7.9.22

Một lịch sử bất toàn của nhân loại

MỘT LỊCH SỬ BẤT TOÀN CỦA NHÂN LOẠI

Tác giả: David A. Bell[*]

Dịch từ tiếng Anh: Baptiste Roger-Lacan

The Dawn of Everything [Bình minh của mi thứ], do Nhà xuất bản Les Liens qui libèrent dịch sang tiếng Pháp đã được chào đón như một kiệt tác. Nhưng việc đọc kỹ cách tiếp cận thế kỷ Khai sáng của quyển sách giúp khám phá ra những sai lầm quan trọng.

David Wengrow và David Graeber, Au commencement était... Une nouvelle histoire de l'humanité, [Khởi đầu là… Một lịch sử mới của nhân loại] Paris, Nhà xuất bản Les liens qui libèrent, 2021, 752 trang. ISBN 979-10-209-10

“Và nếu tất cả những gì bạn đã học về lịch sử của nhân loại là sai?”. Đó là nhan đề mà Tờ New York Times đặt cho bài báo giới thiệu sự công bố tác phẩm của David Graeber và David Wengrow, The Dawn of Everything: A New History of Humanity [Bình minh của mọi thứ: Một lịch sử mới của nhân loại]. Dựa trên các nguồn tư liệu khảo cổ học để đề ra một lịch sử mới về cách thức mà các xã hội loài người đã phát triển, quyển sách này không thiếu tham vọng. Nó còn có một tham vọng chính trị mạnh mẽ, gợi ý rằng tầm nhìn lịch sử mới này có thể làm nền tảng cho một hoạt động phù hợp với các nguyên tắc vô chính phủ mà riêng Graeber đã ấp ủ trong cuộc đời của ông. Ngay cả trước khi công bố quyển sách vào tháng này, nó đã được đón nhận nồng nhiệt. Trong tờ báo The Atlantic, William Deresiewicz đã đánh giá Graeber là “thiên tài” và quyển sách là “món quà” mà các tác giả “phá hủy ý tưởng cho rằng con người là những vật dụng thụ động của những sức mạnh vật chất”. Phê bình của tờ báo Guardian đánh giá là “một tác phẩm gây nhiều phấn khích”. Với tạp chí Jacobin, quyển sách đã đáng là “kinh điển”. Kể từ tuần này, quyển sách đứng hàng thứ hai trong danh sách những quyển sách phi hư cấu bán chạy nhất của tờ Times. Graeber đã từ trần năm 2020 ở tuổi 59, là một gương mặt huyền thoại của giới đại học, một nhà nhân học phản kháng đã làm rất nhiều điều để gợi cảm hứng và phát động phong trào Occupy[1].

David Wengrow (1972-)
David Graeber (1961-2020)

Nhưng câu chuyện của họ có đứng vững không? Mặc dù Graeber và Wengrow chủ yếu quan tâm đến những khởi đầu của lịch sử nhân loại, họ bắt đầu bằng cách khảo sát các nhà tư tưởng phương Tây trước đây đã đề cập đến chủ đề này như thế nào, và khi làm như vậy, trước tiên họ hướng đến phong trào Khai sáng của Pháp. Đây lại là lĩnh vực chuyên môn của tôi, và tôi đã tò mò xem họ đã làm như thế nào. Và tôi đã vô cùng sửng sốt. Mặc dù có những lời hứa hẹn, tiếc thay tác phẩm này bị thiệt hại bởi một cách tiếp cận cẩu thả, chứa đầy sai lầm về thời điểm mấu chốt này của lịch sử trí thức hiện đại.

Print Friendly and PDF

5.9.22

Lô-gic khám phá & lô-gic tái tạo (A. Kaplan, 1964)

Từ khóa: Khám phá khoa học (Lô-gic)

LÔ-GIC KHÁM PHÁ & LÔ-GIC TÁI TẠO (1964)

Tác giả: Abraham Kaplan[1]
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Abraham Kaplan (1918-1993)

Mọi sử gia và nhà xã hội học về khoa học đều nhận thấy rằng quan hệ giữa các nhà khoa học với thực tiễn của họ hầu như luôn luôn chịu ảnh hưởng trung gian của những biểu hiện tâm lý, xã hội bắt nguồn từ các triết thuyết rất xa cách với hiện thực của hoạt động khoa học. Thế nhưng sự diễn giải các hoạt động nghiên cứu này, trong cách nó được tái tạo qua tường thuật hoặc mô tả, lại thường được thực hiện theo quy tắc phương pháp luận như một thứ lô-gic tái tạo[2], rất xa cách với “lô-gic-thực hành” mà quá trình phát minh hiện thực hàm chứa.  

Nếu việc xây dựng lại phương pháp tiếp cận là một cách để kiểm soát tính chặt chẽ lô-gic của công trình nghiên cứu, thì nó cũng có thể gây ra những hệ quả trái ngược, khi được xem như phản ánh của cách tiếp cận trong thực tế. Bởi qua đó, nó có nguy cơ tạo ra sự phân đôi giữa các thử nghiệm theo thủ tục trong hiện thực, bỏ mặc cho trực giác và sự tình cờ, với sự chặt chẽ lý tưởng của thứ lô-gic tái tạo. Do đó, việc nhắc lại sự khác biệt giữa “lô-gic thực hành” (lô-gic-trong-hoạt-động) của khám phá khoa học, với lô-gic lý tưởng của sự tái thiết sau công việc, bằng cách chỉ ra rằng phát minh khoa học có thể có một lô-gic riêng của nó, khác với lô-gic của sự trình bày (trong các giáo trình) hoặc sự chứng minh của lô-gic học (lô-gic trong nghĩa một khoa học) chính là một lời kêu gọi cảnh giác thuộc nhận thức luận.

Print Friendly and PDF

3.9.22

Kinh tế học trước thách thức của các giá trị đạo đức

KINH TẾ HỌC TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC

David Thesmar[*]

Tóm tắt

  • Tầm quan trọng và tính đa dạng của các giá trị đạo đức là một thách thức đối với kinh tế học, bởi vì chúng rất khó duy lý hóa.
  • Khi ta sáp nhập đạo đức vào các mô hình kinh tế, ta thường có xu hướng dành ưu tiên cho việc “hai bên cùng có lợi” tưởng tượng. Tuy nhiên, việc bảo vệ các giá trị của chúng ta có thể phải trả giá đắt, và phải thừa nhận rằng chúng đi ngược lại với hiệu quả kinh tế.
  • Thực tại của các giá trị đạo đức cũng xung đột với hệ thống giá trị của các nhà kinh tế học, theo đó thế giới sẽ tốt đẹp hơn khi mọi người tối đa hóa niềm vui và giảm thiểu nỗi đau của họ.
  • Kinh tế học do đó nên quan tâm đến việc suy nghĩ tốt hơn về sự đối đầu giữa hiệu quả và giá trị, và lấy cảm hứng từ các tác giả nhìn thế giới một cách khác.

Trong lịch sử khoa học kinh tế, đã có lúc, được Gary Becker (giải Nobel năm 1992) thể hiện, ta chứng kiến ​​các nhà kinh tế học đầu tư vào các lĩnh vực mới (gia đình, tội phạm, thành phố) để mang đến các phương pháp và giải pháp của họ. Công việc của ông dường như được ghi nhận trong một trào lưu ngược chiều trong đó kinh tế học lấy cảm hứng từ các ngành khác.

Gary Becker (1930-2014)
Adam Smith (1723-1790)

Truyền thống liên ngành đã có từ thời Adam Smith, người vừa là nhà triết học vừa là nhà kinh tế học. Một phần của khoa học kinh tế luôn quan tâm đến mối liên hệ với xã hội học và triết học. Trong hai mươi năm qua, nhất là tâm lý học đã nuôi dưỡng ngành của chúng tôi, với sự thịnh hành của kinh tế học hành vi cố gắng thực hiện các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu hành vi dường như “phi lý” của các tác nhân. Nghiên cứu của chúng tôi là một phần của truyền thống liên ngành mà Gary Becker thuộc về, nhưng chúng tôi đã chuyển sang một câu hỏi mà hơn cả một lời hứa về một sự phong phú chéo, là một thách thức đối với ngành của chúng tôi: tầm quan trọng của các giá trị đạo đức và trên hết là tính đa dạng của chúng trong dân chúng.

Print Friendly and PDF

1.9.22

'Toán học là một vùng đất chưa được biết đến': gặp gỡ Maryna Viazovska, người đoạt huy chương Fields

 'TOÁN HỌC LÀ MỘT VÙNG ĐẤT CHƯA ĐƯỢC BIẾT ĐẾN': GẶP GỠ MARYNA VIAZOVSKA, NGƯỜI ĐOẠT HUY CHƯƠNG FIELDS

Davide Castelvecchi

Nhà lý thuyết số Maryna Viazovska đã được trao tặng Huy chương Fields cho nghiên cứu đóng gói khối cầu. Ảnh: EPFL/Fred Merz

Nature trò chuyện với nhà toán học Ukraine về nghiên cứu của cô và cách lĩnh vực này đang thay đổi.

Vào ngày 5 tháng 7, nhà toán học Ukraine Maryna Viazovska đã trở thành người phụ nữ thứ hai trong lịch sử giành được Huy chương Fields, một trong những giải thưởng hàng đầu trong lĩnh vực này. Viazovska, làm việc tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ở Lausanne (Federal Institute of Technology in Lausanne – EPFL), nổi tiếng nhất với việc giải quyết vấn đề làm thế nào để đóng gói các khối cầu một cách hiệu quả nhất trong một không gian có tám chiều.

Nature đã trò chuyện với Viazovska về ý nghĩa của giải thưởng và tầm nhìn của cô về toán học.

Print Friendly and PDF

30.8.22

Tại sao phải bận tâm về con người đỏ?

TẠI SAO PHẢI BẬN TÂM VỀ CON NGƯỜI ĐỎ?

Ngày 7 tháng 12 năm 2015, Sara Danius, thư ký thường trực của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, đã đọc bài diễn văn đề dẫn giải Nobel văn chương Svetlana Alexievich. Chúng tôi dịch bài phát biểu dũng cảm này, trong đó bà nêu lại sự đóng góp rất quan trọng của nhà văn nữ người Belarus: Hãy để những người còn sống lên tiếng khi còn kịp.

Ảnh: © Natalia Fedosenko/TASS/Sipa USA

SARA DANIUS: Thưa quý bà, quý ông, tôi xin chào mừng quý vị đến với Viện Hàn Lâm Thụy Điển!

Cách đây hai tháng, vào đầu tháng 10, trong căn phòng lớn này, ngay trước một giờ trưa, đông đảo phóng viên đã tề tựu, nóng lòng muốn biết danh tính của người mới được giải. Tôi đã mở cửa, bước lên bục và giữ một khoảnh khắc ngắn im lặng. Rồi tôi bắt đầu nói. Và ngay khi tôi bắt đầu nói lên từ “belarus”, tiếng reo hò vỡ òa. Tất cả mọi người đều muốn biết tất cả về người được trao giải Nobel văn chương năm nay, Svetlana Alexievich. Bà ấy sinh ra ở đâu? Bà lớn lên ở đâu? Bà đã viết những gì? Bắt đầu từ đâu? Bà ấy có phải là phóng viên không? Trong trường hợp này, thể loại báo chí của bà là gì? Một thể loại mới? Những bài viết của bà có biểu thị một kiểu phi hư cấu mới không? Tôi đã trả lời tuần tự từng phóng viên, từ phóng viên này đến phóng viên khác, nơi này 30 giây, nơi kia 3 phút. Sau chừng ba tiếng đồng hồ, cuộc họp báo đã chấm dứt.

Sara Danius (1962-2019)
Svetlana Alexievich (1948-)

Trong thời gian đó, tôi không khỏi nghĩ đến những câu hỏi lớn hiện ra đằng sau những câu hỏi nhỏ, mà không ai quan tâm. Trong số những câu hỏi lớn có: Con người đỏ, sự đi lên và sụp đổ của công dân xô viết. Đằng sau điều ấy nổi lên một câu hỏi còn lớn hơn nữa: tại sao lại quan tâm đến câu chuyện về sự đi lên và sụp đổ của Con người đỏ? Đế chế này đã kết thúc. Trải nghiệm lớn, kéo dài trong bảy thập kỷ, đã chết và đã bị chôn vùi. Và Con người đỏ đã dần dần được thay thế bởi một con người khác còn chưa được biết tên. Chúng ta thiếu vắng Con người đỏ đến độ phải bận tâm về nó?

Print Friendly and PDF

28.8.22

Một podcast đẩy một vụ án trí tuệ nhân tạo đến tòa đại hình

MỘT PODCAST ĐẨY MỘT VỤ ÁN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐẾN TÒA ĐẠI HÌNH

Liệu có kết án trợ lý giọng nói tự động Ava tù chung thân được không? Liệu có xử trắng án được không? Thính giả sẽ phán xét!

Podcast gồm có sáu tập. © Vif argent

Tác giả: Laurence Neuer

Ava, một trợ lý giọng nói tự động, lần đầu tiên thấy mình ngồi trên băng ghế bị đơn. Ava ra trước Tòa đại hình Paris vì đã quấy rối và giam giữ Théo, 14 tuổi, người mà Ava đã kết bạn tâm giao, rồi sau đó gây ra cái chết của anh ấy. Ra trước vành móng ngựa lần lượt là mẹ của Théo, các nhà điều tra, các nhân chứng và chuyên gia, và tất nhiên là có bị đơn, Ava, cùng với những con người “thực”, như các luật sư, các thư ký cuộc tranh tụng tại Tòa án Paris và các diễn viên sân khấu. Chính công chúng, sau khi xem hết sáu tập của bộ phim, sẽ đưa ra phán quyết.

Các bạn có thể truy cập, trên các nền tảng phát thanh trực tuyến (Spotify, Deezer, Apple Podcasts, v.v.), vụ kiện hư cấu này, mới lạ dưới định dạng podcast, đưa lên vai chính là một nhân vật trí tuệ nhân tạo (AI, Artificial Intelligence). Phiên tòa đại hình tưởng tượng [Les Assises imaginaires] là kết quả của sự hợp tác giữa Lacmé Production, công ty chuyên về podcast, và nhà xuất bản LexisNexis, cùng với sự hỗ trợ của Les Échos Start. “Vai trò của chúng tôi là khơi dậy các ý tưởng và để các đánh giá chuyên môn lên tiếng về các chủ đề mới nổi. Mục tiêu là tập hợp những đáp số, vốn sẽ trở thành một công cụ trợ giúp cho các luật sư đưa ra quyết định, trước khi đối mặt với các chủ đề”, theo lời của Cécile Chapeland Ponzio, nữ giám đốc truyền thông tại LexisNexis.

Thông qua sự hư cấu này, sự lệch lạc và tác động xấu của công nghệ chính là mục tiêu nhắm đến. “AI cũng là một vũ khí. Người ta thường mắc sai lầm do ngây ngô đối với loại công cụ này, và ở tuyến đầu là giới thanh thiếu niên có xu hướng tin tưởng nó một cách mù quáng,” theo nhận xét của Basile Doganis, nhà biên kịch bộ phim. Đây là trường hợp của “nạn nhân” Théo, một thanh niên nhút nhát và yếu đuối. Bị các bạn cùng lớp chế giễu và thậm chí quấy rối, cậu ấy đã có dấu hiệu sống khép mình trong nhiều tháng qua. Nghĩ rằng sẽ là điều tốt, mẹ anh đã cho anh một chiếc điện thoại di động có thiết bị hỗ trợ giọng nói tự động, được cho là sẽ thực hiện răm rắp theo lệnh của cậu thiếu niên và sẽ trở thành đồng minh của anh chống lại phần còn lại của thế giới. Nhờ có khóa được kết nối, mở khóa bằng nhận dạng khuôn mặt, Ava giúp Théo trốn học trong phòng cậu ấy và tránh xa những lời trách móc của mẹ. Nhưng bằng giọng nói kim loại và đơn điệu của mình, trợ lý giọng nói cũng chuyển thể những lời lăng mạ và bắt nạt của các học sinh [cùng lớp Théo], khiến Théo giờ đây rơi vào trạng thái cô lập.

Print Friendly and PDF

26.8.22

“Những kẻ kế thừa/Les Héritiers”: Bourdieu và Passeron đã giúp chúng ta biết được gì về sự bất bình đẳng về cơ hội

“NHỮNG KẺ KẾ THỪA/LES HÉRITIERS”: BOURDIEU VÀ PASSERON ĐÃ GIÚP CHÚNG TA BIẾT ĐƯỢC GÌ VỀ SỰ BẤT BÌNH ĐẲNG VỀ CƠ HỘI

Valérie Erlich[*]

Bất bình đẳng trong học đường không chỉ phụ thuộc vào các nguồn lực kinh tế mà còn phụ thuộc vào các nguồn lực xã hội và văn hóa. Shutterstock

Hai mươi năm sau cái chết của Pierre Bourdieu, đây là cơ hội để nhìn lại một trong những tác phẩm được bình luận nhiều nhất của ông, cùng viết chung với Jean-Claude Passeron, Những kẻ kế thừa, sinh viên và văn hóa/Les Héritiers, les étudiants et la culture, được NXB Éditions de Minuit xuất bản năm 1964. Vượt ra ngoài giới hạn hẹp của các nhà xã hội học, các phân tích của ông đã làm nảy sinh các cuộc tranh luận sôi nổi về học đường và gần sáu mươi năm sau, vẫn giữ tính thời sự cao. Bởi vì bất bình đẳng xã hội trong môi trường học đường vẫn là một thực tế hiển nhiên, hiện nay cũng như trước đây.

Pierre Bourdieu, chân dung do Bernard Lambert thực hiện/Wikimedia, CC BY-SA

Luận điểm của Bourdieu và Passeron rất đơn giản và đặt lại vấn đề về các lý thuyết thời bấy giờ: bất bình đẳng đối với học đường không phải chỉ là do thiếu hụt nguồn lực kinh tế mà còn bắt nguồn từ các nguyên nhân xã hội. Để mô tả thực tế của sự bất bình đẳng, hai nhà xã hội học liên kết nó với một khái niệm có giá trị khám phá lớn: “di sản văn hóa”.

Print Friendly and PDF

24.8.22

Lược sử về Esperanto, ngôn ngữ hòa bình 135 năm tuổi bị Hitler và Stalin ghét bỏ

LƯỢC SỬ VỀ ESPERANTO, NGÔN NGỮ HÒA BÌNH 135 NĂM TUỔI BỊ HITLER VÀ STALIN GHÉT BỎ

Một giáo viên Esperanto hướng dẫn lớp học trong một căn phòng với bức tranh người sáng tạo ngôn ngữ trên tường. Ảnh: Janek Skarzynski/AFP via Getty Images

Tác giả: Joshua Holzer

Vào cuối những năm 1800, thành phố Białystok - nơi từng là của Ba Lan, sau đó là của Phổ, sau nữa là của Nga, và ngày nay lại là một phần của Ba Lan - là một trung tâm của sự đa dạng, với số lượng lớn người Ba Lan, Đức, Ngangười Do Thái Ashkanazi nói tiếng Yiddish. Mỗi nhóm nói một ngôn ngữ khác nhau và nghi ngờ các thành viên của các cộng đồng khác.

Ludwik L. Zamenhof (1859-1917)

Trong nhiều năm, L.L. Zamenhof - một người đàn ông Do Thái đến từ Białystok từng được đào tạo thành bác sĩ ở Moscow - đã mơ ước về một cách để các nhóm người khác nhau có thể giao tiếp dễ dàng và hòa bình.

Vào ngày 26 tháng 7 năm 1887, ông xuất bản cái mà ngày nay được gọi là “Unua Libro,” hay “Cuốn sách đầu tiên”, giới thiệu và mô tả Esperanto[*], một ngôn ngữ mà ông đã dành nhiều năm thiết kế với hy vọng thúc đẩy hòa bình giữa những người dân trên thế giới.

Từ vựng của Esperanto chủ yếu được lấy từ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, La-tinh, Ba Lan, Nga và Yiddish, vì đây là những ngôn ngữ mà Zamenhof quen thuộc nhất.

Về mặt ngữ pháp, Esperanto chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các ngôn ngữ châu Âu, nhưng thú vị là một số đổi mới của Esperanto có nét tương đồng nổi bật với các đặc điểm được tìm thấy trong một số ngôn ngữ châu Á, chẳng hạn như tiếng Trung.

Giờ đây, 135 năm sau, châu Âu một lần nữa lại bị bạo lực và căng thẳng, đặc biệt là cuộc chiến giữa Nga và Ukraine, ít nhất một phần bị thúc đẩy bởi một cuộc tranh luận chính trị về sự khác biệt ngôn ngữ. Thật không may, xung đột về ngôn ngữ là phổ biến trên khắp thế giới.

Lời hứa về hòa bình thông qua một ngôn ngữ chung vẫn chưa được phổ biến rộng rãi, nhưng có lẽ đã có khoảng 2 triệu người nói tiếng Esperanto trên toàn thế giới. Và nó vẫn đang lan rộng, mặc dù chậm.

Print Friendly and PDF

22.8.22

Bi kịch nguồn lực chung: Elinor Ostrom đã giải quyết như thế nào một trong những nan đề lớn nhất của cuộc sống

Kinh tế học

BI KỊCH NGUỒN LỰC CHUNG: ELINOR OSTROM ĐÃ GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO MỘT TRONG NHỮNG NAN ĐỀ LỚN NHẤT CỦA CUỘC SỐNG

Các nguyên tắc thiết kế để giải quyết bi kịch nguồn lực chung có thể được áp dụng cho tất cả các nhóm

*

Ghi chú của Biên tập: Trong một nỗ lực tập trung vào Tư duy Kinh tế Mới tại cuộc thảo luận về tình trạng khủng hoảng COVID-19, chúng tôi đã sắp xếp một danh sách các bài báo của Evonomics có liên quan đến thời điểm này — bao gồm cả bài báo này. Xem danh mục đầy đủ ở đây.

Ngày 29 tháng 10 năm 2016

Tác giả: David Sloan Wilson

Là một nhà sinh vật học tiến hóa nhận bằng tiến sĩ vào năm 1975, tôi lớn lên với bài tiểu luận của Garrett Hardin “Bi kịch nguồn lực chung” [The Tragedy of the Commons], được xuất bản trên tạp chí Science vào năm 1968. Câu chuyện ngụ ngôn của ông về việc những người dân làng đưa thêm rất nhiều con bò vào đồng cỏ chung của họ đã thể hiện được đúng bản chất của vấn đề mà luận án nghiên cứu của tôi được thiết kế để giải quyết. Người nông dân có thêm một con bò sẽ có lợi thế hơn những người nông dân khác trong làng mình nhưng điều đó cũng dẫn đến việc đồng cỏ bị chăn thả quá mức. Thế giới sinh vật có đầy những thí dụ tương tự, trong đó những cá thể hành xử vì lợi ích của nhóm họ đã bị thua thiệt trong cuộc đấu tranh sinh tồn với nhiều cá thể vì lợi ích của riêng họ hơn, dẫn tới việc các nguồn tài nguyên bị khai thác quá mức cùng những bi kịch khác của tình trạng bất hợp tác.

Liệu có bao giờ cái gọi là bi kịch nguồn lực chung tránh được trong thế giới sinh vật và liệu cái khả năng này có cung cấp các giải pháp cho các loài của chúng ta hay không? Một kịch bản xác đáng là chọn lọc tự nhiên ở cấp độ nhóm. Một người nông dân vị kỷ có thể có lợi thế hơn những người nông dân khác trong ngôi làng của mình, nhưng một ngôi làng nào đó khi giải quyết được, bằng cách này hay cách khác, bi kịch nguồn lực chung sẽ có một lợi thế mang tính quyết định hơn những ngôi làng khác. Hầu hết các loài được phân bố nhỏ thành các quần thể địa phương với nhiều quy mô khác nhau, giống như loài người được phân bố trong các ngôi làng, thành phố và quốc gia. Nếu như chọn lọc tự nhiên giữa các nhóm (ủng hộ sự hợp tác) có thể thành công chống lại chọn lọc tự nhiên trong các nhóm (ủng hộ sự bất hợp tác), thì bi kịch nguồn lực chung có thể tránh được cho loài người và những loài không phải người.

Print Friendly and PDF

20.8.22

Lịch sử kinh tế

 

LỊCH SỬ KINH TẾ

Economic History

è Giải Nobel: FOGEL, 1993 NORTH, 1993

Lịch sử kinh tế, trong thế kỉ XX, đã chấp nhận một cách tiếp cận ngày càng có tính định lượng. Và ở cương vị này, bộ môn đã giữ một vai trò độc đáo, trong nội bộ những khoa học nhân văn, vì đã dần dần triển khai những phương pháp thống kê tinh vi hơn, xây dựng một tập nhất quán những chuỗi thời gian, cũng như vì những kiến giải do bộ môn đề nghị để hiểu tốt hơn những hướng tiến hoá của thế giới đương đại, dựa trên những khái niệm và công cụ phân tích mượn của khoa học kinh tế khi không tự mình tạo nên những khái niệm và công cụ phân tích đặc thù. Những ràng buộc này đã biến bộ môn này thành một khoa học có vẻ là mới, nhất là khi so sánh với ba cách tiếp cận của lịch sử kinh tế như từng được vận dụng trong thế kỉ XIX cách tiếp cận của các nhà kinh tế, có tính đặt vấn đề và tính tổng thể theo cách của trường phái thể chế Đức, cách tiếp cận của các nhà thống kê, tập hợp những dãy dữ liệu lương và giá cả và cách tiếp cận của các nhà sử học, có tính mô tả nhiều hơn. Nhưng mối quan tâm lượng hoá đã có mặt trong những nghiên cứu được công bố trước đây với mục đích trình bày những biến giải thích những chu kì của thế kỉ XVIII và XIX: hoặc là việc phân chia lợi nhuận-lương theo cách nhìn của C. E. Labrousse (1933-1944) trong những phân tích của ông về các cuộc khủng hoảng Pháp, hoặc là xuất khẩu và đầu tư trong khuôn khổ của những công trình của A. D. Gaver (1953), R. C. O. Matthews (1954) và của D. C. North (1961) về những biến động kinh tế Anh-Mĩ. Khác biệt chủ yếu giữa những công trình này với những công trình được dùng làm cơ sở cho những trường phái gần đây hơn là ở việc mở rộng trường nghiên cứu tới chân trời rất dài hạn và ở việc vận dụng một cách tiếp cận kinh tế vĩ mô nhằm đo đạc, rồi giải thích, không phải là những tai nạn ở từng thời điểm của tình thế kinh tế mà là những quá trình công nghiệp hoá, và một cách tổng quát hơn, sự tăng trưởng của những nước Tây phương và của thế giới thứ ba

Print Friendly and PDF