27.7.26

Trần Đức Thảo là ai? Cuộc đời và sự nghiệp của một triết gia người Việt (2/2)

TRẦN ĐỨC THẢO LÀ AI? CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA MỘT TRIẾT GIA NGƯỜI VIỆT (2)

Phần 2: Vào chiến khu, Nhân văn Giai phẩm và nỗ lực cuối đời

Tác giả: Alexandre Féron

Biên dịch: Hoàng Lan Anh

(Nguyên tác tiếng Pháp: Qui est Tran Duc Thao? Vie et œuvre d’un philosophe vietnamien)

Nhìn lại dự án trí tuệ đầy tham vọng và cuộc đời đầy biến động của triết gia Marxist người Việt Nam này: quá dấn thân dưới mắt các nhà triết học, quá triết học đối với các nhà hoạt động, và ông bị cuốn vào những mâu thuẫn của thế kỷ. (ND: Vì bài quá dài, chúng tôi tách làm hai phần để dễ đọc. Sau đây là phần 2, từ lúc hồi hương về Việt Nam cho đến cuối cuộc đời.)

Trở về Việt Nam: Sự tổng hợp bất khả thi (1952-1985)

Cách mạng Việt Nam như là “con đường của giải pháp”[40] (1952-1958)

Người ta có thể hình dung sự hào hứng đã dẫn dắt cuộc trở về Việt Nam này. Sẽ khó khăn hơn để biết Trần Đức Thảo đã sống như thế nào trong những năm đầu tiên trở về Việt Nam, vốn ngay lập tức diễn ra dưới dấu ấn của sự ngộ nhận. Người ta có thể phân biệt ba khoảnh khắc lớn trước năm 1958.[41] [ND: tức là thời gian khi ông bị tước hết mọi quyền lực và phương tiện làm việc và sinh sống, phải làm bản kiểm thảo công khai trước Đảng].

Khi Trần Đức Thảo đến Chiến khu Việt Bắc[42] vào năm 1952, cuộc chiến tranh Đông Dương đang ở giai đoạn quyết liệt. Ông ngay lập tức được phân công vào các công việc khác nhau để phục vụ cuộc đấu tranh này. Đầu tiên ông được giao viết hai báo cáo (về các doanh nghiệp và hệ thống giáo dục) trước khi được cử đến làm việc bên cạnh Tổng Bí thư Trường Chinh để lo việc dịch thuật các tác phẩm của nhà lãnh đạo. Ông được mô tả qua một số chứng cứ như một người “ngây thơ và đầy nhiệt huyết” (Tô Hoài): ông từ bỏ trang phục phương Tây và đẩy sự nhiệt thành của mình đến mức từ chối ngủ trong màn (điều khiến ông bị sốt rét). Tất cả những điều đó minh chứng cho một ý muốn biến đổi mối quan hệ của ông với thế giới, phủ nhận quá trình đào tạo phương Tây của mình, để “(trở) thành” những gì ông đáng lẽ đã là nếu không được giáo dục bởi hệ thống thuộc địa.

Nhưng chính vào năm 1953 đã diễn ra “chấn thương mở đầu”[43]: ông bị điều động vào một đội chỉnh huấn cải tạo tư tưởng của cải cách ruộng đất. Thật vậy, ông đến Việt Nam vào thời điểm mà chủ nghĩa Mao, kể từ chiến thắng của Cách mạng Trung Quốc vào tháng 10 năm 1949, đang chiếm một tầm quan trọng đáng kể. Khẩu hiệu về một mặt trận đại đoàn kết dân tộc rộng rãi chống Pháp đã cáo chung. Mục tiêu được thừa nhận theo Trường Chinh (người tổng công trình sư cho bước ngoặt theo chủ nghĩa Mao) là “tạo ra sự phân rẽ và gây ra một cú sốc tâm lý tập thể”.

Chúng tôi không có bất kỳ chứng cứ nào về những gì ông đã làm, đã thấy hay đã phải chịu đựng trong giai đoạn này, ngoại trừ việc ông, theo Philippe Papin, đã ở “nơi tồi tệ nhất vào thời điểm tồi tệ nhất”.

Cuối cùng, với sự kết thúc của chiến tranh Đông Dương vào năm 1954, một giai đoạn bình yên hơn dường như được mở ra. Ông tìm lại được các chức năng của một học giả đại học. Đầu tiên là giảng dạy lịch sử cổ đại tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1954-1955), sau đó ông trở thành giáo sư lịch sử triết học vào năm 1955. Vào năm 1956, ông thậm chí còn được bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa lịch sử. Các bài giảng của ông, được ông thực hiện trong bộ trang phục quân đội, xoay quanh “lịch sử tư tưởng trước Marx”[44]. Chúng thú vị vừa bởi cách đọc lịch sử triết học mà ông đề xuất, vừa bởi nỗ lực mà ông triển khai để dịch thuật một cách thỏa đáng các khái niệm của triết học phương Tây sang tiếng Việt.

Sự thay đổi lớn diễn ra trong hoạt động trước tác trí thức là việc ông từ bỏ việc sử dụng tiếng Pháp, lặp lại đều đặn, theo một cách nào đó trên cấp độ lý luận, những gì mà chiến dịch chỉnh huấn phải tiến hành dưới góc độ thực tiễn. Tất cả các bài báo ông viết trong những năm này đều bằng tiếng Việt[45]. Các bài này có thể phân thành hai nhóm lớn: trước hết là năm bài báo về lịch sử và văn học Việt Nam, và hai bài báo tiếp nối các công trình duy vật của ông về ý thức như bài “Nguồn gốc của ý thức trong sự tiến hóa của hệ thần kinh” (1955).

Vào năm 1956, tình hình của các trí thức ở Việt Nam cảm thấy mình bị đảo lộn. Toàn bộ thế giới “xã hội chủ nghĩa” khi đó trải qua một phong trào cởi mở: “tan băng” hay “hạ bệ Stalin” ở Liên Xô và “Trăm hoa đua nở” ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, sự hào hứng của các trí thức càng lớn hơn khi, kể từ lúc chiến tranh kết thúc, họ không còn cảm thấy bị buộc phải phục tùng đường lối chính trị một cách tuyệt đối nữa.

Chính lúc đó đã ra đời hai tạp chí, Nhân Văn và Giai Phẩm, vốn sẽ đứng ở vị trí tiên phong của phong trào phê bình. Trần Đức Thảo tham gia vào phong trào này. Chính ông là người đã tìm người dịch văn bản về cuộc vận động “Trăm hoa đua nở” sang tiếng Việt.

Ông cũng xuất bản hai bài báo vào năm 1956. Bài thứ nhất có tiêu đề “Nội dung xã hội và các hình thức tự do” (tháng 10 năm 1956) xoay quanh mối gắn kết giữa các quyền tự do của cá nhân và tập thể trong chủ nghĩa xã hội: chủ nghĩa cộng sản không được phép phủ định, mà ngược lại phải là việc hiện thực hóa sự tự do. Bài báo thứ hai, “Nỗ lực phát triển các quyền tự do và dân chủ” (tháng 12 năm 1956), táo bạo hơn, vì nó lên án cụ thể hơn sự quan liêu hóa của chế độ và những “sai lầm” đã phạm phải trong cuộc cải cách ruộng đất.

Hai văn bản này đã định đoạt số phận của ông trong suốt phần đời còn lại. Trần Đức Thảo, dù chỉ với những trách nhiệm giới hạn mà ông có trong phong trào phản kháng, đã trở thành một kiểu dê tế thần cho chiến dịch tổng lực mà Đảng phát động sau đó để chống lại “chủ nghĩa xét lại”. Bị cách chức tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào tháng 12 năm 1956, ông phải chịu một cuộc đấu tố trong khuôn viên trường đại học vào tháng 3 và tháng 4 năm 1957. Song song đó, người ta tiến hành một chiến dịch bôi nhọ ông trên báo chí. Người ta đặc biệt cáo buộc ông là “Trotskyist” vì quá khứ hoạt động cách mạng của ông [ND: trong thời gian ở Pháp].

Vào tháng 6 năm 1957, ông bị Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng tuyên bố là “kẻ thù của tổ quốc và của chủ nghĩa xã hội”. Người ta cáo buộc ông là một kẻ “mất gốc” đã đánh mất liên lạc với “nhân dân” Việt Nam. Vào tháng 5 năm 1958, ông làm bản tự kiểm điểm công khai, nhưng nó không được coi là thỏa đáng. Đó là bước khởi đầu cho cuộc lưu đày nội tâm lâu dài của ông.

Cuộc lưu đày nội tâm (1958-1985)

Chúng ta có rất ít thông tin về giai đoạn này trong cuộc đời ông. Từ năm 1958 đến năm 1961, Trần Đức Thảo bị đưa đi lao động chỉnh huấn tại một nông trường. Khi trở lại Hà Nội vào năm 1961, ông đã bị gạch tên khỏi biên chế đại học và bị tước quyền phân phối nhà ở. Ông sống bằng tư cách bấp bênh là “cộng tác viên bên ngoài” cho Nhà xuất bản “Sự Thật” để làm công việc dịch thuật.

Điều kiện sống của ông càng trở nên tồi tệ hơn khi cuộc chiến tranh với Mỹ bắt đầu (1964-1975) làm suy sụp thêm tình hình vật chất ở miền Bắc Việt Nam. Một người từng hy vọng đặt tri thức của mình để phục vụ Cách mạng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giờ đây lại thấy mình bị gạt ra ngoài lề và trở nên vô dụng. Tuy nhiên, không có lúc nào ông tỏ ra là một người bất đồng chính kiến. Ngược lại, ông dường như có xu hướng chờ đợi sự “phục hồi” danh tiếng cho mình hơn.

Điều kiện làm việc của ông cũng rất khó khăn. Ông sống rất cô lập. Dù vậy, ông vẫn được phép nhận một số ấn phẩm từ nước ngoài, nhưng không đủ để có thể theo kịp sự phát triển của môi trường trí thức châu Âu. Olivier Todd, trong một chuyến đi đến Việt Nam, được cho là đã nhận ủy thác từ Sartre để cố gắng tiếp xúc với Trần Đức Thảo – một nỗ lực đã diễn ra trong vô vọng. Thế nhưng, người ta vẫn cảm thấy Trần Đức Thảo đang tìm kiếm những người đối thoại, như được minh chứng qua bức thư đính kèm một bài báo mà ông gửi cho tờ La Pensée:

“Các ông biết đấy, ở đây chúng tôi hầu như không có gì từ những thứ được xuất bản ở Pháp. Liệu các ông có thể vui lòng gửi cho tôi những lời phê bình có thể hướng vào tôi được không? Các ông sẽ giúp tôi rất nhiều cho việc tiếp tục các nghiên cứu của mình.”[46]

Dù không xuất bản bất kỳ văn bản nào tại Việt Nam trong suốt giai đoạn này, ông vẫn được phép gửi một số bài báo sang Pháp cho các tạp chí cộng sản như La Pensée và Nouvelle critique.

Bất chấp tất cả những khó khăn vật chất đó, những năm 1960 lại kết thành một giai đoạn tái khởi động hoạt động sáng tạo triết học của Trần Đức Thảo. Dự án triết học vẫn giữ nguyên như năm 1948: nắm bắt sự phát sinh thực tế của ý thức từ tính vật chất.

Tuy nhiên, ông đánh giá rằng cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng đã không thực hiện dự án một cách thỏa đáng. Thật vậy, ông giải thích trong một bài báo năm 1974 rằng các phân tích trong tác phẩm của ông “chỉ mang lại kết quả thực tế cho việc thấu hiểu hành vi động vật.”[47] Ngược lại, tất cả những gì liên quan đến “việc phân tích các thực tại của con người” đều phải làm lại. Ông cho rằng mình đã bị cầm tù quá nhiều trong chủ nghĩa duy tâm của Husserl và Hegel. Tóm lại: “Không còn cách nào khác ngoài việc phải làm lại toàn bộ công việc từ đầu.”[48]

Các nghiên cứu của Trần Đức Thảo cho đến những năm 1980 được chia theo hai trục. Trục nghiên cứu thứ nhất tập trung vào việc phân tích phép biện chứng, đặc biệt là mối quan hệ giữa Hegel và Marx. Đó là việc lật lại các văn bản của Marx và Hegel để cố gắng hiểu bản chất chính xác của sự đảo ngược mà Marx đã áp đặt lên phép biện chứng Hegel. Ý tưởng ở đây là điều này sẽ cho phép ông hiểu rõ hơn cách thức mà chính ông phải tự giải thoát mình khỏi các ảnh hưởng hiện tượng học. Các nghiên cứu này tìm thấy kết quả chung cuộc trong một bài báo về “Hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hegel”[49] (1965) và hệ vấn đề này được xem xét lại trong bài báo năm 1974 của ông: “Từ hiện tượng học đến phép biện chứng duy vật của ý thức (I)”.

Trục thứ hai, trục nghiên cứu chính của ông là sự tái cấu trúc phân tích duy vật về ý thức. Sự thay đổi quan trọng nhất diễn ra là việc đánh giá lại vị trí của ngôn ngữ đối với ý thức. Trong khi ở cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngôn ngữ chỉ đóng một vai trò thứ yếu trong sự cấu thành ý thức con người, thì từ nay ngôn ngữ được nhìn nhận như “thực tại trực tiếp”[50] của ý thức.

Do đó, để hiểu được bước chuyển từ “tâm lý cảm giác – vận động” của động vật sang ý thức con người, cần phải phân tích sự sở đắc ngôn ngữ. Từ đó dẫn đến tiêu đề mà ông sẽ đặt cho tác phẩm thứ hai của mình: Nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức[51]. Ông chắc chắn vẫn tiếp nối hệ vấn đề phát sinh luận của mình, nhưng giờ đây, để hiểu được sự phát sinh của ý thức, người ta phải hiểu được sự phát sinh của ngôn ngữ.

Tác phẩm này trước hết cấu thành một đóng góp quan trọng cho một quan niệm “duy vật” hoặc “Marxist” về ngôn ngữ. Phê phán các quan niệm cấu trúc luận (Saussure, Jakobson) vốn cho rằng ngôn ngữ chỉ tự quy chiếu về chính nó, Trần Đức Thảo khẳng định sự cần thiết phải hiểu ngôn ngữ từ chức năng quy chiếu của nó[52]. Như vậy, yếu tố nguyên thủy của ngôn ngữ là việc sở đắc cái mà ông gọi là “cử chỉ chỉ trỏ” (hay chỉ dẫn), nghĩa là năng lực của con người trong việc liên hệ với một đối tượng được nắm bắt như là cái ở bên ngoài mình. Sự sở đắc “hình thái nguyên thủy của ý thức” này khởi đầu cho sự thoát ly khỏi đặc tính động vật với sự xuất hiện của “người vượn” (Australopithecus).

Tiếp theo, sự phát triển của công cụ và ngôn ngữ đánh dấu các giai đoạn khác nhau của tiến hóa cho đến khi xuất hiện con người hiện đại. Để cố gắng hiểu các giai đoạn khác nhau của sự phát sinh này, Trần Đức Thảo đã xây dựng một ngôn ngữ hình thức dựa trên ba yếu tố cơ bản: “cái này” (cử chỉ chỉ trỏ, ký hiệu “C”), “hình thái” (“F”) và “sự vận động” (“M”). Chính thông qua các tổ hợp khác nhau của ba yếu tố này mà ngôn ngữ của con người hiện đại dần được cấu thành. Như vậy, các nghiên cứu này của Trần Đức Thảo vừa là những đóng góp cho một lý thuyết duy vật về ngôn ngữ, vừa là cho một quan niệm duy vật về sự phát sinh nhân loại hay quá trình “trở thành người”.

Một khái niệm Marxist quan trọng mà ông đưa vào tác phẩm này là khái niệm “ngôn ngữ của đời sống thực tế”[53]. Đây là một tập hợp các ý nghĩa khách quan được cấu thành độc lập với ý thức, trong hoạt động vật chất của con người. Khái niệm này thay thế cho khái niệm “trải nghiệm tiền vị ngữ”: trong khi trải nghiệm đó mang tính cá nhân và “câm lặng” (có trước mọi sự diễn đạt), thì khái niệm “ngôn ngữ của đời sống thực tế” cho phép chỉ ra chiều kích mang tính xã hội trực tiếp của sự hiện hữu con người, cái vốn dĩ luôn ngâm mình sẵn trong một tập hợp các ý nghĩa đã được cấu thành bởi xã hội.

Những cuộc đấu tranh cuối cùng của Trần Đức Thảo (1985-1993)

Chính trong thập niên 1980, tình hình của Trần Đức Thảo đã được cải thiện. Một lần nữa, đây lại là hệ quả từ sự phát triển của tình hình quốc tế với sự khởi đầu của trào lưu cải tổ (Perestroika) ở Liên Xô. Ông trở lại vào cuối thập kỷ này như một nhân vật có tầm quan trọng nhất định dưới góc độ chính trị. Điều này cũng cho phép ông tái khởi động hoạt động triết học của mình.

Một phần các nghiên cứu của ông khi đó bao gồm việc cố gắng định hình một sự tổng kết phê phán đối với chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao. Trong văn bản Triết học của Stalin, viết năm 1986, Trần Đức Thảo phân tích cuốn Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Stalin để chỉ ra quan niệm phi biện chứng vốn đã là nền tảng cho thế giới quan của ông ta.

Nhìn chung, chủ nghĩa Stalin bị xem là đã rơi trở lại vào nhị nguyên luận và không hiểu phép biện chứng: ông ta đã đặc biệt xem nhẹ thực tế rằng mọi sự phủ định biện chứng cũng đồng thời là sự bảo tồn – một yếu tố quan trọng trong bước chuyển sang chủ nghĩa xã hội, bởi vì không thể đơn giản là phủ định mọi thứ trong xã hội tư bản, mà vấn đề là phải “vượt bỏ” nó một cách biện chứng. Chống lại chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao, đặc biệt là trong cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa bài nhân văn[54] (1988), Trần Đức Thảo đã bảo vệ một “chủ nghĩa nhân văn Marxist” như thế.

Song song với điều đó, ông lật lại lần thứ ba dự án năm 1948 của mình với việc soạn thảo tác phẩm Sự hình thành con người vào năm 1986 cũng như hai bài báo xuất bản trên tờ La Pensée: một bài về “Sự ra đời của người đầu tiên”[55], và bài kia về “Phép biện chứng logic trong sự phát sinh của bộ ‘Tư bản’”[56]. Mục tiêu vẫn luôn là hiểu một cách biện chứng bước chuyển từ một trạng thái này sang một trạng thái khác (từ động vật sang con người; từ phong kiến sang tư bản; từ tư bản sang cộng sản).

Với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết năm 1991, tình hình lại trở nên thắt chặt ở Việt Nam. Những người ủng hộ cải tổ, mà Trần Đức Thảo là một thành viên, thấy mình rơi vào một tình thế khó khăn. Chính trong bối cảnh đó đã diễn ra cuộc rời khỏi Việt Nam của ông để sang Pháp – đất nước mà ông đã không còn nhìn thấy lại suốt bốn mươi năm.

Có những biện giải khác nhau về lý do của chuyến đi này: Trần Đức Thảo được cho là đã nói rằng ông được gửi sang Pháp để chịu một cuộc xét xử chính trị do Đảng Cộng sản Pháp thụ lý[57].

Nhưng cần phải xét đến thực tế là hội chứng bị bức hại của ông đã biến chuyển, vào cuối đời, thành một chứng hoang tưởng thực sự. Thật vậy, Philippe Papin đã tìm thấy một bức thư chính thức xuất phát trực tiếp từ Ban Chấp hành Trung ương chỉ định Trần Đức Thảo cho một “sứ mệnh chính trị chính thức” được thực hiện bằng “chi phí của Đảng”. Ông ngoài ra còn được sắp xếp chỗ ở tại Paris trong các cơ sở thuộc về Đại sứ quán Việt Nam. Trên thực tế, có vẻ như sứ mệnh của ông khi đến Paris là để bảo vệ phiên bản chính thức của chế độ về vụ án “Nhân Văn – Giai Phẩm”.

Tại Paris, ông cố gắng kết nối lại với những người quen triết học cũ của mình (Jean-Toussaint Desanti, Paul Ricœur, Maurice de Gandillac), đồng thời giữ một khoảng cách tốt đối với “những người theo trường phái Althusser”. Ông thực hiện một số cuộc diễn thuyết (tại Đại học Paris VII về triết học của Stalin, tại ENS về Husserl; một buổi khác về cuốn Nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức của ông), và lao vào việc soạn thảo một tác phẩm triết học thứ ba.

Ông lật lại Husserl và Hegel bằng cách trở lại với những gì ông đã viết trong cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng về sự thời gian hóa và cái mà ông gọi là “Hiện tại sống động”[58]. Ông cũng muốn cập nhật cho mình những khám phá mới nhất trong sinh học và nhân học, không nghi ngờ gì, vẫn luôn trong ý tưởng tiếp tục dự án năm 1948. Nhưng, trong một trạng thái thể chất cũng như tâm lý bị suy sụp nghiêm trọng, sau một cú ngã, ông đã qua đời tại bệnh viện Broussais vào ngày 24 tháng 4 năm 1993.

Số phận của Trần Đức Thảo không thể phủ nhận là nó mang một chiều kích bi tráng. Trước hết, đó là một sự thất bại chính trị: giống như bao người khác ở thế kỷ XX, ông đã dấn thân cả thể xác lẫn tâm hồn vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản và đã va đập vào sự cứng nhắc của chủ nghĩa Stalin và các chế độ quan liêu. Sự hy sinh cả sự hiện hữu của ông cuối cùng đã không mang lại bất kỳ lợi ích chính trị nào.

Còn về tác phẩm triết học của ông, mọi thứ sẽ khó khăn hơn để đánh giá. Nếu một phần chắc chắn đã được thực hiện dưới sự kiểm duyệt hoặc tự kiểm duyệt chính trị, thì Trần Đức Thảo đã cố gắng dẫn dắt các nghiên cứu độc đáo trong các lĩnh vực ít được khai phá bởi chủ nghĩa Marx (nghiên cứu về ngôn ngữ, về sự phát sinh nhân loại, về sự tiến hóa, v.v.). Sự thất bại triết học chủ yếu là việc ông thiếu vắng những người đối thoại trong suốt sự nghiệp nghiên cứu của mình (từ đó dẫn đến chiều kích mang tính lặp đi lặp lại trong các nghiên cứu của ông) và thực tế là ông hầu như không được người khác chú ý nghiên cứu hay thậm chí là được đọc.

Tuy nhiên, số phận hậu thế của ông vẫn chưa được định đoạt hoàn toàn. Tại Việt Nam, ông dường như đang trải qua một hình thức phục hồi danh tiếng nhất định, khi vào năm 2001, ông đã được truy tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”. Hơn nữa, phần lớn các công trình lý luận của ông kể từ những năm 1960 chưa bao giờ là đối tượng được xuất bản. Người ta ước tính rằng, trong một quỹ lưu trữ và tài liệu tại Việt Nam, có hơn 8000 trang bản thảo chưa được công bố, cộng thêm các bản nháp, ghi chú, v.v..

Phải chăng một phần quan trọng trong tư tưởng của Trần Đức Thảo vẫn còn đang chờ được khám phá?

./.

Tác giả: Alexandre Féron

Biên dịch: Hoàng Lan Anh – Tháng 6/2026

Xem lại Phần 1: Cuộc đời học thuật dấn thân ở Pháp

Hoặc tải PDF toàn bài (cả 2 phần)

Nguồn nguyên tác: Qui est Tran Duc Thao ? Vie et œuvre d’un philosophe vietnamien – Contretemps, CONTRE TEMPS, Tháng 2, 2014

Nguồn bản dịch: Trần Đức Thảo là ai? Cuộc đời và sự nghiệp của một triết gia người Việt (2), DienDanKhaiPhong.Org, 03 Tháng Bảy, 2026




Tài liệu tham khảo và chú thích:

[40] La Formation de l’homme, lời tựa, tr. 1.

[41] Về giai đoạn này trong cuộc đời ông, chúng ta chỉ có những thông tin rất manh mún. Chúng tôi đã sử dụng các văn bản tự thuật của Trần Đức Thảo (đã trích dẫn ở trên), nhưng cũng cả bài phát biểu của Philippe Papin tại hội thảo về Trần Đức Thảo (http://savoirs.ens.fr/expose.php?id=832; một bản viết “Itinéraire II. Les exils intérieurs” nằm trong cuốn L’itinéraire de Tran Duc Thao), tác phẩm của Trịnh Văn Thảo (đã trích dẫn ở trên), và bài báo của McHale: “Vietnamese Marxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-1993”.

[42] Vùng phía Bắc Hà Nội vốn phục vụ làm căn cứ cho Việt Minh.

[43] Theo cách diễn đạt của Philippe Papin, sách đã dẫn, tr. 66.

[44] Một tác phẩm đã được xuất bản dựa trên các ghi chép bài giảng của học trò ông vào năm 1995. Nó lấy lại các nét đại cương của một tác phẩm mà ông đã xuất bản bằng tiếng Việt tại Paris năm 1950: “Triết học đi về đâu?”. Về chủ đề này xem các nghiên cứu của Trịnh Văn Thảo.

[45] Không có bài báo nào trong số này được dịch.

[46] La Pensée, số 128, tháng 7 – tháng 8 năm 1966, tr. 4.

[47] “De la phénoménologie à la dialectique matérialiste de la conscience (I)”, trong tờ La Nouvelle Critique, số 79-80, 1974, tr. 37.

[48] Tài liệu đã dẫn, tr. 38.

[49] La Pensée.

[50] Recherches sur l’origine du langage et de la conscience, Éditions sociales, 1973, tr. 13.

[51] Xuất bản tại Nhà xuất bản Éditions sociales năm 1973. Nó lấy lại các bài báo đã xuất bản trên tờ La Pensée (giữa năm 1966 và 1970) cũng như một nghiên cứu chưa từng công bố về các mối quan hệ giữa phân tâm học và chủ nghĩa Marx.

[52] Đây không nghi ngờ gì chính là lý do khiến Althusser đánh giá, khi đọc các bài báo này xuất bản trên tờ La Pensée, rằng Trần Đức Thảo, bởi sự bận tâm của mình về nguồn gốc và sự phát sinh, vẫn giữ tính chất “kiểu Husserl”. (L’avenir dure longtemps, tr. 362).

[53] Marx, Hệ tư tưởng Đức, tr. 50.

[54] Tác phẩm là một sự công kích chống lại Althusser, và thông qua ông ta, chống lại Trung Quốc thời Mao và Khmer Đỏ.

[55] La Pensée, số 254, tháng 11 – tháng 12 năm 1986, tr. 24-35.

[56] La Pensée, số 240, tháng 7 – tháng 8 năm 1984, tr. 77-91.

[57] Người ta có thể xem về chủ đề này chứng cứ của Thierry Marchaisse trong văn bản của ông “Tombeau sur la mort de Tran Duc Thao” (xuất bản lại trong cuốn L’itinéraire de Tran Duc Thao, tr. 254-257).

[58] “La logique du présent vivant”, trong tờ Les Temps Modernes, số 568, tháng 11 năm 1993, tr. 154-168.

Print Friendly and PDF