Polytechnique insights TẠP CHÍ CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA PARIS
![]() |
| Hình trên do A.I tạo ra |
TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI): CÔNG VIỆC BỊ CHE KHUẤT NHƯNG RẤT THẬT CỦA NHỮNG CÔNG NHÂN DỮ LIỆU
Tác giả: Antonio Casilli
|
Tóm tắt
|
Ông có thể cho một định nghĩa như thế nào để mô tả ý niệm công việc vô hình đàng sau trí tuệ nhân tạo?
Antonio Casilli. Trước hết cần nói rõ một điều quan trọng: công việc này không phải “vô hình”. Chỉ cần nghiên cứu một ít hiện tượng này như tôi đang làm, bằng cách đi gặp những công nhân tại các nước như Madagascar, Kenya hay Brazil, lúc đó ta phát hiện ra là công việc của họ bị che khuất nhưng không vô hình. Do đó, định nghĩa mà tôi có thể đưa ra đó là một công việc chuẩn bị, kiểm chứng và đôi khi là bắt chước các trí tuệ nhân tạo. Nghĩa là tất cả phần liên quan đến huấn luyện, kiểm tra chất lượng và cân nhắc và điều chỉnh mô hình.
Công việc này là sống động và tuyệt đối cần thiết cho sự tồn tại của các mô hình trí tuệ nhân tạo hiện nay, bởi vì chúng được xây dựng dựa vào các hệ thống học tự động. Và khi nói “học” thì có nghĩa là phải có người dạy cỗ máy. Và bất chấp điều mà ta có thể tin, những điều giảng dạy này không chỉ được ban phát bởi các chuyên gia được thù lao hàng trăm ngàn euro mỗi năm. Đó còn là và nhất là những người được thù lao rất ít và trong những điều kiện khá bấp bênh trong việc vận hành máy móc.
Những người lao động bị che khuất này đã có mặt ở đó từ hai mươi năm nay, từ khi người ta tạo ra trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu và trên sự học tự động.
Ông có phát hiện ra những thay đổi hay những diễn tiến những năm gần đây không, từ khi kỷ nguyên ChatGPT xuất hiện?
Từ khởi đầu của các cuộc điều tra thực nghiệm của chúng tôi vào năm 2016 – với nhóm của chúng tôi trong DiLab – quả thực chúng tôi đã có thể quan sát được những thay đổi. Và tôi có thể chia sẻ với quý vị một điều khẳng định rằng những thay đổi này không diễn ra ở nơi mà ta đã có thể chờ đợi. Đáng lẽ chúng được chờ đợi nhiều hơn ở phần phức tạp của các nhiệm vụ, vì ta phải đối phó với những mô hình có hiệu năng cũng như kích cỡ càng ngày càng lớn. Thực vậy, khi ta phải quản lý đến tỷ tỷ thông số, ta hình dung ra rằng mô hình phức tạp đến nỗi chính những người làm việc để huấn luyện và kiểm chứng mô hình cũng phải là những chuyên gia lớn. Không phải đơn thuần là những “công nhân dữ liệu” mà là những “trợ giảng trí tuệ nhân tạo” thực sự. Đó là những hồ sơ cá nhân được công khai rõ ràng trên các nền tảng như LinkedIn. Nhưng đây không phải là trường hợp trong thực tế.
Hiện thời, trong giai đoạn hậu ChatGPT (nghĩa là sau năm 2022), chắc hẳn một số chuyên gia đã được tuyển dụng, nhưng với con số rất nhỏ. Trong thực tế, sự hiển thị của họ chỉ là một chiến lược truyền thông của những công ty khổng lồ về công nghệ, của những nhà sản xuất trí tuệ nhân tạo và dành cho những nhà đầu tư của họ. Phần lớn lưc lượng lao động này còn được hình thành bởi những người mà chúng tôi gặp trong các cuộc điều tra của chúng tôi, họ được trả lương rất thấp và thực hiện một công việc manh mún. Điều mà đôi lúc ta gọi là “khoán hóa lao động” (công việc bị chia nhỏ thành các đầu việc).
“Nhiều người trong số họ bị rối loạn căng thẳng sau sang chấn nghiêm trọng, và chúng tôi luôn luôn ghi nhận tình trạng này. Một số người còn có thể suy sụp.”
Từ những năm 2019-2020 chúng tôi đã quan sát thấy những người lao động này ngày càng trẻ. Ở cấp độ quốc tế, ngay cả tại châu Âu, từ nay những người này ở vào độ tuổi từ 18 đến 35, cho dù có cả những người đến 44 tuổi, thậm chí đến tuổi về hưu. Phần lớn những người lao động này là người trẻ. Họ có một trình độ học vấn cao hơn hẳn so với công việc và thu nhập của họ hay so với loại công việc.
Như vậy, đó là những người có trình độ học vấn và năng lực cao hơn hẳn so với công việc họ làm. Về việc này, thị trường trí tuệ nhân tạo là một thị trường lao động không vận hành, vì nó không phân bổ một cách có hiệu quả những người lao động, những người trẻ nhất hoặc những người có bằng cấp cao nhất vào những nghề trả thù lao nhiều hơn. Mặt khác, những công nhân dữ liệu này còn không được phân cho một vị trí công việc cố định. Nguồn nhân lực này, được tuyển dụng cho các nền tảng, được trả công theo món, không thực sự có một hợp đồng lao động. Rất thông thường, đó là những điều kiện sử dụng chung đơn giản phải chấp nhận trực tuyến và chúng không bảo đảm các quyền của người lao động. Nếu người lao động có được một hợp đồng, thì thời hạn chỉ là từ một tháng đến ba tháng. Mặt khác, họ thường sống tại những nước mà việc bảo hộ lao động yếu kém đến nỗi hợp đồng này vẫn là một mơ ước hão huyền.
Trong nghiên cứu của ông, ông cũng đề cập đến nhiều rủi ro tâm lý xã hội mà những người công nhân dữ liệu phải đối mặt, xin ông có thể nói về điều đó không?
Thực vậy, những công nhân dữ liệu là một nhóm người phải đối mặt rất nhiều với những rủi ro tâm lý xã hội. Một phần quan trọng trong số họ liên quan đến những tình huống bị cô lập chẳng hạn như khi họ làm việc tại nhà. Những người khác làm việc trong những điều kiện rất khắt khe và dễ gây tổn thương. Để cung cấp một ví dụ, những người kiểm duyệt các nội dung và chatbot cũng là những công nhân dữ liệu, họ làm việc trong những văn phòng được bảo đảm an ninh, nơi đó họ chịu sự giám sát rất chặt, mà không thể giao tiếp giữa họ với nhau. Như vậy, thật là nghịch lý khi có một tình huống cùng lúc vừa bị ràng buộc chặt chẽ vừa bị cô lập cao độ.
Nhiều người trong số họ bị rối loạn căng thẳng sau sang chấn nghiêm trọng, và chúng tôi luôn luôn ghi nhận tình trạng này. Một số người còn có thể bị suy sụp. Tôi nhớ có lần đi métro trong một thành phố châu Âu với một người - trước đây là người kiểm duyệt nội dung -, ông này đã trải qua nhiều tháng xem video về những người lao xuống dưới các toa tàu. Người này hoàn toàn bị tổn thương tâm lý nặng nề đến nỗi ông phải ngồi rất xa mép sân ga tàu, trốn tránh các đoàn tàu, mà không thể tự kiểm soát cũng không chịu đựng được việc kề cận với métro.
Tuy nhiên, ông có nhận thấy sự xuất hiện của những lực lượng đối trọng hoặc các xu hướng phản kháng ở những người lao động này không? Và nếu có thì những lực lượng nào?
Vâng, có những xu hướng phản kháng. Những xu hướng này không phải mới đây và không bột phát, theo nghĩa không phải là hệ thống tự điều chỉnh hay tự nó đi vào ổn định. Những xu hướng phản kháng này có liên quan đến những xung đột xã hội, những tranh chấp, những cuộc đấu tranh của nghiệp đoàn trong một số khu vực hoạt động, và với thực tế là một số người đã thu hút được sự quan tâm của công luận và của những người có quyền quyết định. Đó là trường hợp những người kiểm duyệt nội dung và bây giờ mục đích của họ đã được biết đến rộng rãi.
Tôi có thể cung cấp một ví dụ cụ thể ở Kenya, nơi mà các đồng nghiệp của chúng tôi và các thành viên nghiệp đoàn mà chúng tôi cộng tác tại chỗ được tổ chức rất tốt, đặc biệt là vì Kenya là một quốc gia có một truyền thống nghiệp đoàn mạnh và một hiến pháp tương đối tiến bộ. Có một phong trào và một xã hội dân sự rất phát triển. Và đôi khi mặc dù ngay cả những cá nhân này là những người nhập cư từ các nước khác – tôi muốn nói đến Somalie, Nigeria, Ethiopia, hay Nam Phi – họ vẫn được kết nạp vào những mạng lưới lớn hơn, và những mạng lưới này gia tăng sự lớn mạnh của các nghiệp đoàn, hiệp hội và những liên minh khác. Cái tên có thể thay đổi, nhãn hiệu có thể thay đổi, nhưng hiện thời có rất nhiều sáng kiến kiểu như vậy.
Ở châu Âu, những phong trào khác cũng hình thành. Ví dụ tôi nghĩ tới nước Đức, nơi một nghiệp đoàn nữ quyền mang tên Superrr hoạt động để huy động dư luận và những người có quyền quyết định. Tại Mỹ cũng vậy, có những phong trào “cross collar” đang hình thành, (nghĩa là nghiệp đoàn nhiều giới lao đông, quy tụ cả lao động văn phòng (cổ trắng) lẫn công nhân (cổ xanh), như Alphabet Workers Union) cho dù giới chủ doanh nghiệp rất hùng mạnh.
Về quá trình quân sự hóa các cách sử dụng kỹ thuật số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, ông có nhận thấy diễn biến này không?
Trước hết, trường hoạt động của trí tuệ nhân tạo là vô cùng lớn, vì công nghệ này là một công nghệ lưỡng dụng: có sử dụng dân sự và sử dụng quân sự, tất nhiên là đồng thời. Hơn nữa, điều này là một phần của luật chơi, vì cấu trúc của việc cung cấp tài chính và những hình thức hỗ trợ nghiên cứu đã tích hợp ngay từ đầu lĩnh vực quân sự. Cho đến cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền tối cao của nhà nước, vì ở đây chúng ta đang bàn về những vấn đề chủ quyền, theo đúng nghĩa dân tộc chủ nghĩa của thuật ngữ này. Đó là vấn đề về độc lập và khả năng thích nghi và phục hồi của một một quốc gia, có cơ sở hạ tầng riêng, nhưng than ôi cũng phóng chiếu một hình ảnh và một hệ tư tưởng hay gây hấn và hiếu chiến.
Ngày nay, tình hình đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều, nhất là với tình trạng chồng chéo và giao thoa giữa công việc huấn luyện của trí tuệ nhân tạo và đinh hướng quân sự. Do đó, một số công nhân dữ liệu rơi vào tình trạng làm việc trong nước của họ trên những công cụ mà sau đó có thể được đưa vào hoạt động bởi những chính phủ nước ngoài chống lại chính họ. Những trường hợp cụ thể đã được ghi nhận ở Syria, Palestine và nhiều nước ở châu Phi.
Chúng tôi cũng nhận thấy một dạng liên tục giữa các sáng kiến nhân đạo và sự can dự quân sự tại những chiến tuyến đang diễn ra xung đột. Những hoạt động của của các tác nhân quan trọng của trí tuệ nhân tạo đã được liệt kê trên nhiều khu vực tác chiến, thông qua những ứng dụng thám thính nhận dạng khuôn mặt chẳng hạn. Ở Ukraina, nhiều tập đoàn khổng lồ về trí tuệ nhân tạo đã được chỉ định như những nguồn cung cấp công cụ và dữ liệu. Ở đây tôi nói đến Google hay Palantir Technologies, Clearview AI, Microsoft, SpaceX, Anthropic hay OpenAI. Những hoạt động của các doanh nghiệp này là không rõ ràng, vì chúng trộn lẫn các hoạt động sản xuất của trí tuệ nhân tạo với cường độ làm việc rất cao, mà những cách sử dụng thực sự lại chuyển qua những ứng dụng cụ thể cho những mục đích chiến tranh.
Cá nhân tôi, với tư cách người phản đối nghĩa vụ quân sự vì lương tâm, tôi phản kháng tình trạng này. Và với tư cách người làm học thuật, điều ấy lại càng khiến cho công việc của chúng tôi trở nên khó khăn hơn. Bởi vì trong một bối cảnh địa chính trị với đặc điểm là có nhiều căng thẳng, không chỉ với các đối phương, mà cả cả với các đồng minh truyền thống, tình hình trở nên đặc biệt phức tạp cho chúng tôi vốn là những nhà nghiên cứu.
Trong bối cảnh này, thiết lập cơ sở của công việc của chúng tôi trở nên phức tạp. Chỉ với việc đơn giản là tập hợp tư liệu một cách đúng đắn về kiểu can thiệp quân sự và những cách sử dụng khác với mục đích ban đầu bởi các tác nhân chính trị và kinh tế mà những lợi ích hội tụ với các xung đột quân sự cũng trở nên nhạy cảm, thậm chí là nguy hiểm.
Marie Varasson ghi lại
Tác giả: Antonio Casilli
Nhà xã hôi học, giáo sư Đại học Télécom Paris (IP Paris),
Cộng tác viên nghiên cứu Minderoo Centre for Democracy and Technology,
Đại học Cambridge
Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư
Nguồn: “IA le travail caché mais bien réel des ouvriers de la donnée”, Polytehnique Insights, 17.6.2026.
