩ chẳng hề chính xác, điều này là hiển nhiên qua những kết quả mà chúng ta đạt được cho tới nay ở Việt Nam. Lỗi ngắm thả, lỗi đường ngắm, lỗi tính toán hệ thống và lỗi phân tán bom, tất cả những lỗi này đều làm giảm độ chính xác của hệ thống. Gió bất chợt ở độ cao dưới điểm thả và hệ số “suy giảm hiệu quả tác chiến” làm tăng thêm nhiều lỗi cho quá trình này. Tóm lại, việc thả trúng mục tiêu có diện tích nhỏ bằng bom là bất khả trừ khi may mắn. Việc thả bom đạt hiệu quả nhất chỉ xảy ra ở các mục tiêu có diện tích rộng như các kho tiếp tế, khu công trình và thành phố. [Naval Review, 1969, trang 214.]
Người Mỹ tuyên bố rằng việc thả bom ở miền Bắc Việt Nam nhằm vào các mục tiêu quân sự là không thể che giấu trước các cuộc điều tra trực tiếp. Nhưng ngay cả khi chấp nhận điều đó, những suy xét, như Đại úy Holmquist đề cập ở trên, như vậy cho chúng ta thấy rằng về cơ bản đây là một sự phân biệt mà chẳng có khác biệt gì.
Có một số tên dọc theo con đường thật quen thuộc với tôi khi đọc lên, chẳng hạn như Phủ Lý, cách Hà Nội khoảng 10 dặm về phía nam, nơi được các nhà báo người Pháp và người Nhật ghé thăm ngay sau một trận bom vô cùng khốc liệt. Tôi nhờ người bạn đồng hành của mình – Giáo sư [Đặng Thai] Mai, trước là giáo sư văn học [cổ điển] Pháp, văn học [cận đại] Việt Nam và văn học [hiện đại] Trung Quốc, và hiện là chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam – chỉ cho chúng tôi thấy trung tâm thị trấn khi đến đó. Khu chợ trước đây là một bãi hoang tàn được san phẳng nằm ở khúc quanh của con sông. Một vài tòa nhà xây bằng gạch đá vẫn còn đứng vững, nhưng phần còn lại của thị trấn đã bị xóa sổ. Phần lớn người dân lúc đó đã quay trở về, và những ngôi nhà gỗ nằm rải rác giữa đống đổ nát. Làng Phú Xuyên cách đó không xa cũng gặp tình trạng tương tự như vậy.
Bản thân Thanh Hóa là một tỉnh thuần nông trù phú. Những cánh đồng lúa với nhiều khoảnh ruộng xanh mướt trải dài xa tít dọc theo cung đường uốn lượn qua những chân đồi và bìa rừng rậm rạp, trong khu rừng ấy người ta kể rằng vẫn còn những con hổ sinh sống. Thảm thực vật, dù hoang dã hay được trồng, đều tươi tốt. Nhìn những người nông dân làm việc trên các cánh đồng và những chú bé chăn đàn trâu nước, chúng tôi gần như quên mất cuộc chiến cho tới khi có một lời nhắc nhở sắc bén vang lên—một cánh đồng đầy hố bom, đống đổ nát của một ngôi làng, xác một toa tàu bị biến dạng. Chúng tôi dừng lại để ăn trưa trên một sườn đồi rậm rạp cây cối, nơi một vài người phụ nữ nông dân đang nhặt lá thông. Các chủ nhà dặn dò chúng tôi phải cẩn thận đừng đi quá xa, vì vẫn còn nhiều quả bom chưa phát nổ.
Tỉnh lị của tỉnh Thanh Hóa—một thành phố có 7 vạn dân, mà tôi được nghe kể lại—đã hứng chịu bom đạn dữ dội. Giáo sư Mai, người từng là chủ tịch tỉnh Thanh Hóa vào năm 1947-8 và là đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi thành lập vào năm 1930, đã kể lại cặn kẽ. Chúng tôi đi qua đống đổ nát của các văn phòng tỉnh, hiện bị phá hủy hoàn toàn. Một bức tường của một bệnh viện lớn vẫn còn đứng vững. Một nhà máy ở thành phố Thanh Hóa cũng bị phá hủy; các cửa hàng riêng biệt hiện nằm rải rác ở vùng nông thôn xung quanh, ẩn khuất trong các hang động. Một nhà máy điện gần đó đã bị hư hại nghiêm trọng, nhưng, người ta kể với tôi rằng, nó chưa bao giờ ngừng hoạt động. Ngay trong chính thành phố, không có nhiều công trình khôi phục hiện trạng của các tòa nhà, nhưng ở đây, hầu hết dân số dường như đã quay trở lại, và có những công trình bằng gỗ ở khắp mọi nơi bên cạnh những đống đổ nát và các tòa nhà còn lại.
Thành phố Thanh Hóa nằm gần biển, và chúng tôi lái xe tới một bãi biển rất thơ mộng. Theo những gì mà chúng tôi nghe kể, không xa bờ biển, các tàu chiến của Hạm đội 7 đã neo đậu và đã có nhiều cuộc pháo kích từ các tàu chiến của hải quân cũng như nhiều vụ oanh tạc trên không. Những kẻ phá hoại và gián điệp đã đổ bộ vào khu vực này, nhưng nhanh chóng bị bắt, chúng tôi được cho biết như vậy. Những chiếc thuyền đánh cá bằng gỗ nằm dọc bãi biển. Trước đây có một khu nghỉ dưỡng trên những ngọn đồi xung quanh, nhưng nó đã bị các cuộc oanh tạc phá tan.
Gần thành phố Thanh Hóa, có cây cầu Hàm Rồng bắc qua dòng sông Mã. Trong số những cây cầu chúng tôi đã đi qua, đây là cây cầu lớn nhất, giờ nó chỉ còn là một công trình ọp ẹp với những thanh thép xoắn vặn và bê tông vỡ vụn. Xe cộ chỉ di chuyển từng chút một trên một làn đường duy nhất. Vào một buổi tối nọ, chúng tôi được nghe kể về cây cầu trong ánh đèn mờ ảo, le lói của các cơ quan hành chính của tỉnh, giờ đây ẩn mình gần một ngôi làng cách thành phố Thanh Hóa khá xa, và không thể phân biệt được với những cụm nhà ở khác. Sau đó, chúng tôi được xem một bộ phim ghi lại những sự kiện tương tự. Người kể chuyện là cô Hàm, 25 tuổi, đội trưởng đội dân quân của một thị trấn thuộc tỉnh Thanh Hóa. Vào 5 năm trước, cô là đội trưởng đội dân quân của một ngôi làng tại khu vực quanh cầu Hàm Rồng.
Cây cầu này bị tấn công hàng ngày từ đầu năm 1965 cho tới khi Mỹ ngừng thả bom ở khu vực này, vào tháng 4 năm 1968. Cây cầu và khu vực xung quanh đã bị thả bom bằng thuốc nổ mạnh và ngư lôi trên không, và bị pháo kích từ các tàu chiến ngoài khơi. Có đến 99 máy bay phản lực đã bị bắn hạ trong các cuộc tấn công này. Sau các cuộc oanh tạc, một ngọn đồi dốc bên cạnh cây cầu đã bị san phẳng chỉ còn 1/3 kích thước ban đầu. Ngôi làng gần đó cũng bị phá hủy, với nhiều thương vong.
Hôm sau, chúng tôi quay lại cầu, lần này có Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa tháp tùng, về cơ bản Mặt trận này là tổ chức kế thừa Mặt trận Việt Minh. Với tôi, anh ấy trông khoảng độ 30 tuổi, nhưng ắt hẳn anh ấy già hơn nhiều, vì con trai anh ấy đã 17 tuổi, hiện đang học đại học ở Hà Nội. Anh ấy kể lại những nét chính của câu chuyện khi chúng tôi đứng trên cây cầu có những cơn gió mùa lạnh buốt thổi qua. Ngọn đồi bên cạnh cây cầu, với một lá cờ cắm trên đỉnh, thực sự nhỏ hơn nhiều so với trong những bộ phim mà chúng tôi được xem vào tối hôm trước. Sườn núi đá xung quanh cây cầu bị xé toạc và vỡ vụn. Từ nơi chúng tôi đứng tới dãy đồi đằng xa, có những cánh đồng trơ trụi. Không còn dấu vết nào của ngôi làng cũ nữa. Khu vực này bị thả bom dữ dội tới nỗi ngay cả những hố bom cũng không còn được định hình rõ ranh giới như thường thấy dọc theo con đường. Chỉ còn lại khung tường của tòa nhà chứa nhà máy điện nằm trên cánh đồng tan hoang. Trên những ngọn đồi xa xa kia, từ chỗ chúng tôi đứng, có khắc dòng chữ: “Quyết Thắng” — nó có nghĩa là “quyết tâm chiến thắng”.
Cây cầu vẫn đứng vững, tuy bị hư hại nghiêm trọng song vẫn kiêu hãnh và thách thức, một biểu tượng mang ý nghĩa sâu sắc với người dân Thanh Hóa. Hơn bất cứ điều gì khác, cảnh tượng này tóm gọn tâm trạng của những người mà tôi đã gặp, từ Thủ tướng [Phạm Văn Đồng] cho đến các sinh viên đại học, công nhân nhà máy và những người nông dân ở các làng quê. Theo những gì tôi biết, đất nước này đã thống nhất, mạnh mẽ dù nghèo khó, và quyết tâm chống lại cuộc tấn công do siêu cường phương Tây phát động vào Việt Nam.
Người Việt Nam coi lịch sử dân tộc mình là một chuỗi dài bất tận các cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của người Trung Quốc, người Mông Cổ, người Nhật, người Pháp và bây giờ là người Mỹ. Chúng tôi đã được nghe đi nghe lại nhiều lần câu chuyện lịch sử này. Chúng tôi đã được nghe kể hàng chục lần về việc người Trung Quốc đã bị đánh bại ra sao, về việc người Mông Cổ, những kẻ đã chinh phục hầu hết các dân tộc ở châu Á và châu Âu, đã không thể vượt qua dãy núi An Nam |Annam mountains| để vào vùng đất của người Việt vì sự kháng cự quyết liệt của những người nông dân Việt, những người đã đoàn kết, ngay cả trong thời kỳ phong kiến, để chống lại những kẻ xâm lược. Giám đốc Bảo tàng Lịch sử [tỉnh Thanh Hóa] dẫn chúng tôi tham quan các hiện vật, bắt đầu từ thời Đồ Đá, các thành viên trong đoàn chăm chú lắng nghe những lời ông kể, với vẻ mặt thích thú rõ rệt, về nền văn hóa cổ đại của người Việt cổ và chi tiết của từng trận đánh, từng chiến dịch. Tại Bảo tàng Quân đội [tỉnh Thanh Hóa] cũng vậy. Khó mà đoán được những người đi cùng chúng tôi đã từng đến đây vô số lần trước đó, vì họ lắng nghe với sự chăm chú tới từng chi tiết quen thuộc.
Người Việt Nam nhìn nhận lịch sử của mình như một chuỗi chiến thắng, mỗi thắng lợi đều đến sau một cuộc trường kỳ tranh đấu. Một cái nhìn kém lạc quan hơn về cùng những sự kiện này là trong chiều dài lịch sử của mình, người Việt Nam trải qua những thời kỳ độc lập xen kẽ với việc bị các thế lực ngoại bang xâm lược. Thật đáng ngạc nhiên là họ không diễn giải quá khứ của mình theo cách này. Tôi chắc rằng nếu tôi gợi ý bất kỳ cách diễn giải nào như vậy, họ sẽ thấy điều đó thật kỳ quặc và có gì đó sai trái. Tôi cũng không thể phủ nhận sự tự tin mà họ hướng tới tương lai.
Chúng tôi đã dành cả một buổi chiều để thảo luận về tình hình hiện tại với người đứng đầu “Đoàn Đại diện Đặc biệt” của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam (PRG).[1] Tại đây, chúng tôi đã gặp một số nạn nhân chiến tranh, bị thương tật khủng khiếp, từ miền Nam, đang ở Hà Nội để điều trị y tế lâu dài. Các đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tại Hà Nội dự đoán một cuộc chiến trường kỳ và khốc liệt ở miền Nam. Họ dự đoán Hoa Kỳ sẽ để lại một đội quân từ 20 vạn đến 25 vạn binh sĩ, đồng thời dẫn dắt và hỗ trợ hậu cần cho một “đội quân bù nhìn” khoảng 80 vạn binh sĩ, và tiếp tục hoặc thậm chí mở rộng thành cuộc chiến bằng công nghệ. Họ tính toán rằng dưới thời tổng thống Johnson, khoảng 2 triệu tấn bom đã được thả xuống miền Nam Việt Nam, trong khi ở thời Chính quyền Nixon, con số này đã đạt lên tới 1,2 triệu tấn đồng thời đẩy mạnh thêm cuộc chiến bằng hóa học.
Họ coi mục tiêu của chính sách “bình định nông thôn” là tập trung người dân vào những khu vực mà họ hy vọng có thể kiểm soát được bằng vũ lực, những khu vực bị bao quanh bởi các “vùng đất ma” đầy rẫy sự điêu tàn và hủy diệt. Họ tin rằng chính sách này không thể thành công, và cũng tin rằng sẽ có sự phân hóa nội bộ trong khu vực do chính quyền Sài Gòn ngày càng độc tài và đàn áp trong việc cai trị. Họ mong đợi một chính phủ liên hiệp có thể tổ chức các cuộc tổng tuyển cử tự do và bầu ra một quốc hội. Trong các cuộc trò chuyện với chúng tôi, họ đã đề cập tới những người như Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn được xem là đại diện cho một “Lực lượng thứ ba” tiềm năng, mà nếu tôi hiểu đúng, họ cảm thấy có thể hợp tác được với những người này. Nhưng hiện tại họ không thấy dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ sẽ sẵn lòng cho phép một chính phủ liên hiệp đại diện ở miền Nam Việt Nam.
Tôi tin rằng giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) cũng kỳ vọng một cuộc chiến kéo dài, dai dẳng, và không thấy dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ có ý định từ bỏ nỗ lực khuất phục miền Nam Việt Nam và thống trị bán đảo Đông Dương. Họ không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự nghiêm túc của người Mỹ tại Paris, và diễn giải mỗi đề xuất của người Mỹ – tôi tin là hoàn toàn chính xác – như một âm mưu nào đó nhằm duy trì chế độ “bù nhìn” của người Mỹ nắm quyền ở miền Nam Việt Nam. Họ mong đợi rằng việc thả bom miền Bắc có thể được nối lại khi vị thế của người Mỹ bị xói mòn ở những khu vực khác tại Đông Dương. Họ tự tin dự đoán rằng vị thế của người Mỹ sẽ xấu đi.
Một phần là do khả năng cuộc tập kích đường không tái diễn, các thành phố không được tái thiết và các nhà máy vẫn nằm rải rác. Mặc dù miền Bắc Việt Nam có tiềm năng đáng kể để phát triển thủy điện, nhưng không có đập thủy điện nào được xây dựng. Ngoài những tổn thất do chiến tranh gây ra, mối đe dọa của một cuộc chiến mới là một rào cản lớn đối với sự phát triển và tiến trình công nghiệp hóa ở miền Bắc Việt Nam.
Một buổi tối nọ, chúng tôi trò chuyện với ông Hoàng Tùng, Tổng Biên tập báo Nhân Dân, tờ báo lớn nhất miền Bắc Việt Nam, và cũng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động (Đảng của những người Công nhân) từ năm 1950. Vào những năm 1930, ông tham gia phong trào thanh niên và bị giam cầm từ năm 1940 đến năm 1945, khi người Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp. Ông phụ trách khu vực Hà Nội trong cuộc khởi nghĩa thắng lợi vào tháng 8 năm 1945, rồi sau đó tham gia Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống lại người Pháp, chiến đấu ở khu vực Đồng bằng sông Hồng. Ông cũng phác thảo cho chúng tôi về tiến trình lịch sử Việt Nam, mô tả tổ chức chính trị và xã hội hiện tại và các kế hoạch phát triển. Ông nói nhỏ nhẹ, đầy xúc động, về những cuộc đấu tranh trường kỳ này, về nỗi thống khổ của người dân, và về những vấn đề mà người dân phải đối mặt trong tương lai.
Những kẻ xâm lược [ông nói] đã buộc toàn thể nhân dân phải chiến đấu hoặc chấp nhận cái chết. Đất nước chúng tôi và các nước khác trên bán đảo Đông Dương đã trải qua đủ loại chính sách và phương thức chiến tranh. Đất nước chúng tôi đã là bãi thử nghiệm cho người Pháp, người Nhật và bây giờ là người Mỹ. Chúng tôi nghĩ rằng trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, chưa có một dân tộc nào phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh đến vậy.
Chỉ cần nhìn vào Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã thử chính sách ấp chiến lược, chính sách chiến tranh đặc biệt của Kennedy, chính sách chiến tranh cục bộ của Johnson, chính sách chiến tranh đặc biệt cục bộ [tức chính sách Việt Nam hóa chiến tranh - ND] của Nixon. Chúng tôi đã phải đối phó với đủ loại lý thuyết và học thuyết. Nhân dân chúng tôi không bị tiêu diệt. Trên thực tế, đế quốc Mỹ đã huy động mọi lực lượng mà họ có thể tập hợp. Hãy nhìn vào chính sách ấp chiến lược. Đây là một nỗ lực rất lớn. Đế quốc mỹ đã phá hủy hàng chục nghìn ngôi làng và bắt đi hàng triệu người. Sau đó, họ đưa nửa triệu binh sĩ vào. Họ tiến hành cuộc tập kích đường không vào miền Bắc. Chúng tôi không thể tìm thấy trong lịch sử nhân loại một sự tập trung oanh tạc có quy mô tới vậy. Chỉ riêng ở miền Nam Việt Nam, đã có 3 triệu tấn bom, cộng thêm các loại vũ khí khác, được rải xuống. Con số này vượt xa con số của Thế chiến thứ hai. Người Việt Nam chúng tôi là một dân tộc nhỏ bé. Chỉ có 37 triệu người. Giờ đây, chúng tôi đã đi tới giai đoạn này. Chúng tôi có thể đi tới cùng.
Vào năm 1954, ông kể thêm, “Chúng tôi đã không đủ cảnh giác; chúng tôi không lường trước một cuộc chiến khác.” Nhưng giờ đây, ông kể, chúng tôi hiểu rằng các lực lượng cầm quyền của Hoa Kỳ không muốn để châu Á thuộc về người dân của chính họ. Nixon có thể thành công trong việc huy động các lực lượng phản động của châu Á, nhưng các lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc cũng sẽ tập hợp lại với nhau. Sẽ có một cuộc đấu tranh trường kỳ: các lực lượng phản động chống lại các lực lượng nhân dân ở châu Á. Nhưng tinh thần dân tộc đang lên rất cao, và các lực lượng phản động không thể giành thắng lợi.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng phát biểu như vậy. Tổng thống Nixon, ông kể, dường như muốn mở rộng cuộc chiến. Campuchia là ví dụ.[2] Nhưng “thầy phù thủy không phải lúc nào cũng có thể kiểm soát được những gì y tạo ra”. Hoàng tử Sihanouk đã kêu gọi đấu tranh vũ trang, và 3 dân tộc Đông Dương giờ đây sẽ hợp nhất các cuộc đấu tranh yêu nước của họ. “Kỳ cùng, chính nghĩa mới là nhân tố quyết định, và chính nghĩa sẽ thắng thế”.
Chúng tôi hỏi liệu ông có hình dung ra một loại hình liên bang nào đó của các dân tộc Đông Dương trong tương lai xa không, và nhắc tới phát biểu gần đây của Thượng nghị sĩ Fulbright rằng Bắc Việt Nam, với tư cách là xã hội lớn mạnh nhất và năng động nhất, có khả năng thống trị khu vực. Thủ tướng [Phạm Văn Đồng] đồng ý rằng Bắc Việt Nam mạnh hơn các nước láng giềng ở Đông Dương, nhưng ông kịch liệt bác bỏ mọi khả năng thống trị khu vực này và bác bỏ bất kỳ ý nghĩ nào về liên bang trong tương lai gần. Ông cho biết ngay cả đối với việc thống nhất Việt Nam, hiện không thể đưa ra một kế hoạch cụ thể nào, một “bản thiết kế” nào.
Bán đảo Đông Dương phải được tự do và độc lập. Nam Việt Nam, Campuchia và Lào sẽ trung lập. Với tình hình hiện tại, đây là một viễn cảnh có thể xảy ra. Chỉ có Nixon phản đối điều này.
Thật thú vị khi ông Phạm Văn Đồng nhắc lại công thức do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đề xuất vào năm 1962 nhưng bị phớt lờ, thậm chí bị đàn áp, ở Hoa Kỳ: cụ thể đề xuất ấy cho rằng Nam Việt Nam, Lào và Campuchia phải trung lập. Khi đó, cũng như bây giờ, đây là một đề xuất rất hợp lý và là một kết cục có thể xảy ra nếu Hoa Kỳ rút khỏi khu vực. Khi đó, cũng như bây giờ, chẳng có triển vọng nào có thể hiện thực hóa việc trung lập hóa Nam Việt Nam, Lào và Campuchia vì người Mỹ khăng khăng giữ các nước này trong quỹ đạo ảnh hưởng của mình, cùng với vùng ngoại vi của khối lục địa châu Á.
Thủ tướng [Phạm Văn Đồng] cũng bày tỏ sự tin tưởng vào tương lai. “B-52 và máy tính không thể cạnh tranh với chính nghĩa và trí thông minh của con người”, ông nói. Nhân dân Việt Nam và các dân tộc khác ở Đông Dương vẫn phải trải qua nhiền gian lao, song cuối cùng họ sẽ giành thắng lợi.
Dĩ nhiên, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà lãnh đạo đất nước tỏ ra tự tin trước các vị khách nước ngoài. Tuy nhiên, tôi không cảm thấy có sự thay đổi nào trong tâm trạng này trong các lần trò chuyện với những người Việt Nam khác. Những người tôi gặp không hề tỏ ra huênh hoang, chỉ có một niềm tin thầm lặng vào sự chính nghĩa trong mục tiêu của họ và vào việc cuối cùng sẽ giành được độc lập cũng như đánh bại sự xâm lược của ngoại bang.
Những câu chuyện cá nhân mà họ kể đôi khi đau lòng đến mức không thể chịu đựng nổi. Chúng tôi có vài giờ rảnh rỗi vào buổi chiều cuối cùng ở Hà Nội, và được đưa đi tham quan thành phố. Tại “Công viên Thống Nhất”, ở gần một hồ nước với những hàng cây mới trồng đặc trưng của miền Nam Việt Nam bao quanh, người phiên dịch của tôi đã kể cho tôi nghe đôi điều về cuộc đời của anh ấy.
Ông là người gốc miền Nam, đến từ tỉnh Quảng Ngãi. Ông đã gia nhập Việt Minh từ khi còn trẻ, rồi sau đó cùng cha tập kết ra Bắc vào năm 1954, bỏ lại mẹ và các chị em gái ở quê nhà. Ông mong đợi sẽ trở về vào năm 1956 sau cuộc bầu cử đã được hứa hẹn để thống nhất đất nước. Kể từ đó đến nay, ông không hề nhận được tin tức gì từ bất kỳ người thân nào trong gia đình ở miền Nam. Hoa Kỳ không chỉ ngăn cản cuộc bầu cử mà còn hành động ngay lập tức để ngăn chặn mọi cách liên lạc, thậm chí cả thư từ, giữa miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam.
Ông chỉ có thể đoán được gia đình và bạn bè ông đã phải chịu đựng những gì kể từ đó. Với một chút miễn cưỡng, tôi đã kể cho ông nghe những tin tức gần đây mà tôi biết được về tỉnh Quảng Ngãi, nơi bị tấn công dã man hơn bất kỳ mảnh đất nào khác ở Việt Nam. Giờ tôi đã về nước, tôi tự hỏi bản thân liệu mình có nên gửi cho ông cuốn sách của Jonathan Schell về sự tàn phá của người Mỹ ở tỉnh Quảng Ngãi không? Hay gửi cho ông những lời kể của Bác sĩ Alje Vennema, giám đốc một bệnh viện lao của Canada tại tỉnh Quảng Ngãi cho tới tháng 8 năm 1968, khi ông ấy rời đi với cảm giác là mình chẳng thể làm được gì có ích ở đó nữa, ghi lại rằng “sự phục vụ của tôi là vô ích” không?
Bác sĩ Vennema cho biết rằng ông không làm được gì về những cuộc tàn sát ở Mỹ Lai, vụ việc mà ông đã biết ngay tức thì, “vì đó không phải là chuyện mới mẻ”:
Những sự kiện đó được người dân Việt Nam bàn tán, nhưng không nhiều hơn những vụ việc khác [chẳng hạn như vụ thảm sát ở Sơn Trà vào tháng 2 năm 1968 và một vụ việc tương tự khác vào mùa hè ở quận Mộ Đức] …. Tuy nhiên, tôi đã nghe được những câu chuyện kiểu này nhiều lần trước đây và đã nói chuyện với các quan chức Hoa Kỳ và Canada về những vụ giết hại dân thường vô nghĩa rằng đang diễn ra … [những] vụ đánh bom vô nghĩa.
Theo một cuộc phỏng vấn với Bác sĩ Vennema trên tờ Ottawa Citizen, tỉnh này
… đã trở thành “vùng đất không người” với một nửa dân số sống trong các trại tị nạn, trẻ em chết đói, nhiều đất đai và cây cối bị tàn phá. Các bệnh nhân của ông liên tục kể với ông về việc gia đình và bạn bè của họ bị bắn, và cứ mỗi lần ông điều trị vết thương do cuộc chiến gây ra cho một đứa trẻ, “năm đứa trẻ khác lại được đưa đến”. … Clair Culhane, người làm việc tại bệnh viện Lao Canada ở Quảng Ngãi vào năm 1968 trong vai trò là người điều hành, cho biết một báo cáo được nộp từ bệnh viện vào tháng 4 năm 1968 đã đề cập tới những khó khăn khi làm việc trong một khu vực có người Mỹ “khoe khoang về sự tàn bạo và thảm sát mà họ tham gia vào”.[3]
Tôi có nên gửi cho người phiên dịch của tôi, ông Trí, những cuốn sách hiện đang xuất bản về vụ thảm sát Mỹ Lai, hay về tội ác chiến tranh khủng khiếp hơn nhiều ở Quảng Ngãi, hay ở bất kỳ nơi nào khác trên đất nước đang chống lại sự cai trị của người Mỹ không?
Ông Trí biết hầu hết những điều này, và nói về chúng với sự điềm tĩnh đến lạ thường. Điều đáng chú ý là ông ấy không cảm thấy hận thù, không thù địch với người Mỹ, mà thay vào đó là sự tò mò lớn về cuộc sống của người Mỹ, sự đồng cảm với “tình cảnh khó khăn” của những người trong phong trào hòa bình bị buộc phải “đấu tranh chống lại Chính phủ của họ”, thậm chí là sự đồng cảm với những người lính và phi công bị lừa tham gia vào cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” |sale guerre| của người Mỹ ở Việt Nam.
Ở tỉnh Thanh Hóa, gần tỉnh lị của tỉnh, chúng tôi đã tới thăm một nhà máy nằm sâu trong lòng núi. Khoảng từ 30 đến 35 người đàn ông và phụ nữ làm việc ở đó sử dụng các công cụ máy móc để sản xuất các bộ phận cho xe buýt và xe tải. Thường thì có hai người đứng làm việc ở cùng một máy, một thợ lành nghề, một thợ tập sự. Trong một góc hang ẩm ướt và thiếu sáng, bên tách trà và ly bia, người quản lý kể cho chúng tôi nghe về việc toàn bộ nhà máy đã được phân tán tới những địa điểm như thế này trong “cuộc tập kích đường không hủy diệt”. Bản thân ngọn núi đã bị thả bom dữ dội, song các nhà máy bên trong hang không bị hư hại, bởi vì cái hang được đục đẽo bằng tay trong lúc cuộc dội bom diễn ra.
Sau đó, những người công nhân trong hang tụ tập ở cuối bàn nơi chúng tôi đang ngồi và, như một sự chào đón, hát những bài ca, yêu nước và tình cảm, và ngâm thơ. Toàn bộ trải nghiệm này khiến tôi cảm thấy vô cùng xúc động. Khi rời đi, tôi thề với lòng mình sẽ không nói hay viết về chuyện đó, vì biết rằng một người phương Tây có văn hóa có thể phản ứng ra sao. Hãy để bạn đọc nghĩ theo ý họ. Thực tế là, thật vô cùng xúc động khi thấy tinh thần của những người dân ở nơi khốn khổ này, họ làm việc, trước tất cả những trở ngại mà sức mạnh của người Mỹ có thể tạo ra, để bảo vệ đất nước của họ và tìm con đường bước vào thời đại hiện đại.
Chúng tôi rời nhà máy trên một con đường đất băng qua những cánh đồng đầy hố bom, và đi tới một hợp tác xã nông nghiệp nằm ở vùng hẻo lánh, cách xa quốc lộ. Trong lúc uống trà và bia, bà chủ tịch [hợp tác xã], một người phụ nữ trẻ độ chừng 20 tuổi, đã kể cho chúng tôi thông tin chi tiết về hoạt động sản xuất và tổ chức làng, đồng thời trả lời một số câu hỏi về các kế hoạch và những niềm hy vọng của họ. Hai phần ba số công nhân trong làng làm nghề thủ công, chủ yếu là dệt. Họ hy vọng sẽ nhận được máy móc từ nhà nước cho ngành công nghiệp này, hiện đã được tập thể hóa một phần. Các cánh đồng được canh tác thâm canh, như chúng tôi nhìn thấy khi ngồi trên xe chạy ngang qua, và giống như hầu hết các ngôi làng khác trong cả nước, họ hiện đã đạt được hai vụ thu hoạch một năm trên các cánh đồng lúa của mình, tăng gấp đôi sản lượng trước đây đồng thời đa dạng hóa đáng kể các loại cây trồng của họ. Con đường dẫn vào làng và đến các cánh đồng trong khu vực đều được trồng đầy những cây thông non, chúng được trồng trong một chiến dịch tái trồng rừng gần đây, và những dấu vết của chúng có thể thấy ở khắp nơi.
Chúng tôi đã dành nhiều giờ ở hợp tác xã, ghé thăm một trạm xá nhỏ và hai trường học. Trạm y tế sạch sẽ và được trang bị khá đầy đủ, có các khu vực dành cho Tây y và Đông y. Bên ngoài hiệu thuốc Đông y có những giỏ đựng nhiều loại thảo dược khác nhau, hầu hết là từ khu vườn của trạm xá. Tất cả trẻ em hiện đều được sinh ra tại khu sản khoa của trạm.
Khi chúng tôi đến đó, các phòng bệnh đều trống không. Chỉ có vài bệnh nhân ở phòng khám, và ở khu sản khoa, một số người phụ nữ đang trò chuyện với một bà mẹ trẻ có đứa con mới chào đời đang nằm trong cũi ở phòng bên cạnh. Chúng tôi được cho biết rằng các bệnh truyền thống (sốt rét, đau mắt hột) hầu như không tồn tại. Họ có ý định duy trì y học cổ truyền và y học phương Tây song song, nhưng tôi nhận thấy rằng ở khoa Đông y, các thầy thuốc và dược sĩ đều lớn tuổi hơn nhiều. Có một bệnh viện huyện lớn hơn dành cho các ca bệnh nghiêm trọng hơn. Tôi không hỏi rằng liệu bệnh viện tỉnh lớn, bị phá hủy trong cuộc tập kích đường không, đã được xây dựng lại ở nơi nào đó khác chưa.
Chúng tôi ngồi trong một lớp học toán (lớp 7, trẻ em từ 12 đến 14 tuổi) một lúc. Có 45 em đang học môn hình học. Tôi xem qua một số vở của các em, trong đó có những bài toán đại số ở cấp độ khá nâng cao được giải gọn gàng. Tiết học diễn ra sôi nổi. Trẻ em cố gắng giải các bài toán chứng minh định lý trong khi giáo viên phác thảo các đề xuất của chúng trên bảng đen. Trình độ học tập rất cao, dễ dàng sánh ngang với bất kỳ chương trình nào mà tôi biết ở Hoa Kỳ. Thật đặc biệt ấn tượng khi nhìn thấy một tiết học như vậy ở một ngôi làng ở nơi xa xôi hẻo lánh, nơi mà cách đây một thế hệ trải qua nạn mù chữ.
Chúng tôi được cho biết rằng trình độ biết đọc biết viết ở người lớn gần như được phổ cập trong vài năm qua, và ở tỉnh nông nghiệp có 2 triệu dân này, mọi người đều học hết lớp 10[4] và khoảng 800 sinh viên vào đại học mỗi năm, trong khi khoảng 200 người đi du học, hầu hết (có lẽ là tất cả—tôi không chắc) trong số họ tới Đông Âu. Về nguyên tắc, họ phần lớn được mong đợi sẽ trở về làng. Tuy nhiên, chiến tranh đã phá vỡ khuôn mẫu bình thường đã định này.
Sau đó, chúng tôi được biết rằng đây là một ngôi làng có điều kiện kinh tế trung bình, không thuộc nhóm nghèo nhất cũng không thuộc nhóm giàu nhất trong khu vực, và tôi hiểu rằng chuyến thăm của chúng tôi nhằm mục đích động viên tinh thần người dân trong làng. Những người nông dân có vườn riêng, và có một khu chợ tự do bên cạnh khu chợ nhà nước – theo đúng nghĩa đen là nằm cạnh nhau, như chúng tôi đã thấy sau đó ở Hà Nội, nơi cả hai khu chợ đều cùng nằm dưới một mái nhà. Trên các góc phố ở Hà Nội, người ta vẫn thấy những người phụ nữ nông dân bán nông sản của họ. Tuy nhiên, có vẻ như không có nhiều động lực để những người nông dân sử dụng thị trường tự do, vì theo tôi hiểu, giá nông sản do nhà nước ấn định được đặt ở mức cao một cách giả tạo theo chính sách bình đẳng hóa các tiêu chuẩn sống ở nông thôn và thành thị.
Vẫn còn một số nông dân chưa tham gia hợp tác xã, nhưng rõ ràng là không nhiều, những lợi ích của việc tham gia khá rõ ràng, bao gồm không chỉ sự hỗ trợ của nhà nước mà còn cả những lợi ích đạt được thông qua sự tương trợ lẫn nhau. Trên đường tới làng, chúng tôi thấy các nhóm đang làm việc trên các dự án thủy lợi, xây dựng các con đê và kênh đào lớn, và những công trình thủy lợi đã hoàn thành từ các dự án trước đó có thể được nhìn thấy ở khắp nơi. Các dự án thủy lợi lớn được nhà nước xây dựng; các dự án địa phương được phát triển theo hình thức tổ chức khu vực và do chính các làng tự quản lý.
Về nguyên tắc, hợp tác xã dự kiến sẽ dành ra từ 1 tới 5% thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và một tỷ lệ phần trăm khác nhau của thu nhập từ các hoạt động sản xuất khác để phát triển, có lẽ là theo sáng kiến độc lập của làng. Một cuộc họp chung của hợp tác xã sẽ đưa ra quyết định về các vấn đề như vậy, đồng thời đặt ra tỷ lệ tích lũy và chương trình phát triển, chẳng hạn như quyết định có nên xây dựng trường học hay không, có nên làm thêm để kiếm thêm lợi nhuận hay không, vân vân. Một cuộc họp thường niên của tất cả các thành viên trưởng thành sẽ chọn ra một ủy ban điều hành cho hợp tác xã.
Chúng tôi cũng được cho biết rằng trong xã hội nông dân truyền thống Việt Nam có một mức độ tương trợ nhất định và một số đất đai cộng đồng, cũng như sự độc lập đáng kể của làng xã và khu vực. Diện tích đất đai bị giới hạn bởi “phép vua”. Dưới thời Pháp, điều này đã thay đổi. Quyền sở hữu đất đai tự do được cho phép và các đồn điền lớn cũng được phát triển, nhất là ở miền Nam. Người Công giáo đặc biệt được hưởng đặc quyền, và nhiều linh mục và tổng giám mục đã trở thành những đại điền chủ. Các điền trang phong kiến lớn phát triển “nơi cò bay thẳng cánh”. Có rất ít sự tăng trưởng, cả công nghiệp lẫn nông nghiệp. Bấy giờ, những nỗ lực lớn đang được thực hiện, hình như là đã thành công, để mở rộng hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển ngành công nghiệp trong khu vực liên quan tới các nhu cầu của địa phương.
Nhà địa lý học người New Zealand Keith Buchanan đã thảo luận về những thành tựu ban đầu của cuộc cách mạng Việt Nam trong một bài tổng quan về các vấn đề của sự phát triển trong xã hội nông dân châu Á.[5] Ông kết luận rằng
…những thành tựu của miền Bắc Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế là đáng kể và chúng chứng minh cho phần còn lại của Đông Nam Á thấy những điều kiện để có thể đạt được sự tiến bộ kinh tế thực sự. Những thành tựu trong lĩnh vực văn hóa xã hội, cụ thể hơn là trong lĩnh vực chính sách đối với các dân tộc thiểu số, cũng đáng kinh ngạc không kém và về lâu về dài, những thành tựu này có thể còn có ý nghĩa lớn hơn đối với các nước láng giềng ở Đông Nam Á.
Dĩ nhiên, ông đã viết trước khi các vụ thả bom phá hủy hầu hết những thành tựu ban đầu của quá trình công nghiệp hóa.[6]
Quá trình đa dạng hóa [hoạt động sản xuất - ND] trong khu vực được cuộc tập kích đường không thúc đẩy, và hiện nay rõ ràng là sẽ được duy trì và mở rộng. Chắc chắn đây là một sự phát triển rất lành mạnh. “Giá có thể cao hơn và chất lượng không phải lúc nào cũng tốt, nhưng hàng hóa được sản xuất cho các nhu cầu địa phương và tự cung tự cấp ở mỗi tỉnh”, ông Hoàng Tùng đã kể cho chúng tôi biết khi chúng tôi thảo luận về những vấn đề này ở Hà Nội. Hoạt động đào tạo công nhân lành nghề được đặc biệt chú trọng. Hoạt động công nghiệp nặng sẽ phải chờ đợi, vì các kế hoạch hiện tại là phát triển ngành nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ liên quan tới hoạt động nông nghiệp và các nhu cầu của địa phương.
Đất nước này có nguồn cung dồi dào về các kim loại, than đá và những nguyên vật liệu khác cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, và có thể phát triển nguồn năng lượng thủy điện dồi dào khi mối đe dọa từ hoạt động thả bom được loại bỏ. Xét tới các tiêu chuẩn cao đáng kể về giáo dục và y tế trải rộng tới các vùng sâu vùng xa cũng như tới các trung tâm đô thị, có vẻ như mọi khả năng phát triển công nghiệp có thể được hiện thực hóa, và miền Bắc Việt Nam có thể tránh được việc trở thành một Manila, một Bangkok hoặc một Sài Gòn—một nền văn hóa tiêu dùng giả tạo cho một nhóm thiểu số đặc quyền giữa các khu ổ chuột đô thị và tình trạng trì trệ ở vùng nông thôn.
Mặc dù có vẻ như mức độ tham gia dân chủ ở cấp thôn và cấp khu vực khá cao, và có mức độ tự do nhất định trong việc kế hoạch hóa một cách độc lập ở những cấp độ này—chắc chắn là bị hạn chế bởi những yêu cầu cấp bách của chiến tranh—nhưng các cơ quan nhà nước vẫn tập trung cao độ hoạt động kế hoạch hóa chính. Như ông Hoàng Tùng đã giải thích, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đề ra các đường lối chính sách chung. Các kế hoạch này được thực hiện bởi những cơ quan chính phủ do Quốc hội lựa chọn, những cơ quan này cũng soạn thảo các bản kế hoạch cụ thể. Các bộ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, cơ quan được bầu trực tiếp từ các huyện địa phương trải dài trên cả nước, bao gồm cả các bộ tộc ở miền núi, những người được đại diện đầy đủ. Các nhà quản lý của những xí nghiệp địa phương được các bộ của chính phủ lựa chọn, mỗi cơ quan phụ trách một ngành kinh tế khác nhau.
Mỗi nhà máy đều tổ chức đại hội toàn thể công nhân mỗi năm một lần, và người quản lý phải báo cáo tại đại hội này. Một chi bộ đảng trong nhà máy, bao gồm từ 10 đến 20% lực lượng lao động, đưa ra lời khuyên cho người quản lý. Ngoài ra còn có một tổ chức công đoàn dường như chủ yếu quan tâm tới các chương trình giáo dục và phúc lợi. Ngoài ra, trong mỗi xưởng, còn có các tổ sản xuất gồm những người thợ lành nghề và không lành nghề, và rõ ràng là có những bản kế hoạch, mà tôi không có thời gian để tìm hiểu chi tiết, nhằm sắp xếp lại cơ cấu tổ chức nội bộ của các doanh nghiệp khác nhau.
Phần tường thuật này dựa trên thông tin được cung cấp trong những cuộc trò chuyện với các viên chức ở nhiều cấp bậc khác nhau trong chính quyền và những người am hiểu vấn đề mà tôi đã gặp. Rõ ràng là tôi không có khả năng để làm rõ phần tường thuật với những ấn tượng chi tiết hoặc với các kết quả của việc tìm hiểu cá nhân.
Vai trò trung tâm của Đảng Lao động Việt Nam trong việc kế hoạch hóa được nhấn mạnh trong các văn kiện chính của chính phủ. Lê Duẩn, trong bài “analysis of the great problems, essential tasks, and principles and methods of action of the Vietnamese revolution” [tạm dịch: phân tích những vấn đề cơ bản, các nhiệm vụ thiết yếu trong nguyên tắc và phương pháp hành động của cách mạng Việt Nam] gần đây của ông[7] đã nhấn mạnh rất nhiều vào vai trò cai quản này của chính phủ:
Nhiệm vụ quan trọng của tổ chức kinh tế là xác định đúng đắn những mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân trong vấn đề quản lý kinh tế. Với tư cách là người chỉ huy và tham mưu trưởng của đội quân xây dựng kinh tế, Đảng có nhiệm vụ xác định đường lối và biện pháp cơ bản, xác định các nguyên tắc lãnh đạo, chương trình và phương pháp, huy động quần chúng nhân dân tiến hành một cuộc tấn công mạnh mẽ trên mặt trận kinh tế, giám sát hoạt động của các cơ quan chính phủ. Sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử, đảm bảo cho nền kinh tế của chúng ta phát triển kinh tế theo một định hướng nhất định, bảo vệ các quyền và lợi ích của những tầng lớp dân cư khác nhau và không ngừng củng cố vai trò quản lý của nhân dân.
Trong cuộc cách mạng nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng, Đảng ta không có lợi ích riêng nào. Toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như mỗi nhà máy và mỗi thửa ruộng, đều là tài sản của nhân dân, dưới nhiều hình thức khác nhau và trong những điều kiện kinh tế và kỹ thuật khác nhau. Thực tế khách quan này đòi hỏi Đảng phải sắp xếp các phương thức dẫn dắt khác nhau phù hợp với từng trường hợp (công nghiệp, nông nghiệp, nhà máy, hợp tác xã) và cho phép Đảng duy trì vai trò lãnh đạo của mình, đảm bảo rằng các đặc quyền quản lý của chính quyền được tôn trọng và đồng thời đảm bảo cho quần chúng nhân dân được trực tiếp thực hiện quyền cai trị của họ.
Bài phát biểu của Lê Duẩn về chính sách cho thấy rõ mức độ mà cuộc cách mạng Việt Nam, ít nhất là ở trạng thái hiện tại, là một cuộc cách mạng hiện đại hóa và phát triển:
“Thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm tất cả các khoản chi tiêu không cần thiết, kiên quyết dành vốn tích lũy là một đòi hỏi hàng đầu, thể hiện trình độ nhận thức chính trị cao độ đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cuộc cách mạng về phát triển này, được làm rõ, phải là sự nghiệp của quần chúng nhân dân và phải bao gồm sự tham gia trực tiếp và tự giáo dục. Trong tình trạng hiện tại của xã hội Việt Nam, sự quản lý kinh tế
…phải rất linh hoạt, phù hợp với các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và của quá trình phát triển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn; phải kết hợp sự lãnh đạo thống nhất của trung ương với quyền quản lý của các ngành, vùng và đơn vị khác nhau ở cơ sở; phải mở rộng hệ thống kế hoạch hóa đồng thời tận dụng các mối quan hệ thị trường khi thích hợp [… để điều tiết các chỉ số kinh tế và những hoạt động kinh tế có tầm quan trọng thứ yếu không nằm trong kế hoạch tổng thể…] và mở rộng phạm vi kế toán tổng quát; phải thúc đẩy cả lợi ích vật chất lẫn hoạt động giáo dục chính trị, hệ tư tưởng, giáo dục xã hội chủ nghĩa, cho quần chúng nhân dân.
Tất cả những nhiệm vụ này có tương thích hay không là điều chưa rõ ràng, và chúng ta vẫn còn phải xem chúng có thể được thực hiện như thế nào. Các kế hoạch hiện tại có vẻ là sự kết hợp giữa hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản, các khuôn mẫu xã hội và văn hóa truyền thống của Việt Nam, những nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế thời chiến và các vấn đề chung về quá trình hiện đại hóa và phát triển. Tôi đoán rằng, nếu không bị cản trở bởi sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc, người Việt Nam sẽ phát triển một xã hội công nghiệp hiện đại với sự tham gia nhiều của người dân vào quá trình thực hiện và với nhiều tính dân chủ trực tiếp ở các cấp tổ chức thấp hơn. Đó sẽ là một xã hội bình đẳng cao với những điều kiện tuyệt vời về phúc lợi và giáo dục kỹ thuật, nhưng với mức độ tập trung quyền kiểm soát mà về lâu dài sẽ gây ra những vấn đề nghiêm trọng chỉ có thể khắc phục được nếu loại bỏ sự lãnh đạo để ủng hộ sự kiểm soát trực tiếp của nhân dân ở mọi cấp.
Hiện tại, giới lãnh đạo dường như đang tiếp cận những vấn đề này theo cách linh hoạt và khôn ngoan. Nhưng những vấn đề trong việc tạo ra một xã hội công nghiệp hiện đại, bình đẳng, dân chủ không hề nhỏ. Chúng vẫn chưa được giải quyết thành công ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, và sẽ vô cùng thú vị khi thấy chúng sẽ được đối mặt như thế nào trong tương lai, nếu người Việt Nam được trao cơ hội giải quyết các vấn đề nội bộ của họ trong các điều kiện về độc lập và hòa bình mà họ hiện đang đấu tranh để đạt được.
Richard Gott, một nhà báo có nhiều kinh nghiệm ở các nước kém phát triển, đã tóm tắt những ấn tượng của mình sau chuyến đi gần đây cho tờ The Manchester Guardian như sau:
Đối với bất kỳ người nào quen thuộc với các nông thôn kém phát triển trên thế giới, nhất là ở khu vực Mỹ Latinh, miền Bắc Việt Nam không phải là một vùng đất nghèo đói cùng cực. Dân số thì nghèo, tất nhiên là thế, nhưng không “khốn khổ”— cái kiểu nghèo đói cùng cực khủng khiếp mà người ta thường bắt gặp ở các nước thuộc Thế giới thứ ba.
Dĩ nhiên là vẫn có những sự bất bình đẳng. Hà Nội giàu hơn vùng nông thôn. Vùng đồng bằng [sông Hồng] giàu hơn “dải đất hẹp” [Bắc Trung Bộ]. Vùng núi có mật độ dân số thấp hơn và nguồn gỗ dồi dào hơn. Nhưng bằng cách loại bỏ người giàu và tránh tình trạng nghèo đói cùng cực, Việt Nam tạo nên ấn tượng về một xã hội thịnh vượng, gắn kết, độc đáo trong thế giới kém phát triển.
Ông trích dẫn lời một cụ già ở một tỉnh phía Nam:
Khi một địa chủ đi qua trên đường, những người nông dân thường khoanh tay và cúi chào. Phải tới khi chúng tôi có cải cách ruộng đất, chúng tôi mới có thể thoát khỏi sự ảnh hưởng của giới địa chủ. Đây là khó khăn lớn nhất của chúng tôi. Những người nông dân Việt Nam đã sống dưới ách thống trị của các lãnh chúa phong kiến trong hàng nghìn năm. Về mặt tâm lý, họ rất phục tùng địa chủ. Bất cứ khi nào muốn làm gì, họ đều cảm thấy phải hỏi ý kiến của địa chủ trước. Về cơ bản, những người nông dân có thái độ rất bảo thủ và vô cùng xấu tính. Họ phải được giáo dục. Đây là vấn đề lớn nhất.
Như Gott lưu ý, cuộc cải cách ruộng đất năm 1954 đã để lại một hậu quả khủng khiếp; đó là “một sự việc hỗn loạn, với hàng nghìn người lợi dụng cơ hội để trả nợ cũ”, và hàng nghìn người đã thiệt mạng trong tình trạng bùng phát bạo lực và khủng bố.[8] Dưới góc nhìn của ông, cuộc cải cách này cũng đặt nền móng cho một xã hội mới đã vượt qua nạn đói và cảnh khốn cùng ở vùng nông thôn và mang tới cho người nông dân hy vọng về tương lai:
Sự thay đổi quan trọng nhất nằm ở bản thân những người nông dân. Thật khó để tìm thấy một dân tộc nào có mục đích hoặc quyết tâm hơn lúc này. Không còn thái độ phục tùng khúm núm đáng sợ thường thấy ở những người nông dân Mỹ Latinh— những người vẫn bị giới địa chủ áp bức hàng thế kỷ và trở nên lãnh đạm. Sự ra đi của giới địa chủ đã gỡ bỏ một ách thống trị khỏi giai cấp nông dân và giải phóng một lực lượng mạnh mẽ chưa từng có.
Học giả Anh quốc chuyên nghiên cứu về Trung Quốc Jack Gray gần đây đã tóm tắt lý thuyết phát triển kinh tế xã hội của Mao như là việc nhấn mạnh sự cần thiết phải
… khuyến khích những người dân làng dần dần, thông qua nỗ lực của chính họ hướng tới một công nghệ trung gian, cơ giới hóa bằng các nguồn lực của riêng họ và vận hành máy móc bằng chính đôi tay của họ, trong một môi trường mà công nghiệp địa phương, cơ giới hóa nông nghiệp, đa dạng hóa nông nghiệp và giáo dục (cả chính quy và phi chính quy) phát triển từ các hoạt động này cùng nhau làm giàu cho nhau.[9]
Tương tự như vậy, “các hợp tác xã sẽ do cán bộ nông dân điều hành vì lợi ích của những người nông dân”. Từ những gì tôi thấy và đọc được, tôi cho rằng miền Bắc Việt Nam đang áp dụng thành công các khái niệm phát triển này.
Để hiểu được thành tựu phát triển đáng chú ý như thế nào ở miền Bắc Việt Nam, chúng ta hãy quay lại một số dự báo được các chuyên gia am hiểu nhất đưa ra vào giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Bernard Fall, viết vào năm 1954, coi tình hình ở miền Bắc là gần như vô vọng:
Miền Nam là “lá phổi thép” của đất nước này, với nguồn cung gạo khổng lồ và các mặt hàng xuất khẩu mang lại ngoại tệ như cao su, tiêu, cà phê và gỗ quý. Rõ ràng là, nếu không còn miền Nam, chế độ Hồ Chí Minh sẽ phải đối mặt với nạn đói – giống như năm 1946 khi bị tước mất nguồn hàng nhập khẩu từ miền Nam – hoặc bị hội nhập vào nền kinh tế của “Trung Hoa Đỏ”, điều này tương đương với việc sáp nhập.[10]
VNDCCH đã bị cắt đứt khỏi miền Nam bởi sự gian dối và vũ lực của người Mỹ. Đất nước này đã bị ném bom dữ dội và bị cuốn vào một cuộc chiến tàn khốc. Nhưng chẳng hề có nạn đói – hoàn toàn không. Và đất nước này cũng không bị tích hợp vào nền kinh tế của người Trung Quốc. Những thành tựu của đất nước này, thực sự, rất đáng chú ý.
Một mục đích của trận thả bom miền Bắc [Việt Nam] của người Mỹ, theo mô tả của Gérard Chaliand, là “làm suy sụp tinh thần của công dân thường cho tới khi, trực tiếp hoặc gián tiếp, họ gây sức ép buộc chính quyền Hà Nội phải cầu xin hòa bình”. Do đó, trận bom nhằm vào
… phá hỏng công sức kiên trì, gian khổ của nhiều năm trời. Trong một thế giới mà vấn đề cơ bản chắc chắn là sự lạc hậu và nghèo đói của hai phần ba hành tinh, chính phủ Hoa Kỳ—bất kể họ có viện ra lý do gì—đã phá hủy một cách có hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế của một trong ba hoặc bốn đất nước “kém phát triển” đã đặt nền móng nghiêm túc cho quá trình công nghiệp hóa của chính họ…. Theo góc nhìn của hầu hết những đất nước—nhất là các quốc gia mới thành lập—sự can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam là một nỗ lực nhằm bóp nghẹt nền độc lập và phẩm giá dân tộc. [Xem chú thích 6.]
Tôi tin rằng đánh giá này hoàn toàn chính xác. Nỗ lực phá hoại đã thất bại thảm hại. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, tinh thần độc lập và phẩm giá dân tộc rất cao, và người Việt Nam đang tiến hành đặt nền móng cho một xã hội hiện đại.
Tôi phần nào cảm nhận được thành tựu của họ trong khía cạnh này qua các cuộc thảo luận với các nhà khoa học và giới trí thức Việt Nam. Sau một cuộc họp dài và rất hiệu quả, tôi được yêu cầu thuyết trình về công trình nghiên cứu hiện tại trong lĩnh vực ngôn ngữ học tại Đại học Bách khoa, và tôi có thể thuyết trình trong khoảng 7 giờ, cho một nhóm khoảng 70 hoặc 80 nhà ngôn ngữ học và nhà toán học.
Công trình của họ, trong lĩnh vực khoa học và học thuật khá xa xôi này, đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Tôi thuyết giảng gần giống những gì tôi đã làm ở Tokyo, Oxford hoặc Sorbonne. Họ không quen thuộc với công trình gần đây nhất do thiếu tài liệu, nhưng tôi tin rằng nếu vấn đề này được khắc phục, họ có thể bắt kịp những người khác—và việc tôi giúp họ khắc phục nó, trong mọi lĩnh vực, là một nỗ lực nhỏ mà người Mỹ có thể làm trong nhiệm vụ bất khả thi là bù đắp cho sự tàn phá phần lớn những gì người Việt Nam đã tạo dựng với tinh thần khởi tạo, sự siêng năng và lòng dũng cảm đáng kinh ngạc đến vậy.
Một trong những thành viên của nhóm tại Đại học Bách khoa từng học ở Đông Berlin tại một trong những trung tâm ngôn ngữ học hàng đầu trên thế giới. Ngoài những gì ông ấy có thể đóng góp, nhóm đã tận dụng tối đa những nguồn lực ít ỏi hiện có. Các nhà khoa học và trí thức khác cũng rất háo hức thảo luận về công trình hiện tại và chương trình giảng dạy, và lắng nghe về những đồng nghiệp mà họ biết hoặc thỉnh thoảng gặp nhau tại các hội nghị quốc tế. Theo đánh giá của tôi, công trình nghiên cứu trong một số chuyên ngành toán học cũng rất xuất sắc, mặc dù ở đây cũng có vấn đề chung về việc tiếp cận các công trình nghiên cứu gần đây. Vấn đề không chỉ giới hạn ở các lĩnh vực kỹ thuật và khoa học. Vì vậy, một giáo sư về văn học Mỹ đã đến trò chuyện với tôi về các tác phẩm văn học hiện tại — ông ấy đã không đọc một cuốn tiểu thuyết Mỹ nào trong và muốn biết cụ thể là Norman Mailer đã làm gì trong những năm gần đây.
Các sinh viên nhìn chung đều đọc được tiếng Anh, nhưng do không quen với ngôn ngữ nói nên không thể theo dõi được bài giảng chuyên ngành. Những người phiên dịch, dù rất giỏi trong các cuộc thảo luận chung, nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn khi nội dung trở nên chuyên sâu và phức tạp hơn. Một người phiên dịch đã cố gắng phiên dịch trong khoảng một giờ, rồi sau đó xin lỗi và đề nghị được thay thế. Một người phiên dịch khác cũng đã nỗ lực hết mình, nhưng vấn đề vẫn rất nghiêm trọng. Khi họ loay hoay, một cụ ông lớn tuổi trong khán phòng đã cắt ngang, sửa các lỗi phiên dịch hoặc giải thích những điểm khó hiểu. Rõ ràng là ông ấy đã theo dõi mọi thứ rất tốt và hiểu rõ nội dung mà tôi đang cố gắng trình bày. Cuối cùng, ông ấy đã hoàn toàn đảm nhiệm việc phiên dịch, và dịch trong nhiều giờ mà không dừng nghỉ chút nào.
Tôi được giới thiệu với ông ấy sau đó. Ông là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học [và Chuyên nghiệp] của miền Bắc Việt Nam, Tạ Quang Bửu, một nhà toán học có tiếng, ông từng gửi cho tôi một bản in lại về ngôn ngữ học toán học cách đây vài năm, mà tôi không thể đọc được vì nó được viết bằng tiếng Việt, nhưng tác phẩm ấy làm tôi ngạc nhiên vì tính gần gũi của nó – giữa lúc cuộc tập kích đường không [của Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam] đang diễn ra – với nội dung chuyên ngành hiện tại. Tôi không nghĩ tới việc hỏi lại thông tin về ông, mà tôi cho rằng đây chính là ông Tạ Quang Bửu, một vị tướng trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Sau đó, chúng tôi chỉ có một chút thời gian ngắn ngủi để trò chuyện với nhau, điều này khiến tôi rất thất vọng. Tôi nghĩ rằng có rất ít đất nước mà Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học lại có thể đảm nhận hoặc sẵn lòng làm nhiệm vụ phiên dịch một bài giảng chuyên ngành chuyên sâu như thế này. Tôi cũng rất ấn tượng bởi sự gần gũi dễ chịu trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm và chất lượng của các cuộc tranh luận và thảo luận trong suốt buổi nói chuyện.
Sau bài giảng cuối cùng của tôi, tôi được tặng một vài món quà, một là cuốn từ điển tiếng Việt mà các nhà ngôn ngữ học đã biên soạn và in trong thời gian họ sống rải rác trong rừng núi suốt cuộc tập kích đường không. Với niềm tự hào chính đáng, họ nhận xét rằng công trình này đã được thực hiện trong lúc chính quyền Mỹ đang cố gắng “đưa họ trở lại thời đồ đá”. Trên thực tế, tại Đại học Bách khoa, người Việt Nam đang đào tạo các nhà khoa học mà bất kỳ xã hội nào cũng có thể tự hào.
Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy mình đang giảng bài về tài liệu chuyên ngành tại Hà Nội và dành hàng giờ đồng hồ thảo luận với các đồng nghiệp ở đây về công trình đang tiến triển tại Hoa Kỳ. Sự ngạc nhiên này là kết quả của việc tôi không vượt qua được những khuôn mẫu nhận thức đáng tiếc. Người Việt Nam không chỉ cống hiến hết mình để bảo vệ nền độc lập của họ trong một cuộc chiến tàn khốc mà còn để tạo ra một xã hội hiện đại với trình độ văn hóa chung cao. Nếu có cơ hội, tôi tin chắc họ sẽ thành công trong việc này. Được gặp gỡ các đồng nghiệp người Việt Nam, khám phá những mối quan tâm chung và tìm hiểu về công việc và những kế hoạch của họ là một niềm vui lớn lao đối với cá nhân tôi.
Trong di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết rằng dù cuộc chiến có thể còn kéo dài và có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người, nhưng sẽ mãi “còn non, còn nước, còn người”. Với vũ khí hạt nhân, Hoa Kỳ có thể phá hủy những niềm hy vọng này, nhưng nếu không sử dụng vũ khí hạt nhân, tôi ngờ rằng người Mỹ không thể đánh bại được sự kháng cự của người Việt Nam hoặc duy trì các chính phủ bù nhìn đối với nhân dân Đông Dương.
Sau chuyến đi ngắn ngủi này, tôi rời Đông Nam Ávới hai ấn tượng sâu sắc nhất. Ấn tượng đầu tiên là về sự chịu đựng và sức mạnh của xã hội Việt Nam. Chúng ta có thể hình dung rằng Hoa Kỳ có thể bẻ gãy ý chí của các phong trào quần chúng ở các nước xung quanh, thậm chí có thể tiêu diệt Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam, bằng cách sử dụng các nguồn lực khổng lồ về bạo lực và khủng bố mà họ có trong tay. Nếu vậy, nó sẽ tạo ra một tình huống mà thực tế là miền Bắc Việt Nam sẽ nhất thiết thống trị toàn cõi Đông Dương, vì sẽ chẳng còn xã hội nào khác còn có thể đứng vững được nữa.
Sự can thiệp của người Mỹ, giống như tất cả các cuộc chiến đế quốc khác, đã khuấy động lòng thù hận sắc tộc và giai cấp, chia rẽ các nhóm người, làm gia tăng mọi sự đối kháng mà chúng ta có thể tưởng tượng được thành cuộc xung đột đẫm máu. Người Việt Nam và người Thái, hai xã hội hùng mạnh nhất và năng động nhất trong khu vực, thực tế đang ở trong tình trạng chiến tranh. Quân đội Campuchia đã tàn sát người Việt Nam. Người Mèo bị kích động chống lại người Lào và các bộ lạc miền núi khác. Người Thái đang đuổi những người bộ lạc miền núi ra khỏi nhà cửa của họ và lo sợ người Lào bản địa. Giới tinh hoa Thái Lan và Sài Gòn hiện đang lập kế hoạch thôn tính Campuchia. Quân đội Quốc dân đảng của Trung Hoa Dân quốc vẫn hoạt động tích cực ở các khu vực biên giới. Lính đánh thuê Khmer chiến đấu chống lại Việt Cộng cùng với lính Thái Lan và lính Nam Hàn do người Mỹ đưa tới. Giới tinh hoa bản địa, phụ thuộc vào dòng hàng hóa và chiến phí của Hoa Kỳ, đã bị cuốn vào một cuộc chiến tàn khốc chống lại người nông dân.
Chẳng phải tất cả những điều này là hệ quả trực tiếp của cuộc chiến của người Mỹ ở Đông Dương, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa rằng mọi xung đột tiềm tàng, mọi hình thức thù địch tiềm tàng, đều đã trở nên trầm trọng hơn do sự can thiệp của người Mỹ, thường là do sự sắp đặt và thao túng trực tiếp. Ngay cả khi Hoa Kỳ để lại Đông Dương cho chính người dân nơi đây—và hiện tại, chẳng có dấu hiệu nào cho thấy bất kỳ ý định nào như vậy—thì di sản của sự hận thù này vẫn sẽ hiện diện, khiến cho cuộc sống của người dân Đông Dương trở nên khốn khổ hơn, và tước đoạt niềm hy vọng tạo ra một tương lai tốt đẹp cho họ.
Nguyễn Việt Anh dịch
Nguồn: A Special Supplement: In North Vietnam, The New York Review of Books, Aug 13, 1970, đăng lại đầy đủ ở trang Chomsky.info.
Chú
thích: [1]
Tôi cho rằng Chính quyền Cộng hòa Campuchia không có đại sứ quán vì họ hy vọng sẽ tham gia vào một chính phủ liên hiệp lớn hơn cho miền Nam Việt Nam. [2]
Tài liệu tham khảo là về cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 [năm 1970] và các cuộc tấn công sau đó của quân đội Sài Gòn tại Campuchia. Ngày phỏng vấn này là ngày 16 tháng 4 [năm 1970], 2 tuần trước cuộc xâm lược của người Mỹ vào Campuchia. Rõ ràng là một hình thức can thiệp trực tiếp nào đó của người Mỹ vào Campuchia đã được dự đoán trước, mặc dù có thể quy mô của cuộc xâm lược của người Mỹ là điều gì đó bất ngờ. [3]
Ngày 12 tháng 1 năm 1970. [4]
Tôi không nghĩ tới việc hỏi liệu điều này có đúng với nhiều bộ tộc miền núi trong tỉnh hay không, những người được cho là vẫn giữ gìn phần lớn văn hóa gốc của họ. Người hướng dẫn của chúng tôi trong một phần chuyến đi là phó chủ tịch tỉnh [Thanh Hóa], một thành viên của nhóm dân tộc Mường thiểu số của bộ tộc miền núi, nhóm dân tộc thiểu số được cho là có khuôn mẫu văn hóa gần nhất với người Việt ở vùng đồng bằng. [5]
Xem Keith Buchanan, The Southeast Asian World |Thế giới Đông Nam Á|, London, 1967. [6]
Để tìm hiểu chi tiết về nông thôn Việt Nam, hãy xem Gérard Chaliand, The Peasants of North Vietnam |Những người nông dân ở miền Bắc Việt Nam|, 1968; bản dịch tiếng Anh, Penguin, 1969. Xem thêm bài tường thuật của Richard Gott về chuyến đi kéo dài 7 tuần, Manchester Guardian, ngày 24-27 tháng 2 năm 1970. [7]
La Révolution Vietnamienne: problèmes fondamentaux, tâches essentielles |Cách mạng Việt Nam: Những vấn đề cơ bản, các nhiệm vụ thiết yếu|, Hanoi, 1970, Lời giới thiệu. [8]
Theo nhà báo người Pháp am tường Georges Chaffard, cuộc cải cách ruộng đất “được tiến hành theo một cách quá tàn bạo bởi những cán bộ thiếu kinh nghiệm, chủ yếu xuất thân từ lực lượng vũ trang, những người chỉ được huấn luyện vài tuần [về các vấn đề cải cách ruộng đất] trước khi được đưa tới các làng mạc, đầu óc họ chứa đầy những lý thuyết được tiếp thu một cách sơ sài.” Trích dẫn từ cuốn sách Bernard Fall, Viet-Nam Witness |Việt Nam Nhân chứng|, Praeger, 1966, trang 97, từ Tuyển chọn hàng tuần của tờ Le Monde, ngày 5 tháng 12 năm 1956. [9]
“Kinh tế học theo chủ nghĩa Mao”, China after the Cultural Revolution |Trung Quốc sau Cách mạng Văn hóa|, trích từ Bulletin of the Atomic Scientists |Bản tin của các nhà khoa học nguyên tử|, Random House, 1969, Gray cũng lưu ý rằng các lý thuyết gia của phương Tây về phát triển đang chậm trễ trong việc đưa ra một vài kết luận tương tự. [10]
The Nation |Quốc gia|, ngày 6 tháng 3 năm 1954. In lại trong cuốn sách Viet-Nam Witness |Việt Nam Nhân chứng|, trang 15-21.
Nhiều cuộc thảo luận của người Mỹ về cải cách ruộng đất đều dựa trên Hoàng Văn Chí. Cuốn sách From Colonialism to Communism |Từ Chủ nghĩa Thực dân tới Chủ nghĩa Cộng sản|, Praeger, 1964. Cuốn sách này, được USIA tài trợ (không ghi rõ nguồn), là một nguồn thông tin cực kỳ đáng ngờ. Để phân tích cẩn thận các lỗi và những thiên kiến, hãy xem Steven Seltzer, “The Land Reform in North Vietnam” |Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam|, Viet Report, tháng 6-7 năm 1967.
Trong phần Dẫn nhập, P.J. Honey viết rằng tác giả, trong nhiều tác phẩm khác nhau của mình, “đã giải thích lý do dẫn tới sự thất bại của nền nông nghiệp cộng sản, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Trung Quốc và Bắc Triều Tiên nữa”. Trên thực tế, trái với kỳ vọng chung, miền Bắc Việt Nam đã thành công trong việc giải quyết một vấn đề sản xuất nông nghiệp vô cùng khó khăn. Để biết thêm một số thảo luận từ một nhà quan sát nghiêm túc, hãy xem Keith Buchanan, The Southeast Asian World |Thế giới Đông Nam Á|. Về “sự thất bại” ở Trung Quốc, hãy xem John Gurley, Bulletin of the Concerned Asian Scholars |Bản tin của các học giả châu Á có trách nhiệm|, tháng 4-tháng 7 năm 1970. Để biết thêm một số bình luận gần đây về “sự thất bại” của Bắc Triều Tiên, theo quan điểm của một nhà quan sát tuy thù địch nhưng lại rất am hiểu, hãy xem Joungwon Kim, Foreign Affairs |Đối ngoại|, tháng 10 năm 1969. Điều đáng chú ý là Honey được coi trọng như một nhà bình luận về miền Bắc Việt Nam. Khi những phát biểu của ông có thể được kiểm chứng, chúng thường chỉ tỏ ra lố bịch. Để biết một vài ví dụ, hãy xem American Power and the New Mandarins |Quyền lực Mỹ và giới quan lại mới| của tôi, trang 290.