22.4.26

Khủng hoảng lòng tin trong khoa học: khám nghiệm một nỗi lo lắng thường xuyên

Polytechnique insights

Tạp chí của Viện Bách Khoa Paris – Institut Polytechnique de Paris

KHỦNG HOẢNG LÒNG TIN TRONG KHOA HỌC: KHÁM NGHIỆM MỘT NỖI LO LẮNG THƯỜNG XUYÊN

Các tác giả

Hugo Mercier

Giám đốc nghiên cứu tại CNRS, chuyên gia về các khoa học nhận thức tại Viện Jean Nicod

Ben Seyd

Chuyên gia về chính trị học tại Đại học Kent

Tóm tắt

  • Chúng ta nhận thấy trong thảo luận công cộng có một câu hỏi được lặp đi lặp lại chung quanh khủng hoảng lòng tin trong khoa học, vốn có thể bị gặp nguy hiểm bởi thuyết âm mưu và tính phi lý đang gia tăng.
  • Tuy nhiên, có thể có 80% người Pháp tin tưởng vào khoa khoa học, và một nghiên cứu đã kết luận có một sự tin tưởng cao vào khoa học trên quy mô toàn cầu.
  • Theo một nghiên cứu, những mức độ tin tin tưởng cao vào khoa học được thể hiện tại Ai Cập và Ấn Độ; nước Pháp nằm ở vị thế dưới trung bình một ít.
  • Trái ngược với các định kiến, tại Pháp, các số liệu cho thấy một sự ổn định nhất định qua thời gian của sự tin tưởng vào khoa học, giống như ở Mỹ, mặc dù những người theo đảng cộng hoà có xu hướng ít tin tưởng hơn những người theo đảng dân chủ.
  • Nói chung, lòng tin vào khoa học không tuỳ thuộc vào xu hướng chính trị, nhưng sự tán thành một số luận đề có thể có tương quan với xu hướng chính trị.

Đã trở thành một điều nghe nhàm tai trong các tổ chức khoa học và trong các nhà lãnh đạo chính trị: lòng tin vào khoa học có thể sẽ bị lung lay, bị gặp nguy hiểm bởi một thuyết âm mưu hay tính phi lý đang gia tăng trong dân chúng và được hỗ trợ bởi sự bùng nổ của việc sử dụng kỹ thuật số. Liệu sự lo sợ này có cơ sở không? Để phân tách đúng, sai, chúng tôi đã phỏng vấn Hugo Mercier, giám đốc nghiên cứu tại CNRS, thuộc nhóm nghiên cứu Diễn biến và nhận thức xã hội tại Viện Jean Nicod, và Ben Seyd, nhà nghiên cứu chính trị học tại Đại học Kent.

Nỗi lo sợ này xuất hiện lúc nào?

Lo sợ tự nó không mới, nhưng người ta làm cho nó hiển thị, cũng như việc tích hợp nó vào các chính sách khoa học là mới. Nỗi lo sợ này đã lan rộng trong thời kỳ đại dịch Covid-19, trong bối cảnh các phong trào chống chích ngừa và chống cách ly. Theo giải thích của Ben Seyd, “Điều đó được thể hiện bằng việc chuyển dịch trọng tâm học thuật: chúng ta đã chuyển dịch từ những mô hình “thiếu thốn tri thức” - nơi đó trở ngại cho ảnh hưởng của khoa học được cho là dựa trên một sự hiểu biết không đầy đủ trong dân chúng – sang một mô hình “thiếu thốn lòng tin” - nơi đó trở ngại sẽ là những đánh giá tiêu cực của công chúng đối với khoa học và các nhà khoa học”.

Có phải lòng tin vào khoa học đang gặp khủng hoảng?

Các dữ liệu định lượng phủ nhận ý tưởng về khủng hoảng lan rộng[1], 80% người Pháp tin tưởng vào khoa học, điều này khiến khoa học trở thành một trong “những tổ chức” được đánh giá là đáng tin cậy nhất, xếp ngay sau các thợ thủ công và trước các bệnh viện, quân đội hay cảnh sát.

Một nghiên cứu rộng lớn đối với 68 quốc gia được công bố trên tạp chí Nature năm 2025[2] cũng kết luận về lòng tin rất cao đối với khoa học trên quy mô toàn cầu: trung bình là 3,62 theo thang đo từ 1 đến 5. Những mức cao nhất được ghi nhận tại Ai Cập và Ấn Độ ( trên 4,26) và thấp nhất ở Kazakhstan và Albania (thấp hơn 3,13). Theo nghiên cứu này, mức độ lòng tin ở Pháp hơi thấp hơn mức trung bình (3,43), điều này không có gì đáng ngạc nhiên: trong các so sánh quốc tế, nói chung nước Pháp nằm ở biên độ thấp của các nước có trình độ học vấn cao, liên quan đến lòng tin giữa các cá nhân hoặc lòng tin đối với các thể chế.

Lòng tin này đã suy giảm trong những năm gần đây?

Không suy giảm nhiều. Tại Pháp, các số liệu gợi ra một sự ổn định nhất định qua thời gian. Một loạt các dữ liệu thuần nhất từ 2001 đến 2020[3] đánh giá là 84% người Pháp năm 2020 đã cho biết họ tin tưởng vào khoa học, so với 87-89 % của những đợt trước. Riêng các dữ liệu của thước đo Sciences Po/Opinion Way đã được nêu, bao gồm giai đoạn gần nhất, cho thấy một tỷ lệ tin cậy là 78% năm 2020 và 80% năm 2025. Ở những nơi khác trên thế giới, ta cũng nhận thấy có một sự ổn định nhất định khi có những dữ liệu theo thời gian[4]. “Tại nước Mỹ, lòng tin không giảm sút đáng kể từ những năm 1970. Tại Anh Quốc, lòng tin còn tăng lên từ năm 1997. Người ta thấy rõ có một sự sụt giảm mạnh sau đại dịch Covid-19, nhất là tại Mỹ, nhưng nó cũng ảnh hưởng đến các nhóm khác: quân đội, lãnh đạo tôn giáo…” Ben Seyd đã giải thích như vậy.

Các nhà khoa học có được hưởng cùng mức độ tin cậy như khoa học không?

Một cách tổng thể là có. Ben Seyd nhận định rằng: “Khi lòng tin đối với khoa học và các nhà khoa học được đánh giá cùng nhau, những phân bổ tổng thể là tương tự nhau”. Sự đồng tình mạnh mẽ này che giấu một số tình tiết: ví dụ một nghiên cứu được công bố năm 2024 trên PLOS One[5] đã chỉ ra rằng mức độ của lòng tin biến động rất lớn tuỳ theo lĩnh vực. Do đó, lòng tin rõ ràng mạnh hơn đối với các nhà nghiên cứu về khoa học vật lý và khoa học tự nhiên so với các chuyên gia về chính trị học, kinh tế học và xã hội học.

Lòng tin vào khoa học có tuỳ thuộc xu hướng chính trị không?

Nói chung là không. Mặt khác, sự tán thành một số quan điểm cụ thể, về nguồn gốc của biến đổi khí hậu hay những lợi ích của việc chủng ngừa có thể tương liên với xu hướng chính trị. Nhưng có một số nước là ngoại lệ đối với quy tắc chung này, với một sự phân cực quan trọng của lòng tin vào khoa học nói chung theo xu hướng chính trị. Đặc biệt là trường hợp nước Mỹ, nơi mà những người bảo thủ rất ít tin tưởng vào khoa học so với những người cấp tiến, kể từ những năm 2000[6].

Đâu là chỉ báo tiên đoán tốt nhất về lòng tin vào khoa học?

Đối với Hugo Mercier, “đó là số năm giảng dạy khoa học. Bạn càng tiếp cận với khoa học, bạn càng tin tưởng nhiều hơn vào các kết quả của khoa học[7]”.

Những người chống chích ngừa có đông không?

Phong trào chống chích ngừa đã được truyền thông rầm rộ, nhưng “thực ra những người tuyên bố là họ chống đối mãnh liệt mọi loại chích ngừa là không nhiều: điển hình là từ 2 đến 5% dân số tuỳ theo nước[8]. Ngược lại, một phần lớn hơn nhiều có một thái độ bất nhất đối với chích ngừa. Ví dụ vắc xin ngừa virus gây u nhú ở người (papillomavirus-HPV) gặp khó khăn để thuyết phục tại Pháp”, Hugo Mercier giải thích như vậy.

Và những người bác bỏ sự đồng thuận về vấn đề biến đổi khí hậu?

Theo một cuộc thăm dò của IPSOS/EDF được thực hiện năm 2025[9], 33% người Pháp không tin rằng khí hậu biến đổi (9%) hoặc bác bỏ nguyên nhân do con người (24%). Những số liệu này hơi thấp hơn mức trung bình toàn cầu: 37% là những người hoài nghi, trong đó 10% bác bỏ biến đổi khí hậu và 27% bác bỏ nguyên nhân do con người. Cũng theo thăm dò này “tình trạng hoài nghi về biến đổi khí hậu không tăng thêm” và “những người hoài nghi không lợi dụng các ý kiến ít thuận lợi cho môi trường”, ngay cả tại Mỹ.

Thuyết âm mưu có gia tăng trong những năm gần đây không?

Không có dữ liệu vững chắc liên quan đến diễn biến của thuyết âm mưu tại Pháp. Mặt khác, vào năm 2022, một nhóm nghiên cứu người Mỹ và Anh đã phân tích[10] diễn tiến của bộ phận người Mỹ tin vào 46 thuyết âm mưu, một số quan sát trải dài cả nửa thế kỷ. Các nhà nghiên cứu đã nêu rõ là đã không nhận thấy bất kỳ bằng chứng nào về sự gia tăng đáng kể của thuyết âm mưu trong các giai đoạn được nghiên cứu, mặc dù dân chúng lại tin vào điều ngược lại (73% người Mỹ nghĩ rằng hiện nay các thuyết âm mưu là “không kiểm soát được” và 59% nghĩ rằng người ta có xu hướng tán thành các thuyết âm mưu hơn cách đây 25 năm).

Tán thành một luận điểm về thuyết âm mưu có phải là dấu hiệu bác bỏ khoa học?

Phần nhiều là không. Chính xác là Hugo Mercier và các đồng nghiệp đã tìm hiểu những ranh giới thực của sự ngờ vực[11] được biểu thị bởi 5% đến 10% những người đã xác nhận không có lòng tin vào khoa học. Họ đã phỏng vấn 792 người Mỹ về lòng tin của họ vào khoa học nói chung, về sự tán thành đồng thuận khoa học của họ về những tri thức căn bản (thời gian Trái Đất quay quanh Mặt Trời, kích cỡ tương đối của nguyên tử so với điện tử, v.v.) và về mức độ tin tưởng của họ đối với 10 chủ đề về thuyết âm mưu (đã có sự tiếp xúc ngoài trái đất và điều đó đã bị che giấu đối với công chúng, trái đất là phẳng, v.v.).

Kết quả: sự tán thành các tri thức khoa học cơ bản trong mẫu tổng thể là đặc biệt cao (hơn 95%), nhưng sự tán thành này cũng cao trong số những người tự nhận là không tin vào khoa học, hoặc họ hoàn toàn tán thành một chủ đề về thuyết âm mưu (hơn 87% trong cả hai trường hợp). ”Ngay cả những người tin rằng trái đất là phẳng tán thành tất cả… ngoại trừ thực tế là Trái Đất tròn”, Hugo Mercier đã bình luận.

Làm sao giải thích một số người từ chối sự đồng thuận khoa học về một số chủ đề?

Đôi khi có thể giải thích điều đó bằng việc đánh giá thấp sự đồng thuận. Ví dụ một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature năm 2024[12] đã chỉ ra rằng nhấn mạnh sự đồng thuận về nguyên nhân con người của biến đổi khí hậu đã có một tác dụng đáng kể đối với việc tán thành thực tế này, dù là nhỏ.

Nhưng với Hugo Mercier, khi người ta từ chối một sự đồng thuận, thì trong phần lớn các trường hợp là vì sự đồng thuận này gây phiền nhiễu cho chúng ta. “Trường hợp của biến đổi khí hậu thật điển hình: chấp nhận đồng thuận khoa học về nguyên nhân con người sẽ làm nguy hại đến một số lợi ích kinh tế. Hơn nữa, một phần dân chúng không mong muốn thay đổi những hành vi phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, và một cách nhất quán, họ tỏ ra nghi ngờ sự tồn tại của tình trạng khí hậu nóng lên. Nhưng ta không thể nói rằng những người này là vô lý hay họ tán thành một cách có hệ thống những điều sai sự thật khác.”

Thông tin có tác dụng gì không lên hành vi của công chúng?

Có đấy. Kinh nghiệm các chiến dịch truyền thông ủng hộ chích ngừa Covid-19 đã rõ ràng. “Trước đợt tiêm chủng đầu tiên, gần 80% người Pháp tuyên bố không muốn chích ngừa. Không lâu sau khi chiến dịch tiêm chủng bắt đầu và truyền thông cùng đồng hành, 80% lại muốn được chích ngừa”, Hugo Mercier đã giải thích. Cũng có kết quả tương tự với việc chích ngừa virus u nhú. “Khi ta tiến hành nâng cao nhận thức trong các trường học, tỷ lệ tiêm chủng gia tăng.”

Phổ biến khoa học có thể cải thiện được lòng tin vào khoa học không?

Có đấy. “Lòng tin vào khoa học có thể được giải thích một phần bởi mô hình “cảm xúc hợp lý”: chúng ta càng tin tưởng các nhà khoa học hơn nữa vì chúng ta thán phục các kết quả mà họ đạt được.” Để đi đến kết luận này, Hugo Mercier và các đồng nghiệp đã nêu ra cho 696 người Anh tham gia hai văn bản mô tả nghề khảo cổ và nghề côn trùng học[13]. Văn bản thứ nhất được tô điểm bởi những thông tin nhằm gây ấn tượng kiểu như “ngày nay các nhà khảo cổ học có thể biết được tuổi của một người đã chết cách đây hàng chục ngàn năm, khi người này ngưng bú sữa mẹ, nhờ vào cấu trúc răng của họ”. Văn bản thứ hai được viết với một văn phong trung tính. Được tiếp cận với những lời giới thiệu “gây ấn tượng” đã khiến những những người tham gia nhận định rằng các nhà khoa học liên quan là có năng lực hơn và lĩnh vực chuyên môn của họ đáng được tin cậy hơn, mặc dù họ gần như quên hết nội dung chính xác của các văn bản.

Liệu trí tuệ nhân tạo tạo sinh có thể có một tác động tiêu cực đối với tinh thần phê phán của chúng ta không?

Hugo Mercier không vội trả lời: “Ngày nay khó nêu ý kiến”. Tuy nhiên cũng có thể trí tuệ nhân tạo tạo sinh có một tiềm năng không ngờ tới. Một bài báo được công bố trên tạp chí Nature năm 2025[14] nêu ra rằng một cuộc thảo luận với mô hình ngôn ngữ lớn LLM có khả năng giúp đạt 10 điểm trên 100 liên quan đến các dự định bỏ phiếu, đó là một kết quả tốt hơn kết quả đạt được qua các đoạn video quảng cáo ngắn (spot video). “Hiệu quả lớn nhất của trí tuệ nhân tạo tạo sinh là nhờ khả năng thích ứng một cách tinh tế các lập luận với những thắc mắc của các cá nhân, điều mà một thông điệp đơn giản không kèm theo thảo luận không thể làm được.”

Anne Orliac ghi lại

Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư

Nguồn:Crise de confiance dans la science: autopsie d’une inquiétude récurrente”, Polytechnique Insights, 24.3.2026.




Chú thích:

[2] Cologna, V., Mede, N.G., Berger, S. et al. Trust in scientists and their role in society across 68 countries. Nat Hum Behav 9, 713–730 (2025). https://doi.org/10.1038/s41562-024–02090 5

[4] Seyd B., What is trust (in science and scientists) and is it in crisis?, Current Opinion in Psychology, Volume 67 (2026) 102201, ISSN 2352–250X, https://doi.org/10.1016/j.copsyc.2025.102201.

[5] Gligorić V, van Kleef GA, Rutjens BT (2024) How social evaluations shape trust in 45 types of scientists. PLOS One 19(4): e0299621. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0299621

[6] Seyd B., What is trust (in science and scientists) and is it in crisis?, Current Opinion in Psychology, Volume 67 (2026) 102201, ISSN 2352–250X, https://doi.org/10.1016/j.copsyc.2025.102201. / Source: US General Social Survey https://gssdataexplorer.norc.org/trends?category=Politics&measure=consci

[8] de Figueiredo A, Simas C, Karafillakis E, Paterson P, Larson HJ. Mapping global trends in vaccine confidence and investigating barriers to vaccine uptake: a large-scale retrospective temporal modelling study. Lancet. 2020 Sep 26;396(10255):898–908. doi: 10.1016/S0140-6736(20)31558–0. Epub 2020 Sep 10. PMID: 32919524; PMCID: PMC7607345.

[10] Uscinski J, Enders A, Klofstad C, Seelig M, Drochon H, Premaratne K, Murthi M. Have beliefs in conspiracy theories increased over time? PLOS One. 2022 Jul 20;17(7):e0270429. doi: 10.1371/journal.pone.0270429. PMID: 35857743; PMCID: PMC9299316.

[11] Pfänder J, Kerzreho L, Mercier H. Quasi-universal acceptance of basic science in the United States. Public Underst Sci. 2026 Feb;35(2):144–158. doi: 10.1177/09636625251364407. Epub 2025 Sep 1. PMID: 40888454.

[12] Većkalov, B., Geiger, S.J., Bartoš, F. et al. A 27-country test of communicating the scientific consensus on climate change. Nat Hum Behav 8, 1892–1905 (2024). https://doi.org/10.1038/s41562-024–01928‑2

[13] Pfänder, J., de Rouilhan, S., & Mercier, H. (2025). Trusting But Forgetting Impressive Science. Journal of Cognition and Culture (published online ahead of print 2025). https://doi.org/10.1163/15685373–12340227

[14] Lin, H., Czarnek, G., Lewis, B. et al. Persuading voters using human–artificial intelligence dialogues. Nature 648, 394–401 (2025). https://doi.org/10.1038/s41586-025–09771‑9

Print Friendly and PDF