6.4.26

Khủng hoảng dầu khí do chiến tranh vùng Vịnh: ảnh hưởng đối với Việt Nam

KHỦNG HOẢNG DẦU KHÍ DO CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH: ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trần Quốc Hùng

(Kinh tế gia tại Hoa Kỳ)

Hình minh hoạ của PTKT, lấy từ trang businessindia.co

Chiến tranh Mỹ/Do Thái với Iran đã gây nhiều tổn hại cho các cơ sở sản xuất dầu khí trong vùng Vịnh Ba Tư, và nhất là việc đóng cửa gần như hoàn toàn eo biển Hormuz—nơi khoảng 20% lượng dầu và khí hoá lỏng trên thế giới vận chuyển bằng đường biển phải đi qua. Tình hình này đã đẩy giá dầu thô Brent từ 60 đôla lên trên 100 đô la  - tăng 67% - và có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với Việt Nam vì phải nhập vừa dầu thô vừa xăng dầu đã chế biến.

Ngành dầu khí VN dựa vào việc khai thác và xuất khẩu dầu thô (loại nhẹ có ít lưu huỳnh và giá trị cao). Hiện nay sản lượng đã giảm, còn khoảng 10 triệu tấn dầu thô năm 2025 so với mức đỉnh là 16 triệu tấn năm 2010; và 6 tỷ mét khối khí đốt. Ngược lại, VN phải nhập dầu thô (phần lớn loại nặng từ Trung Đông) để làm nguyên liệu đầu vào cho hai nhà máy lọc dầu Dung Quất (công suất 6,5 triệu tấn/năm) và Nghi Sơn (công suất 10 triệu tấn/năm). Mô hình kinh doanh này hữu hiệu nếu chuỗi cung ứng toàn cầu hoạt động bình thường liên tục. Nhưng nếu chuỗi cung ứng bị gián đoạn do chính sách mậu dịch của nước ngoài như quan thuế và cấm vận, đại dịch như Covid-19, hay chiến tranh, thì sẽ bị động và chịu hậu quả xấu: nguồn cung không ổn định và giá dầu khí tăng cao.

Thêm vào đó, mức cầu xăng dầu trong nước ngày càng tăng—lên tới 22-25 triệu tấn/năm, cao hơn khoảng 30-40% so với mức cung từ hai nhà máy lọc dầu trong nước. Vì thế VN cũng phải nhập xăng dầu, phần lớn từ các nước trong khu vực, để đáp ứng nhu cầu.

Kết quả là VN phải đối phó với tình trạng mất ổn định nguồn cung vì vận tải đường biển gặp khó khăn ở eo biển Hormuz, và giá dầu thô và xăng dầu lên cao theo giá thị trường thế giới. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), tăng giá dầu 10% kéo dài trong một năm sẽ tăng lạm phát 0,4% và giảm tăng trưởng GDP khoảng 0,1%-0,2%.

Với trữ lượng dầu thô ước tính là 4,4 tỷ thùng (đứng thứ 3 ở Đông Nam Á và thứ 25 trên thế giới), VN cần điều chỉnh chính sách dầu khí và năng lượng để giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung ngoài nước, đa dạng hoá nguồn cung nhằm tăng tính bền vững và khả năng phục hồi của ngành dầu khí.

Cụ thể, VN nên:

- Tăng cường khai thác dầu thô, đặc biệt sử dụng mỏ Hải Sư Vàng với trữ lượng lớn (khoảng 430 triệu thùng) vừa mới khám phá.

- Xây dựng thêm nhà máy lọc dầu trong nước và sử dụng dầu thô loại nhẹ của VN để tăng mức cung xăng dầu, bớt nhập khẩu.

- Sử dụng nhiều khí đốt hơn (hiện nay chỉ có 4,2% trong cơ cấu năng lượng) trong việc phát điện, hữu hiệu và bớt thải khí ô nhiễm môi trường hơn so với than đá và dầu diesel. Việc nhập khí đốt hoá lỏng từ Hoa Kỳ sẽ đa phương hoá nguồn cung và góp phần cải thiện tình trạng thặng dư thương mại quá lớn của VN đang bị chính quyền Trump soi mói.

- Cần tăng thêm các nguồn năng lượng xanh sạch vì VN vẫn phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hoá thạch - chiếm khoảng 80% trong cơ cấu năng lượng trong suốt ba thập kỷ qua.

Trần Quốc Hùng

Nguồn: Khủng hoảng dầu khí do chiến tranh vùng Vịnh: ảnh hưởng đối với Việt Nam, DienDan.Org, 17/03/2026

Print Friendly and PDF