ĐIẾU VĂN BÊN QUAN TÀI CỦA JÜRGEN HABERMAS
Tác giả: Nhà thần học Friedrich Wilhelm Graf
Báo Frankfurter Allgemeine Zeitung (F.A.Z.) MITTWOCH, 1. APRIL 2026 · NR. 77 · SEITE N 3
Nguyễn Xuân Xanh dịch
Một tôn giáo duy lý chỉ tồn tại khi thế giới quan của nó chứa đựng những yếu tố duy lý thúc đẩy sự nhân văn hóa của nhân loại. Ý niệm về sự phán xét của thần thánh là một trong những yếu tố đó.
— Friedrich Wilhelm Graf
Jürgen Habermas (sinh ngày 18 tháng 7, 1929, Düsseldorf — mất ngày 14 tháng 3, 2026, Starnberg, gần Munich)
Jürgen Habermas, sinh năm 1929, học triết học, lịch sử, tâm lý học, văn học và kinh tế học tại Göttingen, Zurich và Bonn. Năm 1956, với tư cách là nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu Xã hội, ông đã tiếp xúc với các nhân vật chủ chốt của Trường phái Frankfurt, bao gồm Theodor W. Adorno, Max Horkheimer và Herbert Marcuse. Sau khi làm việc tại Marburg, Bonn và Heidelberg, ông trở lại Frankfurt vào năm 1964, nơi ông kế nhiệm Max Horkheimer làm chủ nhiệm khoa triết học và xã hội học. Ông giữ vị trí này cho đến năm 1971, trong thời gian đó ông đã định hình đáng kể thế hệ thứ hai của Lý thuyết Phê phán. Từ năm 1983 cho đến khi nghỉ hưu năm 1994, ông lại giảng dạy tại Đại học Goethe, Frankfurt, nơi ông giữ chức giáo sư triết học với trọng tâm là triết học xã hội và lịch sử triết học. Habermas là một trong những nhà triết học và xã hội học được đọc nhiều nhất trong thời đại chúng ta. Jürgen Habermas từng giảng dạy nhiều năm với tư cách giáo sư tại Đại học Goethe Frankfurt, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến diễn ngôn về dân chủ, xã hội và truyền thông ở Đức. Giờ đây, ông đã trao lại cho trường cũ phần thứ hai trong di sản ban đầu của mình, bao gồm các bài viết và thư từ từ giai đoạn sau năm 1994.
Lời nói đầu
Khi đọc bài điếu văn của Graf cho Jürgen Habermas tôi có nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Một con người có tri thức bao quát như thế mà, theo sự đo lường bình thường, lại rất khiêm cung, mit Demut, khi nhiều năm đã suy nghĩ về tôn giáo. Sâu thẳm trong con người này vẫn còn sợi chỉ nối liền tri thức với tôn giáo thể như mạch văn hóa truyền thống ở châu Âu từ hai nghìn năm vẫn còn hoạt động. Khoa học ở đây vẫn còn có chất chất tôn giáo, ở tầng sâu nhất.
Erasmus xứ Rotterdam từng nói: “Chắc chắn rằng cầu nguyện là vũ khí mạnh mẽ hơn (trong cuộc chiến chống lại tệ nạn) … nhưng tri thức cũng không kém phần cần thiết.” Với Habermas có lẽ ta cần đảo ngược mệnh đề lại: Tri thức chắc chắn là vũ khí mạnh mẽ để chống lại sự vô minh, nhưng tôn giáo cũng không kém phần cần thiết cho cuộc sống của con người.
Có lẽ Habermas hành động theo tinh thần của Kant: Do sự giới hạn của khoa học vì tính chất phương pháp của nó, nên vẫn còn đủ không gian cho tôn giáo. Đối với Kant, điểm khởi đầu của tôn giáo nằm ở một lĩnh vực hoàn toàn khác, đó là ý thức về nghĩa vụ đạo đức của chúng ta. Không phải những vấn đề lý thuyết của siêu hình học mà là những vấn đề thực tiễn của đạo đức đòi hỏi Thượng đế như một tiền đề.
Habermas học và hiểu biết rất nhiều, quá nhiều là khác, nhưng vẫn còn thấy khoảng trống, thấy thế giới tri thức còn rộng lớn hơn, như Newton từng diễn tả, nhặt được vài hòn sỏi bóng láng đẹp đẽ nằm bên cạnh một đại dương mênh mông của những chân lý chưa được khám phá. Đó chính là ý thức về sự “ngu dốt” của mình, nhưng là “ngu dốt được khai sáng”, “learned ignorance” của Nicolaus Cusanus của thời Phục Hưng. Nó cũng giống như cái “ngu dốt” của Socrates nghìn năm trước đó. Có lẽ vì thế mà Habermas mới bước vào thế giới tôn giáo.
Habermas muốn có một thế giới nhân văn của Chúa, nơi đó không phải chỉ có phán xét mà còn có sự tha thứ. “Tình yêu của Chúa vượt qua mọi kháng cự”. Nhưng cũng cần biết giữ gìn nguồn gốc cao quý của mình: “Hãy suy ngẫm về nguồn gốc của bạn: bạn không được tạo ra để sống như loài thú, mà để theo đuổi đức hạnh và tri thức.” (Dante Alighieri)
Có thể cái chết của ông sẽ kích hoạt nhiều hạt giống mới để tiếp nối đi, với ánh sáng của ông, khai phá những con đường mới của thế hệ mình.
Nguyễn Xuân Xanh
***
Điếu văn
Chúng ta tụ họp về đây để tiễn đưa Jürgen Habermas đến nơi an nghỉ cuối cùng của ông. Chúng tôi muốn suy ngẫm về những gì Chúa đã lấy đi khỏi chúng ta chỉ sau vài ngày sự suy yếu đã dẫn đến cái chết. Cái chết đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn của mọi sự giao tiếp. Chúng ta không còn có thể nói những điều mình muốn nói với Jürgen Habermas nữa. Cái chết khiến chúng ta bàng hoàng và câm lặng. Nó tạo ra một sự câm lặng cơ bản. Ngôn ngữ duy nhất mà chúng ta có thể dùng để nói về sự hữu hạn của cuộc sống, về sự hữu hạn của tất cả chúng ta, chính là ngôn ngữ bằng hình ảnh tôn giáo; điều này thường được Jürgen Habermas nhấn mạnh. Ngay cả những người không còn biết phải làm gì với các biểu tượng Do Thái và Kitô giáo, ngay cả những người đã trở nên thờ ơ với tôn giáo, những người không còn nói hoặc hiểu ngôn ngữ của đức tin, vẫn phụ thuộc vào những hình ảnh tôn giáo cổ xưa này khi đối mặt với cái chết của một người gần gủi thân yêu – ít nhất là khi họ không muốn để tiếng nói cuối cùng chìm vào sự câm lặng tuyệt đối của cái chết. Để bày tỏ và diễn đạt nỗi buồn sâu sắc và nỗi đau chia ly, chúng tôi xin bắt đầu nói lời tạm biệt với Jürgen Habermas bằng lời nhắc nhở về những gì Kinh Thánh nói về sự sống và cái chết của con người trong Psalm 103 của Kinh Thánh Hebrew.
“Đức Chúa Trời là thần (Geist), nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần (Geist) và lẽ thật (Wahrheit) mà thờ lạy.” [Giăng, Johannes, 4:24]
Gia đình Habermas thương yêu,
Bạn bè và đồng nghiệp,
Và những người thương yêu đến chia buồn và tiễn đưa,
khi Jürgen Habermas yêu cầu tôi chủ trì lễ tang của ông vào tháng Giêng, tôi đương nhiên đồng ý; tôi đã hứa với vợ ông, bà Ute, điều này từ mười lăm năm trước. Ông đáp lại lời “vâng” của tôi bằng câu: “Anh biết đấy, tôi không thực sự sùng đạo (gläubig).” “Nhưng ông cũng không phải là người vô thần ngoan cố,” tôi đáp lại. Chúng tôi cười và không bàn luận thêm về vấn đề này nữa. Tuy nhiên, một điều rõ ràng: Jürgen Habermas không muốn trở thành con chiên của nhà thờ. Đồng thời, ông và bà Ute vẫn ý thức mình là thành viên của Giáo hội Tin Lành. Điều này không cho thấy sự mâu thuẫn nhận thức nào cả, mà đúng hơn là lòng trung thành với di sản của họ. Ông không thể và sẽ không che giấu việc ông bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi đạo đức Tin Lành. Tính chừng mực Tin Lành đã trở thành lối sống của ông. Không cần phải nói thêm gì nữa. Bất kỳ bình luận nào nữa sẽ vượt khỏi phạm vi tôn giáo.
Tôi muốn xem xét nghiêm túc lý thuyết gia Jürgen Habermas. Để đạt được mục đích này, tôi sẽ tập trung vào ba điểm: Thứ nhất, tôi sẽ thảo luận về các tác phẩm sau này của ông về lý thuyết tôn giáo, cụ thể là định nghĩa của ông về mối quan hệ đầy căng thẳng giữa đức tin tôn giáo và tri thức lý tính. Thứ hai, tôi sẽ phác thảo cấu trúc nhận thức cụ thể của ý thức tôn giáo. Tôi muốn làm rõ cách tiếp cận mang tính xây dựng, thách thức và khắc khe đối với các biểu tượng tôn giáo mà Jürgen Habermas đã chủ trương. Đây là những biểu tượng tôn giáo không thể tránh khỏi xuất hiện cạnh quan tài: những cách giải thích lâu đời của Kitô giáo về cái chết, thế giới bên kia và cuộc sống vĩnh hằng.
Thứ ba, đối với những người thấy điều này quá hàn lâm, uyên bác, hoặc không đủ tính thuyết giáo, tôi sẽ đưa ra một góc nhìn khác: Ở đây, tôi cố gắng vận dụng một cách tích cực những nhận thức sâu sắc của Jürgen Habermas về một cách tiếp cận mang tính phê phán nhưng cũng đầy tính xây dựng với các ý tưởng tôn giáo để phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, là nhu cầu cấp thiết phải nói lời tạm biệt.
Thứ nhất: Dịch các Khái niệm Tôn giáo
Từ giữa những năm 1990, các tác phẩm của Jürgen Habermas đã cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng đối với chủ đề tôn giáo. Sau thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ, các vấn đề triết học tôn giáo ngày càng trở thành trọng tâm trong công trình lý luận của ông. Một nhà tư tưởng tiên phong của Lý thuyết Phê phán (Kritische Theorie) lại trở thành một nhà lý luận về tôn giáo—điều này đã làm nhiều người ngạc nhiên. Nhưng nó cho thấy rằng người quá cố muốn xem xét niềm tin tôn giáo một cách nghiêm túc như một hiện tượng văn hóa và một vấn đề. Đó là một mối quan tâm lý thuyết, tuy nhiên, được thúc đẩy bởi những thách thức hiện tại: Cách mạng Iran, sự kiện 11/9, và các phong trào Cơ đốc giáo cực đoan mới ở Hoa Kỳ. Không giống như Max Horkheimer, sự chuyển hướng muộn màng này sang chủ đề tôn giáo không có nghĩa là bất kỳ sự cải đạo tôn giáo nào, như chẳng hạn theo nghĩa, rằng Habermas khi về già đột nhiên trở nên sùng đạo. Ông đã đúng khi chống cự lại những quan niệm như vậy.
Jürgen Habermas rất coi trọng tôn giáo, đôi khi thậm chí là quá mức. Ông xem đức tin là nguồn cảm hứng độc nhất vô nhị. Các biểu tượng (Religiöse Symbole) tôn giáo, dù phi lý và vốn dĩ mâu thuẫn với tri thức, nhưng sự căn thẳng không phải không giải tỏa được. Trong chiếc áo của sự phi lý chúng thật sự không phải mất đi hết lý tính. Không thể loại trừ khả năng các nội hàm lý tính được thể hiện trong các khái niệm tôn giáo.
Để minh chứng điều này, ông đã viện dẫn, ví dụ, thần học sáng thế (Schöpfungstheologie) cổ điển của Do Thái và Kitô giáo với quan niệm rằng Chúa đã tạo ra loài người theo hình ảnh của Ngài.
Ông cho rằng nguồn gốc tôn giáo của diễn ngôn hiện đại về phẩm giá con người nằm ở quan niệm con người được tạo ra theo hình ảnh của Chúa.
Jürgen Habermas đôi khi sử dụng những từ ngữ rất mạnh mẽ để mô tả chương trình của ông về việc khai thác “tiềm năng ngữ nghĩa” của ngôn ngữ biểu tượng tôn giáo thông qua sự trung gian của triết học: “Ví dụ, tôi không tin,” ông viết năm 1987, “rằng chúng ta với tư cách là người châu Âu có thể hiểu một cách nghiêm túc các khái niệm như đạo đức và luân lý, con người và cá tính, tự do và giải phóng […] mà không có sự hấp thụ bản chất của tư duy lịch sử cứu rỗi có nguồn gốc Do Thái-Kitô giáo.”
Lúc bấy giờ tôi đã phải nuốt khi đọc ông: Lý thuyết phê phán như một phả hệ của phương Tây chăng? Tuy nhiên, nếu “phần còn lại của sự tự nhận thức (Selbstverständnis) được chia sẻ giữa các chủ thể, vốn cho phép tương tác giữa con người, không bị tan vỡ”, thì việc lĩnh hội mang tính diễn giải các nội dung khái niệm tôn giáo là điều không thể tránh khỏi.
Những tràng pháo tay nhiệt liệt dành cho người được vinh danh: Jürgen Habermas sau bài diễn thuyết “Một lần nữa: Về mối quan hệ giữa đạo đức và đời sống luân lý”, bài diễn thuyết ông dành tặng Đại học Goethe nhân dịp sinh nhật lần thứ 90 của mình (18 tháng 7) vào năm 2019. Nhà triết học và xã hội học nổi tiếng người Frankfurt này hiện đã hiến tặng phần thứ hai trong di sản ban đầu của mình cho Thư viện Đại học. (©: Jürgen Lecher)
Jürgen Habermas khi đó đã mô tả điều này như là “dịch” các biểu tượng của các tôn giáo thực chứng (positive) thành những nội dung hợp lý. Bởi vì ông biết: Không có tôn giáo hợp lý nào nằm ngoài các tôn giáo thực chứng. Tôn giáo hợp lý chỉ tồn tại khi nội dung hợp lý có thể được xác định trong thế giới khái niệm của các tôn giáo được truyền lại trong lịch sử, tức là các tôn giáo thực chứng, nội dung thúc đẩy sự nhân văn hóa của nhân loại. Nhà triết học phải chứng minh tính hợp lý của chúng thông qua việc dịch thuật và do đó làm cho chúng dễ tiếp cận với diễn ngôn nói chung. Jürgen Habermas nhận thức được rằng có nhiều khái niệm tôn giáo dường như vô cùng phi lý, tức là không thể dịch được.
Ông giải quyết vấn đề này thông qua một cách tiếp cận mang tính suy ngẫm, có thể được mô tả như một hành động có ý thức nhằm giữ cho mọi thứ luôn cởi mở: Nhiều khái niệm tôn giáo truyền thống đã trở nên khó hiểu đối với chúng ta, chúng không còn ý nghĩa nữa. Chúng ta không còn có thể tìm thấy bất kỳ giá trị khẳng định cuộc sống nào từ chúng. Tuy nhiên, chúng ta không được quên chúng, mà phải giữ chúng hiện diện trong ký ức của mình. Luận điểm của ông: Không thể loại trừ khả năng những người khác, các thế hệ sau, sẽ khám phá ra một nội dung hợp lý trong đó, một nội dung thúc đẩy sự tiến bộ hơn nữa hướng tới nhân loại và tự do.
Người ta có thể xem sự nghiêm túc trí tuệ đặc biệt sâu sắc của Jürgen Habermas đối với các truyền thống tôn giáo như một hình thức lễ chúa trong tâm thần (Geist) và lẽ thật (Wahrheit). Nhưng đó là điều mà mỗi người phải tự quyết định cho mình.
Thứ hai: De novissimis, Về những điều cuối cùng
Như những phê bình tôn giáo hiện đại đã nhấn mạnh một cách đúng đắn, các hình thức ý thức tôn giáo sở hữu một cấu trúc nhận thức đặc thù. Ý thức tôn giáo, trái ngược với các hình thức ý thức khác, chẳng hạn như ý thức đạo đức hoặc thẩm mỹ, được đặc trưng bởi khả năng sản sinh ra những câu chuyện thần thoại vô cùng cao. Nó thích kể chuyện, truyền lại chuyện thần thoại và sáng tạo ra nhiều thứ. Nó say mê những hình ảnh và tầm nhìn, rồi sau đó khái quát hóa chúng.
Khi những nấm mộ được mở ra, nhu cầu suy ngẫm càng trở nên cấp thiết. Khi đó, chúng ta phải xem xét những cấu trúc cơ bản của cuộc sống con người, cụ thể là sự sống và cái chết, hay thời gian và sự vĩnh hằng. Các nhà thần học Do Thái và Kitô giáo theo truyền thống đã làm điều này trong điều kiện tiền hiện đại, phát triển các học thuyết có chủ đề rất rộng “về những điều cuối cùng” . Họ phải hệ thống hóa về mặt khái niệm một kho tàng ý tưởng về tận thế, hay thời kỳ cuối cùng, vô cùng phong phú.
Trí tưởng tượng của ý thức tôn giáo đặc biệt phong phú ở đây. Nó liên quan đến sự kết thúc của toàn bộ thực tại vũ trụ, sự hoàn thành của công trình sáng thế, chiến thắng cuối cùng của cái thiện thiêng liêng trước cái ác phản thần thánh, sự xuất hiện của Vương quốc Thiên Chúa. Ở nơi không thể nắm bắt được gì, nơi chúng ta không thể biết chắc chắn điều gì, trí tưởng tượng mộ đạo có thể mở ra những cõi tưởng tượng rộng lớn. Chỉ hai ví dụ: Theo quan điểm của Plato, các nhà thần học Kitô giáo dạy rằng khi chết, linh hồn bất tử tách rời khỏi thể xác của người đã khuất. Điều này dẫn đến những suy đoán sâu hơn: Điều gì xảy ra với linh hồn sau khi tách rời khỏi thể xác? Nó tìm được nơi an nghỉ mới ở đâu?
Ngay cả khi nhìn về ngày tận thế, những người mộ đạo cũng đã nghĩ ra những kịch bản rất khác nhau. Một số người đã phát triển những ý tưởng như cái gọi là Apokatastasis toon pantoon, sự phục hồi của vạn vật vào ngày tận thế, nơi tất cả các tạo vật, kể cả những kẻ tội lỗi, sẽ được hòa giải với Chúa – tình yêu của Chúa có thể vượt qua mọi sự kháng cự. Những kịch bản về sự hòa giải phổ quát như vậy đã cạnh tranh gay gắt với những ý tưởng về sự kết thúc dứt khoát của toàn bộ thực tại vũ trụ trong một trận hỏa hoạn toàn cầu. Chúng cũng cạnh tranh với cái gọi là thuyết địa ngục, những câu chuyện về sự đọa đày vĩnh viễn của những kẻ độc ác và những kẻ chống đối Chúa. Tôi hầu như không cần phải nói thêm về việc những viễn cảnh đáng sợ về một trận hỏa hoạn lớn (Hỏa ngục), thiêu rụi tất cả và sự phân biệt thần thoại cơ bản giữa thiên đường và địa ngục đã khuyến khích việc tạo ra những hình ảnh mới mẻ về những gì sẽ xảy ra trong tương lai.
Việc sắp xếp theo khái niệm sự bùng nổ của những hình ảnh hư cấu và tưởng tượng này đã gây ra những khó khăn đáng kể cho các nhà thần học uyên bác. Không nơi nào có nhiều tranh luận như trong lĩnh vực cánh chung học (eschatologie, thuyết mạt thế). Nhưng các nhà thần học ít nhất cũng đã có thể thiết lập một trật tự tương đối: Để làm được điều này, họ đặc biệt dựa vào các khái niệm khoa trương về toàn thể từ siêu hình học châu Âu cổ đại, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Aristotle—các khái niệm như cái toàn thể, sự quan phòng của Chúa, chính quyền thế giới của Chúa, thế giới nói chung và tức thời.
Điều này đặt ra cho chúng ta một vấn đề ngày nay: Jürgen Habermas đã nhiều lần và với sự chặt chẽ về mặt trí tuệ khẳng định rằng kể từ cuộc cách mạng tư tưởng Kant, những khái niệm siêu hình về toàn thể như vậy không còn khả dụng đối với chúng ta nữa (hoặc chỉ có thể sử dụng với cái giá của sự tự lừa dối về mặt nhận thức luận). Do đó, chúng ta chỉ có thể cố gắng dịch những huyền thoại cũ về ngày tận thế bằng các phương tiện tư duy hậu siêu hình. Điều này không dễ dàng, nhưng chúng ta phải cố gắng.
Thứ ba: Khái niệm về Ngày Phán Xét Cuối Cùng
Trong số các khái niệm cánh chung cổ đại mà tất cả các bạn đều quen thuộc, có những hình ảnh tôn giáo về nhân loại trước tòa phán xét của Chúa. Sau khi chết, hoặc, trong những thế giới tưởng tượng khác, vào cuối thời gian, nhân loại phải chịu trách nhiệm trước Chúa về những hành động và thiếu sót của mình. Chính dưới sự chứng kiến của Chúa mà người ta phải trả lời về hành vi của mình trong cuộc sống. Đây là một khái niệm mà từ đó, theo nghĩa của công trình dịch thuật của Habermas, người ta có thể suy ra tính hợp lý.
Nội hàm lý tính đằng sau khái niệm cổ xưa này nằm ở chỗ nó làm thay đổi triệt để ý thức trách nhiệm của chúng ta. Trách nhiệm được nâng cao ở đây bởi vì trước tòa phán xét của Chúa, con người không chỉ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Không giống như những thẩm phán trần gian chúng ta, Chúa có thể nhìn thấu vào tận sâu thẳm tâm hồn một người, vào trái tim họ. Trách nhiệm càng được tăng cường bởi vì trước mặt Đức Chúa Trời phán xét, con người cũng phải trả lời về tư tưởng của mình.
Một khía cạnh quan trọng khác của chủ nghĩa nhân văn hợp lý trong khái niệm phán xét cuối cùng cần được đề cập: Nếu chính Chúa phán xét chúng ta, thì chúng ta được giải thoát khỏi nhu cầu phải làm điều đó. Chúa phán xét, có nghĩa là: Chúng ta không có quyền hạn cũng như thẩm quyền để đưa ra phán xét cuối cùng về một người khác. Chúng ta không thể nhìn thấu trái tim người khác và nên tránh sự tự phụ khi cố gắng làm điều đó. Khi Chúa phán xét, chúng ta được giải thoát khỏi sự phán xét phiến diện. Điều này cũng có nghĩa là: Chúng ta không có quyền đưa ra phán xét cuối cùng về người đã khuất. Chúng ta có thể và nên ca ngợi nhà triết học nổi tiếng thế giới, hoặc người bạn như đáng cha đã hỗ trợ nhiều người trong chúng ta, bao gồm cả tôi. Nhưng ngoài ra, chúng ta hoàn toàn không có quyền định nghĩa về con người của Jürgen Habermas.
Jürgen Habermas là một nhà tư tưởng Khai sáng với mối quan tâm sâu sắc đến sự giải phóng và việc thúc đẩy tự do. Tuy nhiên, ông biết rằng con người không tự do theo nghĩa là họ tự ban cho mình sự sống. Khuyết tật thời thơ ấu đã khiến ông đặc biệt nhận thức được điều này: Chúng ta luôn luôn đã được hiến dâng cho chính mình. Sự cấu tạo thụ động này, sự tự hiến dâng này của con người, được diễn đạt bằng thuật ngữ tôn giáo như sau: Chúng ta nhận được sự sống từ bàn tay của Chúa.
Tháng Sáu năm ngoái, Jürgen Habermas đã dành vài ngày để đọc Kinh Thánh Hebrew. Ông đang tìm một câu Kinh Thánh để viết cáo phó cho vợ mình, Ute. Ông đã tìm thấy nó trong sách Jesaja, Ê-sai 4:6:
Sẽ có trại làm bóng mát tránh nắng ban ngày, và dùng làm nơi núp chổ đụp cho khỏi gió táp mưa sa.
Chúng ta xin phó thác sinh mạng của Jürgen Habermas vào tay Chúa. Chúng ta làm điều đó với lòng biết ơn và niềm tin chắc chắn rằng Chúa sẽ dẫn dắt ông đến nơi an nghỉ và ẩn náu của Ngài. Amen.
Friedrich Wilhelm Graf giảng dạy thần học Tin Lành, đặc biệt tập trung vào đạo đức, tại Đại học Ludwig Maximilian ở Munich. Ông đã đọc bài giảng này tại lễ tang của Jürgen Habermas ở Nghĩa trang Söcking vào ngày 20 tháng 3 năm 2026.
Nguồn bài viết: Điếu văn bên quan tài của Jürgen Habermas, rosetta.vn, 5 Tháng Tư, 2026.
Bài có liên quan
- Jürgen Habermas qua đời, một nhà tư tưởng lớn của hai thế kỷ và là một trí thức dấn thân
- Jürgen Habermas đã định hình trật tự thời hậu chiến – Cái chết của ông không nên là dấu chấm hết cho trật tự này
- Điếu văn tiễn Jürgen Habermas - Thất bại rực rỡ của những bậc trí giả