1.9.26

Về một số mục liên quan đến thống kê trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

VỀ MỘT SỐ MỤC LIÊN QUAN ĐẾN THỐNG KÊ TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU

Analyse des correspondances/Analyse des correspondances multiples [Phân tích những tương ứng/Phân tích những tương ứng bội]

Phân tích những tương ứng là một kĩ thuật của thống kê đa biến (thống kê xử lí các bảng có nhiều biến). Phân tích này là một biến thể của “phân tích nhân tố” hay của “phân tích những thành phần chính” (ACP) được các nhà tâm lí học sử dụng từ những năm 1940, nhưng tiến triển nhiều và được phổ biến, ít ra là ở Pháp trong những năm 1960 và 1970 dưới sự thúc đẩy của nhà thống kê học Jean-Paul Benzécri và những người cộng tác với ông. Các cộng tác viên này mở rộng, về mặt toán học lẫn tin học, phân tích nhân tố không những ra những bảng có biến định lượng, như chiều cao hay tuổi tác, mà còn đến cả những bảng có biến định tính, như giới tính hay thành phần xã hội-nghề nghiệp (“nam giới”, “công nhân”, v.v.).

Pierre Bourdieu sử dụng kĩ thuật này từ giữa những năm 1970, chủ yếu là biến thể mà ngày nay được gọi là “phân tích những tương ứng bội” (ACM), cho phép xử lí thông tin của một tập những cá thể thống kê (ví dụ, đó có thể là những cá thể sinh học, những tập thể …) với một số lớn những biến định tính. Tại Trung tâm xã hội học châu Âu (CSE), Salah Bouhedja nghiên cứu kĩ thuật và các chương trình tin học cho phép triển khai ACM. Bài viết đầu tiên có một ACM được công bố năm 1976 và được đăng ba năm sau, dưới một dạng được tu chỉnh, trong La Distinction. Trừ trường hợp của sơ đồ nổi tiếng về không gian xã hội, những biểu đồ trong tác phẩm này về các biến thể của thị hiếu (goût) thống trị và thị hiếu trung bình [Di: 296, 392] là kết quả của ACM. Tiếp sau đó, Bourdieu vận dụng ACM cho việc nghiên cứu giới chủ [PB 1978b; rồi La Noblesse d’État], trường hàn lâm [Homo academicus], các Trường lớn [], chính sách nhà ở [Les Structures sociales de l’économie], ngành xuất bản [PB 1999a]. Những nhà nghiên cứu lấy cảm hứng từ Bourdieu và/hay làm việc bên cạnh ông cũng vận dụng phân tích những tương ứng trong những bài viết trên tạp chí Actes de la recherche en sciences sociales để xây dựng những trường (trường các tiên phong nghệ thuật, trường các nhà kinh tế, trường điện ảnh …), nghiên cứu thị trường hôn nhân, sự thừa kế những cơ sở nông nghiệp, những cách sử dụng tin học, những lá thư tố cáo, v.v.. Nếu các ACM trong La Distinction và trong La Noblesse d’État nhắm vào những cuộc điều tra bằng bản câu hỏi do CSE tiến hành, các ACM do Bourdieu công bố dựa trên những đặc tính của các giới (prosopographies).

Phân tích những tương ứng bội đôi lúc hiện ra, đặc biệt ở nước ngoài, như là “phương pháp thống kê của Bourdieu” [Le Roux et Rouanet 2010: 4]. Quả thật là ACM ít được biết đến bên ngoài nước Pháp và Bourdieu nhấn mạnh sự tương hợp của phương pháp này với quan hệ luận được ông triển khai trong xã hội học [Réponses: 72]. Vả lại, nếu trước những năm 1970, ACM tất nhiên là khó được các nhà nghiên cứu khoa học nhân văn sử dụng thì Bourdieu chiếm lĩnh lấy nó vào lúc mà Bourdieu ngày càng trình bày rõ ràng tham vọng thiết lập một “lí thuyết các trường”. Thế mà, ACM, như được ông vận dụng, tỏ ra rất hữu ích cho việc nghiên cứu những không gian và trường xã hội, đặc biệt để làm nổi lên cấu trúc và để nghiên cứu logic liên kết những vị thế và quan điểm. Theo chiều hướng này ACM đại diện cho một thành tố của chính xã hội học về các trường, cho dù một mặt, một số phân tích về trường không viện đến nó và, mặt khác, các công bố của Bourdieu có các ACM luôn vận dụng song song với ACM, những chất liệu thu được từ những cuộc phỏng vấn hay từ những kĩ thuật dân tộc học.

Về mặt kĩ thuật, ACM giúp tổng hợp hay “tóm tắt”, đặc biệt dưới dạng biểu đồ, thông tin được chứa đựng trong các bảng lớn. Để hình dung các nguyên lí của phân tích này, cần nhớ là những bảng như vậy một cách lí tưởng có thể được biểu hiện thành biểu đồ: nếu dễ dàng vẽ trên một biểu đồ hai chiều thông tin chứa đựng trong một bảng có hai biến định lượng (thuộc phạm vi xử lí của ACP) cho một tổng thể nhất định, ta có thể quan niệm là về mặt lí thuyết có thể biểu trưng một bảng có n biến định lượng bằng một đám mây trong một không gian n chiều. Nguyên lí của ACP (và của ACM không khác mấy, các dạng thức khác nhau của các biến – ví dụ “nam”, “nữ” – cũng giữ một vai trò tương tự với vai trò của các biến trong một ACP) là xem xét đám mây này trong một không gian chiều nhỏ hơn (“mặt phẳng các nhân tố”) giữ lại tốt nhất dạng của đám mây. Về mặt hình học, ACP chỉ thay đổi hệ thống qui chiếu mà, nếu nó đòi hỏi những phép tính phức tạp, là so sánh được với thao tác ta tiến hành một cách trực giác khi tìm cách vẽ lại một khối lượng có ba chiều và không dùng kĩ thuật phối cảnh; hay khi, ví dụ, nghệ thuật Ai cập biểu trưng đôi bàn chân bằng cách nhìn nghiêng vì đó là hướng làm cho hình khối của đôi chân rõ nét nhất. Biểu đồ của các ACP biểu hiện một mặt, dạng thức của các biến (những đặc tính của giảng viên trong tác phẩm Homo academicus), mặt khác, của các cá thể (chính bản thân các giảng viên), trong hệ thống qui chiếu mới được xác định sao cho các trục tương ứng với các đường thẳng dài tối đa của đám mây, hay nói cách khác, với những nguyên lí cơ bản cấu trúc hóa những dữ liệu được phân tích.

Bourdieu có trực giác rất mạnh đối với những đặc tính hình học của ACM và sự tiện lợi của phân tích này trong khuôn khổ của một lập luận cấu trúc [Rouanet et al. 2000]. Sự phân phối dạng thức trong những không gian của ACM dẫn đến việc nghiên cứu những đặc tính, không phải vì bản thân của chúng, nhưng trong các quan hệ lẫn nhau của những đặc tính này. Trên trục thứ nhất của “thị hiếu thống trị” trong tác phẩm La Distinction, dạng thức biểu trưng cho bài nhạc Le Clavecin bien tempéré rất gần với dạng thức Le Clavecin bien tempéré hay với dạng thức liên kết với ca sĩ Jacques Douai; ngược lại, nó lại xa với các dạng thức của bản nhạc Beau Danube bleu, của họa sĩ Raphaël hay của ca sĩ Guétary. Phân bổ này của các dạng thức trên trục thứ nhất hỗ trợ cho các giả thuyết xã hội học của Bourdieu: Le Clavecin bien tempéré, Kandinsky, Douai, được một số nhỏ người trả lời chọn thuộc về cùng một họ những thị hiếu có tính ưu biệt, trong lúc Le Beau Danube Bleu, Raphaël et Guétary hợp thành một họ những thị hiếu được phổ biến rộng rãi hơn trong công chúng biết; về mặt âm nhạc, Le Clavecin bien tempéré đối với Beau Danube bleu gần giống, trong lĩnh vực hội họa Kandinsky đối với Raphaël; Le Clavecin bien tempéré Le Beau Danube bleu rất xa nhau vì chúng gắn kết với những thị hiếu loại trừ nhau, điều theo đúng hướng của phân tích các thị hiếu trong những quan hệ của thị hiếu với những phản cảm. Bourdieu cũng sử dụng trong tác phẩm La Distinction kĩ thuật có tên là những yếu tố bổ sung (hay “minh họa”) vốn nhằm phóng chiếu, trong không gian của ACM, những biến không can dự vào việc xây dựng phân tích. Kĩ thuật này cho phép ông đặt cơ sở thực nhiệm cho những điểm quan trọng của chứng minh của mình: không gian những phong cách sống (styles de vie) và không gian xã hội đều đồng điều; các “phong cách sống” là những giai cấp xã hội bị phủ nhận; những hệ thống xã hội bắt nguồn từ những điều kiện tồn tại của các nhóm và do đó từ vị thế của các nhóm trong không gian xã hội.

Phân tích những tương ứng tham gia vào một kiểu tư duy cấu trúc. Qua đó phân tích này đối lập với những kĩ thuật hồi qui vốn được phổ biến nhiều hơn trong xã hội học định lượng, những kĩ thuật hồi qui đo hiệu ứng “riêng” của một biến bằng cách vô hiệu hóa những hiệu ứng cấu trúc. Bourdieu bị ACM thu hút một phần vì ACM giúp ông thoát ra khỏi một “xã hội học các biến” có xu hướng bỏ qua tính “nhân quả cấu trúc” [Di: 113-116]. Chắc chắn ông cũng nhạy cảm với điều là, như Benzécri từng nói nhiều, ACM tiết kiệm những giả thuyết tiên nghiệm mà thế giới Anh-Mĩ sử dụng và nhân bội: những kĩ thuật này chỉ khuyến khích, để dùng lại một cụm từ của MarxBourdieu thường trích dẫn, “xem những sự vật của logic như là logic của sự vật”. Benzécri đã không thấy ở đây một kĩ thuật có khả năng làm nổi lên từ mọi tập dữ liệu những nguyên lí cấu trúc hóa tổ chức thế giới xã hội. Bourdieu trái lại nắm bắt kĩ thuật này như một công cụ kiến tạo khoa học và rất chú ý đến cách mà bảng được đưa vào phân tích nhằm trích xuất, trong mỗi trường hợp cụ thể, cấu trúc của trường được nghiên cứu. Mặt khác, nếu ông khai thác hết những sự tương đồng (affinités) của kĩ thuật với lí thuyết các trường thì ông cũng chuyên tâm vô hiệu hóa một số hiệu ứng có khả năng cản trở cho việc phân tích các không gian xã hội [Duval 2013].

Trong một thời gian dài ACM không được biết đến ở bên ngoài nước Pháp. Một bước ngoặt trong những năm 2000 đã xảy ra tại nhiều nước với những nghiên cứu lấy cảm hứng mạnh mẽ từ những cuộc điều tra và kĩ thuật thống kê được vận dụng trong hai tác phẩm La DistinctionLa Noblesse d’État [Rosenlund 2000; 2014; Pereira 2005; Prieur, Bennett et al. 2009; Hjellbrekke et Korsnes 2009; Roose, van Eijck et Lievens 2012]. Sự phổ biến này của ACM gắn liền với công sức của Henry Rouanet và Brigitte Le Roux để phát triển (và giới thiệu bên ngoài thế giới nói tiếng Pháp) một “phân tích dữ liệu bằng hình học” mà những nhà nghiên cứu khoa học xã hội có thể hưởng lợi, đặc biệt trong việc phân tích những không gian xã hội [Le Roux et Rouanet 2004; 2010].

Julien Duval

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP)

🕮 BENNETT T. et al., 2009, Culture, class distinction, Londres, Routledge. – DUVAL J., 2013, “L’analyse des correspondances et la construction des champs, ARSS, no 200, p. 110-123. – HJELLBREKKE J. et O. KORSNES, 2009, “Quantifying the field of power in Norway, in K. Robson et C. Sanders (dir.), Quantifying theory: Pierre Bourdieu, Dordrecht, Springer, p. 31-46. – LE ROUX B. et H. ROUANET, 2004, Geometric data analysis, Dordrecht, Kluwer. – LE ROUX B. et H. ROUANET, 2010, Multiple correspondence analysis, Thousand Oaks, Sage. – PEREIRA J.V.B., 2005, Classes e culturas de classe das famílias portuenses. Classes sociais e “modalidades de estilização da vida” na cidade do Porto, Porto, Afrontamento/Instituto de Sociologia da Faculdade de Letras da Universidade do Porto. – PRIEUR A., L. ROSENLUND et J. SKJOTT-LARSEN, 2008, “Cultural capital today: a case study from Denmark, Poetics, vol. 36, no 1, p. 45-71. – ROOSE H., K. VAN EIJCK et J. LIEVENS, 2012, “Culture of distinction or culture of openness? Using a social space approach to analyze the social structuring of lifestyles, Poetics, vol. 40, no 6, p. 491-513. – ROSENLUND L., 2000, “Cultural change in Norway: cultural and economic dimensions”, International Journal of Contemporary Sociology, vol. 37, no 2, p. 245-275. – ROUANET H., W. ACKERMANN et B. LE ROUX, 2000, “The geometric analysis of questionnaires. The lesson of Bourdieu’s La Distinction, Bulletin de Méthodologie Sociologique, no 65, p. 5-15.

ACTES DE LA RECHERCHE EN SCIENCES SOCIALES, BENZÉCRI, CENTRE DE SOCIOLOGIE EUROPÉENNE, CHAMP, CHAMP ACADÉMIQUE, CLASSE(S) SOCIALE(S), CONSTRUCTION DE L’OBJET, DISTINCTION (LA), ÉDITION, ENQUÊTE(S), ENTRETIEN(S), ESPACE SOCIAL, GOÛT, GRANDES ÉCOLES, HISTORIENS, HOMO ACADEMICUS, HOMOLOGIE(S), LOGEMENT, LOGIQUE(S), MÉTHODE, NOBLESSE D’ÉTAT (LA), PATRONAT, POSITION(S), PRISE(S) DE POSITION, PROSOPOGRAPHIE, QUESTIONNAIRE, RELATION(S) OBJECTIVE(S), RELATIONNELLE (APPROCHE), RÉGRESSION, SCIENCES HUMAINES ET SOCIALES, STATISTIQUES, STRUCTURE(S), STRUCTURES SOCIALES DE L’ÉCONOMIE (LES), STYLE DE VIE, SYSTÈME

Thư mục:

1979 [Di] La Distinction. Critique sociale du jugement, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une introduction, 1982.

1984 [HA] Homo academicus, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une postface, 1992.

1989 [NE] La Noblesse d’État. Grandes Écoles et esprit de corps, Paris, Minuit.

1992 [R] Réponses. Pour une anthropologie réflexive (avec L. Wacquant), Paris, Seuil.

2000 [SSÉ] Les Structures sociales de l’économie, Paris, Seuil, rééd. “Points”, 2014.

[PB 1978b] “Capital symbolique et classes sociales”, L’Arc, no 72, p. 13-19

[PB 1999a] Une révolution conservatrice dans l’édition”, ARSS, no 126-127, p. 3-28.

***

BAL DES CÉLIBATAIRES (LE). CRISE DE LA SOCIÉTÉ EN BÉARN [(Cuộc) Khiêu vũ của những người độc thân. Cuộc khủng hoảng của xã hội ở vùng Béarn]

Le Bal des célibataires là cuốn sách cuối cùng được xuất bản khi ông còn sống. Cuốn sách này là việc tái bản đơn thuần những văn bản cũ đồng thời là một tập hợp độc đáo những bài viết nhằm tạo ra những hiệu ứng trên phương diện sư phạm lẫn lí thuyết. Thật vậy, cuốn sách tập hợp ba bài viết trên cùng một chủ đề là tình trạng độc thân trong giới nông dân [PB 1962b; 1972a; 1989b] và một lời bạt ngắn lấy lại một phần của một bài viết khác đã xuất bản [PB 1977b]. Chính xác hơn – và đây là điều làm nên lợi ích đặc biệt của cuốn sách –, đó là cùng một sự khảo sát được tiến hành hai lần, mà sự phân tích được chính xác hóa và đào sâu. Hơn thế nữa, có thể nghĩ rằng sự khảo sát chưa bao giờ rời khỏi tâm trí của Bourdieu vì đây không còn là một ngôi làng nào đó mà là ngôi làng ông sinh ra ở vùng Béarn, nơi ông rất gắn bó (mỗi năm trong các tháng mùa hè ông đều cư trú ở đây), và là căn nguyên của rất nhiều suy tưởng của ông về điều gì tách biệt tầm nhìn của nhà nhân chủng học với tầm nhìn của người bản địa, tức là điều gì tách biệt tư thế lí thuyết và tư thế thực tiễn. Như ông từng nhắc nhở, nhà nhân chủng học khảo sát một xã hội xa lạ với mình, tạo ra những gia phả, liệt kê những quan hệ họ hàng mà một số chỉ tồn tại trên giấy, tóm lại là nằm ngoài trò chơi xã hội, với một thái độ khách quan luận, trong lúc người bản địa giữ một quan hệ khác với xã hội của mình: người bản địa phải giữ giá trị của bản thân trên thị trường hôn nhân, cần gả chồng cho con gái, trong số những quan hệ họ hàng có thể chỉ giữ một số quan hệ trong số đó, v.v. (điều mà Bourdieu gọi là họ hàng thực tế của người bản địa để đối lập với họ hàng lí thuyết mà nhà nhân chủng học tạo ra). Nói cách khác, trong mối quan hệ với hành động người bản địa ở tư thế chủ quan luận.

Ngay từ đầu, Bourdieu đã có chủ ý chọn tiến hành một cuộc điều tra về ngôi làng của ông song song với những cuộc khảo sát nhân khẩu học từng được ông tiến hành ở Algérie, đặc biệt là về xã hội nông nghiệp kabyle, một xã hội có nhiều điểm chung với thế giới nông dân vùng Béarn. Vấn đề là kiểm tra quan hệ điều tra bằng cách tự đặt mình vào một tình thế khảo sát đồng thời có tính chủ quan lẫn khách quan. Trong lời tựa cho tuyển tập bài viết của ông, Bourdieu nói đến “sự chuyển đổi cái nhìn mà việc chọn tư thế người quan sát kéo theo”, một tư thế có thể thấy qua việc sử dụng đậm nét của điện ảnh, bản đồ và thống kê. Tóm tắt một cách nổi bật, Bourdieu viết là ông “cung cấp cho bạn đọc sơ đồ không tên của một căn nhà quen thuộc, nơi tôi từng chơi suốt tuổi trẻ của mình”, một câu như tiếng vang vọng của bài ông viết năm 1962-1963 về căn nhà kabyle (Esquisse d’une théorie de la pratique). Đủ để nói rằng cuộc khảo sát này hoàn toàn không phải là một chuyên khảo theo tình thế, bị bỏ rơi ngay khi hoàn thành. Khảo sát này sẽ giữ một vị trí thiết yếu trong việc xây dựng lí thuyết xã hội học của ông.

Điểm xuất phát nghiên cứu của ông là một cảm giác chủ quan được sự quan sát nhân chủng học một cuộc nhảy đầm trong ngôi làng ông song lại được một điều tra thống kê sâu rộng xác thực. Cảm giác là trong ngôi làng dường như ngày càng có nhiều nông dân độc thân. Quan sát nhân chủng học là về một buổi nhảy khi Bourdieu nhận thấy có một số nông dân bên ngoài sàn nhảy trong tư thế khán giả “không lấy vợ được”, điều mà sau đó có người cung cấp thông tin xác nhận với ông. Thống kê là do Bourdieu xây dựng từ hồ sơ hộ tịch của làng ông cho thấy rằng tỉ suất nông dân độc thân vẫn ổn định nhưng các người độc thân không giống như xưa nữa. Nghịch lí này được giải thích như sau. Cảm nhận chung ngày càng có nhiều nông dân độc thân là do ngày nay những ai còn độc thân phục vụ trong các trang trại và hi sinh vì dòng họ không phải là những người con thứ hay con út nữa mà là những người con trưởng được thừa hưởng cơ ngơi.

Ba bài viết Bourdieu dành cho nghiên cứu này là bấy nhiêu cột mốc trong sự tiến triển của lí thuyết xã hội hoc của ông mà, mặt khác, được ông xây dựng từ cuộc điều tra này sang cuộc điều tra khác trong nhiều lĩnh vực khác nhau (giáo dục, các thực tiễn văn hóa, lao động, v.v.). Như ông viết trong phần dẫn nhập, ông “ba lần quay lại cùng một vấn đề, nhưng mỗi lần lại là với một thiết bị lí thuyết mạnh hơn vì có tính tổng quát hơn, nhưng gần hơn với kinh nghiệm”. Ta có thể bổ sung là là ông tiến hành phân tích từ cái hữu hình nhất đến cái ẩn khuất nhất. Trong bài viết đầu, ông phân tích rất dài những nhân tố góp phần dịch chuyển thị trường hôn nhân của các nông dân từ các nhóm gia đình đến các sàn nhảy: gia đình không còn gả con, chọn người hôn phối phù hợp nhất với các lợi ích vật chất và biểu tượng cho con nữa mà chính người nông dân trẻ phải tìm ra, tán tỉnh, chinh phục người vợ tương lai, các sàn nhảy trở thành những địa điểm gặp gỡ quan trọng nhất của hai giới. Trong trường hợp này, Bourdieu có trong hộp công cụ của mình khái niệm tập tính được ông viện dẫn để bàn về hiện tượng độc thân khi quan sát là nông dân không lập gia đình được bằng một khẩu hiệu súc tích “là do họ không biết khiêu vũ”. Trong bài viết thứ hai công bố mười năm sau, ông xem xét lại cảnh khiêu vũ từ ý niệm vốn, và trình bày ý niệm này từ những dữ liệu không thể trực tiếp thấy được tại buổi khiêu vũ nhưng nắm bắt được thông qua những chuyên khảo về các gia đình, nghĩa là những chiến lược chuyển giao vốn trong môi trường nông dân và, trong trường hợp này, trong cuộc khủng hoảng của nhóm gia đình nông dân. Trong bài viết cuối, vừa dựa vào các phân tích trước đó Bourdieu có một cách đọc mới từ khái niệm trường, một khái niệm đã trở thành khái niệm có tính thống nhất của lí thuyết của ông, khái niệm này cung cấp cho các khái niệm tập tính và vốn tất cả ý nghĩa và sức mạnh của chúng. Do đó, cảnh khiêu vũ mang một chiều kích khác: nếu nhiều nông dân không lập gia đình được, đó là do một hiện tượng trừu tượng hơn nữa, không thể nhận thấy được trên một sàn nhảy hay ngay cả trong các chiến lược hôn nhân của nhóm gia đình, đó chính là sự hợp nhất của các thị trường biểu tượng khiến cho các nông dân ( bị quy về bản chất quê mùa của mình (empaysannés) cạnh tranh với toàn xã hội.

Văn bản cuối cùng dưới dạng lời bạt có tựa “một giai cấp đối tượng” cung cấp chìa khóa cho phép hiểu toàn bộ quá trình được ghi khắc một cách hữu hình và vô hình trong cảnh khiêu vũ mở đầu cho tuyển tập bài viết này: thế giới nông dân là một nhóm xã hội bị thống trị, không làm chủ sự biểu trưng của bản thân; đó là một “nhóm vì các nhóm khác”, với tất cả những mâu thuẫn mà điều này sinh ra với hiện tượng độc thân là một trong những hệ quả.

Trên quan điểm sư phạm, có thể nói về cuộc khảo sát bất tận này như chính Bourdieu đã viết: “Bản chất của hành trình mà ba bài viết được tập hợp ở đây đánh dấu các giai đoạn cung cấp được một ý tưởng khá tốt về logic đặc biệt của nghiên cứu trong các khoa học xã hội” [BC: 13]. Không thể nói hay hơn về lợi ích của cuốn sách nhỏ này.

Patrick Champagne

Nhà nghiên cứu INRA (CESSP)

ALGÉRIE, ANTHROPOLOGIE, CAPITAL, CHAMP, CRISE, ÉDUCATION, ENQUÊTE(S), FAMILLE, GROUPE(S), HABITUS, KABYLIE, MARCHÉ MATRIMONIAL, MONOGRAPHIE, OBJECTIVISME, OBSERVATION(S), PAYSANNERIE, PHOTOGRAPHIE, PRATIQUE, SOCIÉTÉ(S), STATISTIQUES, STRATÉGIE(S), SUBJECTIVISME, TRAVAIL

Thư mục:

1972 [ETP] Esquisse d’une théorie de la pratique. Précédée de trois études d’ethnologie kabyle, Genève, Droz, rééd. Paris, Seuil, Paris, 2000.

2002 [BC: 13] Le Bal des célibataires. Crise de la société paysanne en Béarn, Paris, Seuil, rééd. “Points”, 1998.

[PB 1962b] “Célibat et condition paysanne, Études rurales, no 5-6, p. 32-136.

[PB 1972a] “La maison kabyle ou le monde renversé”, in J. POUILLON et P. MARANDA (éd.), Échanges et communications. Mélanges offerts à Claude Lévi-Strauss à l’occasion de son 60e anniversaire, Paris/La Haye, Mouton, p. 739-758.

[PB 1977b] “Une classe objet, ARSS, no 17-18, p. 1-5.

[PB 1989b] “Mouloud Mammeri ou la colline retrouvée”, Le Monde, 3 mars.

***

BENZÉCRI, JEAN-PAUL (1932-2019)

Sinh năm 1932 tại Algérie, nhà thống kê học Jean-Paul Benzécri là người đứng đầu “Trường phái Pháp về phân tích dữ liệu”, một trường phái đã phát triển phân tích các tương ứng mà Pierre Bourdieu từng sử dụng nhiều.

Benzécri phê phán rất mạnh thống kê mô hình hóa và xác suất hóa vốn thống trị lúc bấy giờ, đặc biệt tại Hoa Kì. Kể từ đầu những năm 1960, ông phát triển những công cụ toán học và tin học cho phép có những cách sử dụng mới phân tích nhân tố và mở rộng phân tích này cho những dữ liệu được phân loại. Những nghiên cứu của ê-kíp ông, tại Đại học khoa học Paris, nối khớp với các hoạt động giảng dạy đào tạo những nhà thống kê trong những năm 1970 để phổ biến “phân tích dữ liệu” trong những tổ chức vô cùng đa dạng. Năm 1973, các công trình của họ được xuất bản thành hai tập có tựa là L’Analyse des données [Armatte 2008].

Bourdieu bắt đầu khai thác phân tích nhân tố vào giữa những năm 1970. Salah Bouhedja, đến với Centre de sociologie européenne vào năm 1964, phụ trách các thao tác kĩ thuật thời đó rất nặng nề. Họ hợp tác với các nhà thống kê thường là những môn đồ của Benzécri: Ludovic Lebart, Nicole Tabard, và sau này là Henry Rouanet et Brigitte Le Roux.

Có những trao đổi trực tiếp giữa Bourdieu và Benzécri, hai người quen nhau từ thời trúng tuyển cách nhau một năm vào École normale supérieure [Benzécri 2006]. Ít nhất đã có những thư từ qua lại và vài cuộc gặp gỡ, đặc biệt vào tháng mười một năm 1978 nhân một ngày nghiên cứu ở đại học Sorbonne. Nếu mỗi người, trong lĩnh vực của mình, là những nhà đổi mới sáng tạo và phê phán ảnh hưởng của Hoa Kì [Desrosières 2008] hẳn là có những khác biệt giữa họ với nhau. Bourdieu không thể chia sẻ tất cả các quan điểm của Benzécri, đôi lúc thấm đậm hệ thống thần học và triết học của Thomas d’Aquin [Van Meter et al. 1994] hay của thuyết thực thể mà Bourdieu không tin tưởng. Trên phương diện này, một văn bản khá muộn của Benzécri [1978] về Ernst Cassirer chắc chắn không xa lạ với ảnh hưởng, gián tiếp hay trực tiếp, của Bourdieu.

Julien Duval

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP)

🕮 ARMATTE M., 2008, “Histoire et préhistoire de l’analyse des données par J.-P. Benzecri: un cas de généalogie rétrospective”, Electronic Journ@l for History of Probability and Statistics, vol. 4, no 2, en ligne: http://www.jehps.net/Decembre2008/Armatte.pdf. – BENZECRI J.-P., 1978, “Substance et fonction, éléments pour une théorie du concept, Les Cahiers de l’analyse des données, vol. 3, no 2, p. 239-242. – BENZECRI, J.-P. et al., 1973, L’Analyse des données, t. 1 “Taxinomie”; t. 2 “L’analyse des correspondances”, Paris, Bordas. – DESROSIÈRES A., 2008, “Analyse des données et sciences humaines: comment cartographier le monde social?”, Electronic Journ@l for History of Probability and Statistics, vol. 4, no 2, en ligne: http://www.jehps.net/Decembre2008/Desrosieres.pdf. – VAN METER K., M.-A. SCHILTZ, P. CIBOIS et L. MOUNIER, 1994, “History and French sociological perspective”, in M. GREENACRE et J. BLASIUS (dir.), Correspondence analysis in the social sciences, Londres, Academic Press, p. 128-137.

ANALYSE DES CORRESPONDANCES/ANALYSE DES CORRESPONDANCES MULTIPLES, CASSIRER, CENTRE DE SOCIOLOGIE EUROPÉENNE, ÉCOLE NORMALE SUPÉRIEURE, ENSEIGNEMENT, STATISTIQUES

Thư mục:

BENZECRI J.-P., 2006, “In memoriam: Pierre Bourdieu”, Modulad, no 35, p. 1-5.

***

DARBEL, ALAIN (1932-1975)

Chuyên gia của Institut National de la Statistique (INSEE) [Viện quốc gia thống kê và nghiên cứu kinh tế (INSEE)], Alain Darbel làm việc với Pierre Bourdieu tại Algérie rồi, trong nửa đầu của những năm 1960, tại Centre de sociologie européenne (CSE) [Trung tâm xã hội học châu Âu]. Sự cộng tác này kéo theo những trao đổi sau này sẽ được ba chuyên gia của INSEE là Alain Desrosières, Laurent Thévenot et Michel Gollac tiếp nối, dưới những hình thức khác, Nhìn chung, Alain Darbel đã có vai trò quan trọng trong việc kết nối giới xã hội học và giới chuyên gia thống kê ở Pháp.

Ông gặp Bourdieu ở Sở thống kê Algérie, nơi ông được bổ nhiệm vào đầu năm 1960. Cùng với Claude Seibel và Jean-Paul Rivet, ông thực hiện phần thống kê của các cuộc điều tra Emploi et Logement (Việc làm và Nhà ở) được tiến hành trong khuôn khổ của Association de recherche sur le développement économique et social (ARDES) mà ông là tổng thư kí, trong lúc Boudieu phụ trách phần dân tộc học. Ông cũng tham gia cuộc điều tra về “các trại tập trung” [Le Déracinement]. Trở về Pháp năm 1962, ông được biệt phái sang Vụ ngân sách của Bộ tài chính, nơi ông có thể làm việc song song với CSE. Ông tham gia với tư cách nhà thống kê vào các tác phẩm Héritiers, Un art moyen L’Amour de l’art. Trong cuốn sách cuối này mà ông là đồng tác giả, mô hình toán học về sự tham quan các viện bảo tàng là hình thức tinh tế nhất của những nỗ lực tích hợp xã hội học và thống kê. Năm 1965, cùng với Bourdieu ông tổ chức hội thảo qui tụ các nhà kinh tế, xã hôi học và thống kê của INSEE trên chủ đề xã hội Pháp thời hậu chiến [Le Partage des bénéfices]. Trong quyển sách bắt nguồn từ hội thảo này, ông là đồng tác giả với Bourdieu một chương về những chiến lược sinh con. Sau này, cùng với Dominique Schnapper ông thực hiện một cuộc điều tra về hệ thống hành chính và các những công chức cao cấp [Darbel et Schnapper 1969; 1972]. Năm 1969 ông được biệt phái về Vụ thống kê của Bộ giáo dục, nơi ông thiết lập những chỉ báo mới, rồi năm 1972 quay trở lại Vụ lãnh đạo của INSEE. Thời kì này, ông tham gia khởi công Données sociales, một toàn cảnh dữ liệu xuất bản ba năm một lần về xã hội Pháp mà tinh thần không xa lạ với cuộc hội thảo năm 1965, và Bourdieu trong những bài giảng của mình sẽ khuyến cáo việc sử dụng. Qua đời sớm vào năm 1975, Alain Darbel cũng có nhiều bài viết xã hội học về giáo dục và tính cơ động xã hội.

Julien Duval

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP)

🕮 DARBEL A. et D. SCHNAPPER, 1969, Morphologie de la haute administration, t. 1, Paris, La Haye, Mouton, “Cahiers du Centre de sociologie européenne”. – DARBEL A. et D. SCHNAPPER, 1972, Morphologie de la haute administration, t. 2, Paris, La Haye, Mouton, “Cahiers du Centre de sociologie européenne”. – SEIBEL C. et F. ŒUVRARD, 2005, “Le développement des études sociales dans le système statistique public”, in J.-M. CHAPOULIE, O. KOURCHID et A.-M. SOHN (dir.), Sociologues et sociologies. La France des années 60, Paris, L’Harmattan, p. 87-98.

ALGÉRIE, AMOUR DE L’ART (L), CENTRE DE SOCIOLOGIE EUROPÉENNE, DÉRACINEMENT (LE), HÉRITIERS (LES), INSTITUT NATIONAL DE LA STATISTIQUE ET DES ÉTUDES ÉCONOMIQUES, STATISTIQUES, STRATÉGIE(S), UN ART MOYEN

Thư mục:

1965 [AM] Un art moyen. Essai sur les usages sociaux de la photographie (avec L. Boltanski, R. Castel et J.-C. Chamboredon), Paris, Minuit.

1966 [LPB] Le partage des bénéfices (avec A. Darbel), Paris, Minuit.

1969 [AA] L’Amour de l’art. Les musées d’art européens et leur public (avec A. Darbel), Paris, Minuit.

***

ENTRETIEN(S) [(Các) Phỏng vấn]

Việc công bố năm 1993 cuốn La Misère du monde, một tác phẩm bao gồm chủ yếu những cuộc phỏng vấn, trên nguyên tắc có một ý nghĩa trái chiều về thế nào là xã hội học của Bourdieu. Việc phân loại là một xu hướng rất Pháp mà Bourdieu không ngừng cảnh báo, thường các khái niệm có kèm từ “chủ nghĩa” (mác xít, thực chứng, tổng thể, v..) không hoạt động như những khái niệm mà như những lời chửi rủa (“mày chỉ là một tay …”) hay, trái lại, như những biểu tượng nhằm đánh dấu những sự gia nhập và thể hiện việc thuộc về một nhóm. Được các đối thủ của nó đặt tên là “xã hội học phê phán”, xã hội học của Bourdieu có vẻ dựa trên ý tưởng là chỉ duy nhất xã hội học mới nắm giữ sự thật về thế giới xã hội trong khi phải công nhận là các tác nhân xã hội bình thường có một thẩm quyền nhất định và phải tính đến diễn ngôn của họ về thế giới này. Xã hội học của Bourdieu có vẻ có tính “tất định luận”, “khách quan luận”, “cấu trúc luận”. Ít chú ý đến những chủ thể xã hội, Bourdieu có vẻ quan tâm nhất đến những quá trình khách quan (sự tái sản sinh, tính ưu biệt) ràng buộc các cá nhân, vốn gần như đơn giản chỉ là những người thừa hành của những cơ chế khách quan, trái ngược với, ví dụ, quan niệm của Alain Touraine mà “xã hội học về hành động và về những phong trào xã hội” dành một chỗ lớn cho chủ thể, cho năng lực của những cá nhân khác thường làm thay đổi xã hội và ghi tên mình vào lịch sử. Do tác phẩm La Misère du monde dành một chỗ thiết yếu cho các cuộc phỏng vấn nên tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt của Bourdieu. Ông có vẻ đã chuyển từ chủ nghĩa khách quan và (cuối cùng) lắng nghe những chủ thể xã hội mà ông công nhận là họ có một sự sáng suốt nhất định về mặt xã hội.

Cách kiến giải này vừa sai về mặt thuần túy sự kiện lẫn phi lí về mặt lí thuyết. Tuy dành một chỗ quan trọng cho các cuộc phỏng vấn thì đó là theo một logic phổ biến những kết quả của xã hội học và hoàn toàn không liên quan gì đến một bước ngoặt của Bourdieu. La Misère du monde không đánh dấu một sự cải đạo từ chủ nghĩa khách quan thống kê sang chủ nghĩa chủ quan và cái định tính. Thật vậy, ngay từ công trình Travail et travailleurs en Algérie (1960) và những cuộc điều tra về tình trạng độc thân của nông dân ở vùng Béarn [PB 1962b; 1962c], rồi trong cuốn La Distinction (1979), Bourdieu đã kết hợp sử dụng những phương pháp định lượng và định tính, và đặc biệt là những cuộc trao đổi qua phỏng vấn. Ông đã thường xuyên tìm cách thoát ra khỏi những giới hạn của phương pháp điều tra bằng các bản câu hỏi nhưng không vì thế mà để rơi vào phương pháp phỏng vấn không định hướng hay trong một thông diễn học đặt cơ sở trên việc quay lại với sự trải nghiệm hay với sự chủ quan. Và cũng như ông đã công bố thành phụ lục những bảng thống kê rút ra từ các cuộc điều tra trong các cuốn sách và bài viết của ông, ông cũng công bố rộng rãi các cuộc phỏng vấn do ông thực hiện.

Mặt khác, đồng nhất phỏng vấn trong xã hội học với một cách tiếp cận chủ quan và định tính trong lúc thống kê là phương pháp tiêu biểu của tư duy khách quan là một lối đi tắt học thuật đặc biệt sơ lược và sơ đẳng. Ngay từ năm 1965, trong dẫn nhập vào cuốn Un art moyen, Bourdieu giải thích là không thể đối lập cái khách quan và cái chủ quan trong mức độ là “mô tả tính chủ quan được khách quan hóa quy lại là mô tả sự nhập tấm hóa của tính khách quan”. Và ông nói rõ là các khoa học xã hội không thể chỉ dựa vào một mô tả những quan hệ khách quan vì sự trải nghiệm những ý nghĩa là một nhân tố của ý nghĩa toàn thể của sự trải nghiệm. Nói cách khác, có tính khách quan trong tính chủ quan, điều mà ở cấp độ các phương pháp, có nghĩa là trải nghiệm mà cuộc phỏng vấn thu thập không giải thích gì cả nhưng đòi hỏi phải được giải thích bằng việc xác lập quan hệ với “những tác động do các điều kiện khách quan áp đặt lên sự trải nghiệm”.

Do đó tuy phỏng vấn là một trong những công cụ không thể thiếu của nhà xã hội học, cần thấy rằng cuộc khảo sát được đăng dưới tựa đề La Misère du monde là dịp để suy tưởng về công cụ thường được sử dụng này mà Bourdieu đã tổng hợp trong chương cuối có tựa là “Comprendre/Hiểu”. Ông nhắc lại quan hệ phỏng vấn là một quan hệ xã hội quan trọng cần phân tích để giới hạn trong mức độ có thể những chênh lệch mà nó tạo ra, và cần tư duy một cách chiến lược: làm thế nào trình bày cuộc khảo sát? Ai sẽ tiến hành phỏng vấn khi tính đến chủ đề của cuộc khảo sát và những đặc điểm xã hội của những người được điều tra? Cần đặt những câu hỏi nào? Đặc biệt cần phải tự hỏi, trong mỗi trường hợp, điều gì cuộc điều tra có thể và không thể với tới do có những điều không thể đạt được với một số kĩ thuật nhất định do các quan hệ là giả tạo đến độ đối tượng của chính sự truyền thông có nguy cơ bị đè bẹp trong việc sản sinh ra những điều thuần túy giả tạo. Cũng cần tự hỏi về kiểu phỏng vấn mà ta thực hiện vì từ phỏng vấn chỉ những tình thế và chờ đợi khác nhau tùy theo tiến triển của cuộc điều tra. Đặc biệt, điều quan trọng là phân biệt những phỏng vấn vào đầu cuộc điều tra mà, với sự trợ giúp của những người được điều tra được chọn là những người cung cấp thông tin,mục đích cập nhật nhanh chóng tình hình cho nhà xã hội học, những cuộc phỏng vấn được tiến hành trong lúc diễn ra cuộc điều tra để tìm cách thu thập dữ liệu và diễn ngôn của những người bản địa và những cuộc phỏng vấn vào cuối cuộc điều tra cho phép nhà xã hội học hợp thức hóa các phân tích của mình. Sự suy tưởng cũng nhắm vào những vấn đề mà việc ghi lại các cuộc trao đổi và việc công bố chúng. Những giải pháp được chọn cho cuốn La Misère du monde (đặt tựa các khái niệm của phỏng vấn, viết đoạn giới thiệu để phân tích trong những điều kiện nào phỏng vấn đã được thực hiện, tập hợp những thông tin xác đáng liên quan đến người được điều tra và đề xuất một cách đọc xã hội học các thông tin này, đặt các tiểu tựa bài phỏng vấn sao cho dễ đọc, v.v.) đã được phổ biến rộng rãi: chúng tạo cảm hứng cho nhiều ấn bản và thường được dùng làm mô hình học tập trong các khóa đào tạo về xã hội học

Patrick Champagne

Nhà nghiên cứu INRA (CESSP)

BAL DES CÉLIBATAIRES (LE), CRITIQUE, DÉTERMINISME, DISTINCTION (LA), ENQUÊTE(S), INTÉRIORISATION, MÉTHODE, MISÈRE DU MONDE (LA), OBJECTIVATION, OBJECTIVISME, QUESTIONNAIRE, RÉFLEXIVITÉ, RELATION(S) OBJECTIVE(S), SOCIOLOGIE, STATISTIQUES, STRUCTURALISME, SUBJECTIVISME, SUJET, TRAVAIL ET TRAVAILLEURS EN ALGÉRIE, UN ART MOYEN, VÉRITÉ

Thư mục:

1960 [TTA] Travail et travailleurs en Algérie, (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.

1965 [AM] Un art moyen. Essai sur les usages sociaux de la photographie (avec L. Boltanski, R. Castel et J.-C. Chamboredon), Paris, Minuit.

1979 [Di] La Distinction. Critique sociale du jugement, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une introduction, 1982.

1993 [MM] La Misère du monde (et al.), Paris, Seuil, rééd. “Points”, 1998.

[PB 1962b] “Célibat et condition paysanne, Études rurales, no 5-6, p. 32-136.

[PB 1962c] “Les relations entre les sexes dans la société paysanne”, Les Temps Modernes, no 195, p. 307-331.

***

ENQUÊTE(S) [(Các cuộc) Điều tra]

Nếu Pierre Bourdieu thường được xem như một lí thuyết gia vĩ đại, người sáng tạo những khái niệm và lí thuyết từng trở thành đối tượng của nhiều kiến giải và tranh luận thì thực tiễn nghiên cứu và cách điều tra của ông ít được chú ý hơn [Saint-Martin 2005; Heilbron 2018]. Theo một nghịch lí tai ác và nhưng cũng dễ dự đoán, bản thân lí thuyết gia và nhà phân tích các lệch lạc kinh viện đã trở thành đối tượng của mọi thao tác kinh viện mà ông đã kiên nhẫn mổ xẻ trong các sách của mình [Le Sens pratique, Homo academicus, Méditations pascaliennes].

Trái ngược với những phân loại có tính sách vở và thói quen trí thức phổ biến, Bourdieu nhấn mạnh là công việc cúa ông đồng thời có tính lí thuyết lẫn thực nghiệm. Bác bỏ cặp thuật ngữ đối lập nhưng đồng lõa với nhau là “lí thuyết rỗng” và “nghiên cứu mù quáng”, ông đã giảng dạy là “chỉ có những ý tưởng lí thuyết tốt khi tiến hành những cuộc điều tra” [PB 2013a: 15]. Từ các công trình đầu tiên về Algérie và vùng Béarn cho đến chuyên khảo lớn cuối cùng được xuất bản khi ông còn sống là Les Structures sociales de l’économie (2000), các tác phẩm chính của ông đều dựa trên những công trình thực nghiệm có quy mô lớn. “Sợi chỉ dẫn dắt xuyên suốt các cuộc điều tra của tôi là logic nghiên cứu, một logic không thể tách biệt lí thuyết và thực nghiệm. Trong thực tiễn của bản thân, tôi tìm ra những ý tưởng lí thuyết được tôi coi là phong phú nhất khi tiến hành một cuộc phỏng vấn hay khi mã hóa một bản câu hỏi” [Invitation à la sociologie réflexive: 213].

Bourdieu nói đến “sự đầu tư toàn diện, hơi điên khùng, vào nghiên cứu” của ông [Esquisse pour une auto-analyse: 91] và xem điều tra trên thực địa như là cái lõi của nghề xã hội học. Nghệ thuật nghiên cứu, được ông hiểu như một nghệ thuật tìm tòi sự thật (ars inveniendi) [Le Métier de sociologue: 74]), chủ yếu là năng lực tập trung vào những vấn đề trí tuệ lớn trong các thao tác nghiên cứu thực nghiệm chính xác. Đoạn tuyệt với “tham vọng tổng thể”, được đồng nhất với triết học, dẫn ông tới việc “giải thể” các câu hỏi lớn bằng cách đặt chúng đối với “những đối tượng thứ yếu, thậm chí vô nghĩa, và trong mọi trường hợp được khoanh vùng rõ, do đó có khả năng nắm bắt được bằng thực nghiệm, như các thực tiễn nhiếp ảnh” [Choses dites: 30].

Một phong cách nghiên cứu độc đáo

Bourdieu sáng tạo một phong cách nghiên cứu độc đáo khi tiến hành những cuộc điều tra đầu tiên của ông về Algérie và ngôi làng thời tuổi trẻ của ông. Trong những năm 1960, ông phát triển và tổ chức phong cách này thông qua một số lớn điều tra về nhiều lĩnh vực (giáo dục, văn hóa, các thực tiễn kinh tế) và thiết kế những nguyên tắc khoa học luận với sự cộng tác của Jean-Claude Chamboredon và Jean-Claude Passeron, trong cuốn Le Métier de sociologue (1968).

Trước tiên Bourdieu thực hành nghiên cứu như một công việc tập thể huy động những nhà nghiên cứu có những năng lực trí tuệ và kinh nghiệm xã hội đa dạng, họ có thể là sinh viên của ông (nhiều người trong số đó trở thành những cộng tác viên và đồng tác giả) hay đồng nghiệp gần như Passeron hay nhiều nhà thống kê của INSEE. Các công trình nghiên cứu mà Bourdieu phụ trách tại Centre de sociologie européenne kết hợp một cách uyển chuyển những phương pháp khác nhau, đặc biệt là các phương pháp thống kê và nhân chủng học. Các phương pháp thống kê cho phép nghiên cứu các tần suất, phân phối và tương quan; các phương pháp nhân chủng học cho phép phân tích ý nghĩa mà các tác nhân xã hội gán cho các thực tiễn của họ. Một trong những vấn đề lớn trong những nghiên cứu đầu tiên là sự nối khớp giữa sự nhận thức các cấu trúc khách quan, được các tần suất thống kê hay các cấu trúc biểu tượng làm rõ với sự nhận thức xuất phát từ trải nghiệm sống. Làm thế nào hòa giải các nhận thức khách quan được tiến trình khách thể hóa khoa học tạo ra với những cảm nhận và đánh giá chủ quan của các tác nhân? Những công cụ tri thức được sử dụng trong nghiên cứu thuộc về những truyền thống trí tuệ khác nhau mà vào thời bấy giờ còn được rộng rãi xem là không tương thích với nhau.

Tác phẩm về những cách sử dụng xã hội của nhiếp ảnh, Un art moyen (1965), là một ví dụ tốt về phong cách nghiên cứu do nhóm Bourdieu phát triển. Cuộc điều tra đặt cơ sở trên khoảng hai mươi thao tác nghiên cứu. Nó huy động gần bấy nhiêu cộng tác viên và điều chỉnh, ví dụ, một vài ý tưởng mác xít về các giai cấp xã hội bằng việc chuyển dịch sang lĩnh vực văn hóa những ý tưởng của Weber về tính chính đáng. Như vậy điều tra xã hội học, được quan niệm một chách chặt chẽ cho phép vượt qua những đối lập sơ đẳng và đặt ra những vấn đề ở cấp độ “nhân học”. Lâu trước khi cuốn La Distinction (1979) được công bố, điều tra xã hội học phải dẫn đến một “xã hội học thị hiếu”; xã hội học này nhường lại cho triết học “sự đối lập tưởng tượng” giữa chủ thể luận của triết học về chủ thể và khách quan luận được các lập luận cấu trúc vận dụng mới đây [AM: 18-23].

Những vân đề lí thuyết và phương pháp luận của cuộc điều tra về nhiếp ảnh bắt rễ sâu trong quan hệ của Bourdieu với đối tượng điều tra của ông. Bản thân từng chụp ảnh ở Algérie và ở vùng Béarn, ông nhắc là thực tiễn nhiếp ảnh của ông thể hiện khoảng cách của nhà quan sát ghi nhận mọi thứ vừa giả định rằng “sự gần gũi với điều quen thuộc, sự chú ý và nhạy cảm với những chi tiết không thể cảm thấy mà sự quen thuộc cho phép có được và ép phải nắm bắt […] cái cực nhỏ của thực tiễn mà thường nhà nhân chủng học chăm chú nhất bỏ qua” [Esquisses algériennes: 374]. Và ông nói rõ là thực tiễn này gắn với mối quan hệ mà ông “không ngừng duy trì với đối tượng điều tra của mình: […] tôi chưa bao giờ quên rằng tôi sẵn lòng nhìn những con người này, nếu không ngại nói một cách lố bịch, với con mặt thân thiện và thường là trìu mến. Chính vì thế tôi chưa bao giờ ngừng hướng dẫn các cuộc phỏng vấn và quan sát (tôi luôn bắt đầu như thế với mỗi công trình nghiên cứu, bất luận là về chủ đề nào), đoạn tuyệt với các lề thói của nhà xã hội học quan liêu (mà đối với tôi hiện thân là Lazarsfeld và Văn phòng Columbia, đã thiết lập chế độ Taylor trong nghiên cứu) vốn tiếp cận các người được điều tra qua trung gian và, khác với nhà nhân chủng học rụt rè nhất, không có cơ hội nhìn thấy họ lẫn môi trường trực tiếp của họ” [EA: 374].

Thực tiễn phản tư

Thực hành nghiên cứu như một công tác tập thể được định hướng bởi sự cần thiết phối hợp những phương pháp và nguổn lực lí thuyết khác nhau, Bourdieu nói về vai trò của ông như là vai trò của một “nhạc trưởng”, một “đạo diễn” hay bằng ngôn ngữ thể thao mà ông thích, vai trò của một “huân luyện viên” [PB 2002c: 207, 210].

Trong các cuộc điều tra của mình, Bourdieu đã quen đối mặt với những vấn đề nổi lên không phải như những vấn đề kĩ thuật hay phương pháp luận, cũng không phải như những vấn đề đạo đức hay chính trị, nhưng trước tiên và hơn hết đó là những vấn đề có tính phản tư. Tư thế này, lúc đầu được gọi là “cảnh giác khoa học luận” [MS: 14-15, 24-27, 95-106], bắt đầu từ những cuộc điều tra ở Algérie [Travail et travailleurs en Algérie: 257-267] và từ những khó khăn đặc biệt của bối cảnh chiến tranh Algérie. Sự cảnh giác này dẫn đến việc khách quan hóa quá trình nghiên cứu và tư thế của nhà nghiên cứu, tức là sử dụng những công cụ của khoa học xã hội để hiểu tốt hơn logic, những trở ngại và khả thể của nghiên cứu, cũng như những thiên hướng được nhà nghiên cứu triển khai trong công việc của mình mà không hề biết.

Trong những năm 1970, nhiều thay đổi đã diễn ra trong thực tiễn điều tra của Bourdieu và nhóm của ông. Kể từ tác phẩm Esquisse d’une théorie de la pratique, và liên quan đến những thay đổi định chế (Bourdieu trở thành giám đốc nhóm nghiên cứu của mình năm 1969 và khởi xướng tạp chí Actes de la recherche en sciences sociales năm 1975, ngay chính vào lúc mà các tài trợ cho nghiên cứu bị giảm thiểu), ông tập trung nhiều hơn vào việc xác lập tiến trình tư duy của bản thân. Bourdieu phát triển lí thuyết thực tiễn của ông và xã hội học về các trường mà phân tích các tương ứng trở thành công cụ thống kê tiêu biểu. Ông khởi động vài cuộc điều tra mới và dùng lại dữ liệu của những công trình cũ hơn theo quan điểm lí thuyết của mình. Không từ bỏ những tra vấn khoa học luận, trung tâm của sự quan tâm của ông đối với khoa học và nghiên cứu dịch chuyển sang xã hội học về các khoa học như là công cụ được ưu tiên của tính phản tư khoa học. Khách quan hóa chủ thể của sự khách thể hóa và tạo ra một cơ chế điều tra phản tư trở thành những mối bận tâm hàng đầu. Có thể thấy điều này trong thực tiễn nghiên cứu [ví dụ xem cuốn La Misère du monde: 7-11, 903-939], trong giảng dạy của ông về nghiên cứu [ISR: 275-319], cũng như trong những thiết kế lí thuyết mới, đặc biệt trong các tác phẩm Homo academicus, Méditations pascaliennes et Science de la science et réflexivité.

Johan Heilbron

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP), giáo sư thỉnh giảng Đại học Uppsala

🕮 SAINT-MARTIN M. (de), 2005, “Le sens du terrain et la pratique de la recherche, in G. MAUGER (dir.), Rencontres avec Pierre Bourdieu, Broissieux, Le Croquant, p. 69-80.

ACTES DE LA RECHERCHE EN SCIENCES SOCIALES, AGENT(S), ALGÉRIE, ANALYSE DES CORRESPONDANCES, BÉARN, CENTRE DE SOCIOLOGIE EUROPÉENNE, CHAMBOREDON, CHAMP, CLASSE(S) SOCIALE(S), CULTURE, DISTINCTION (LA), ENTRETIEN(S), ÉPISTÉMOLOGIE, ESQUISSE D’UNE THÉORIE DE LA PRATIQUE, GOÛT, HOMO ACADEMICUS, ILLUSION SCOLASTIQUE, INSTITUT NATIONAL DE LA STATISTIQUE ET DES ÉTUDES ÉCONOMIQUES, INVITATION À LA SOCIOLOGIE RÉFLEXIVE, LAZARSFELD, LÉGITIMATION, MARXISME, MÉDITATIONS PASCALIENNES, MÉTHODE, MÉTHODOLOGIE, MÉTIER DE SOCIOLOGUE (LE), MONOGRAPHIE, OBJECTIVATION, OBJECTIVISME, OBSERVATION(S), PASSERON, PERCEPTION, PHILOSOPHIE, PHOTOGRAPHIE, PRATIQUE, QUESTIONNAIRE, RÉFLEXIVITÉ, SCIENCE, SCIENCE DE LA SCIENCE ET RÉFLEXIVITÉ, SCIENCES HUMAINES ET SOCIALES, SENS PRATIQUE (LE), STATISTIQUES, STRUCTURALISME, STRUCTURE(S), STRUCTURES SOCIALES DE L’ÉCONOMIE (LES), SUBJECTIVISME, SUJET, UN ART MOYEN, WEBER

Thư mục:

1960 [TTA] Travail et travailleurs en Algérie, (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.

1965 [AM] Un art moyen. Essai sur les usages sociaux de la photographie (avec L. Boltanski, R. Castel et J.-C. Chamboredon), Paris, Minuit.

1968 [MS] Le Métier de sociologue. Préalables épistémologiques (avec J.-C. Chamboredon et J.-C. Passeron), Paris, La Haye, Mouton, éd. corrigée, 1973.

1972 [ETP] Esquisse d’une théorie de la pratique. Précédée de trois études d’ethnologie kabyle, Genève, Droz, rééd. Paris, Seuil, “Points”, 2000.

1979 [Di] La Distinction. Critique sociale du jugement, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une introduction, 1982.

1980 [SP] Le Sens pratique, Paris, Minuit, rééd. 1989.

1984 [HA] Homo academicus, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une postface, 1992.

1987 [CD] Choses dites, Paris, Minuit.

1993 [MM] La Misère du monde (et al.), Paris, Seuil, rééd. “Points”, 1998.

1997 [MP] Méditations pascaliennes, Paris, Seuil, rééd. “Points”, 2003.

2000 [SSÉ] Les Structures sociales de l’économie, Paris, Seuil, rééd. “Points”, 2014.

2001 [SSR] Science de la science et réflexivité. Cours du Collège de France 2000-2001, Paris, Raisons d’agir.

2004 [EAU] Esquisse pour une auto-analyse, Paris, Raisons d’agir.

2008 [EA] Esquisses algériennes, Paris, Seuil.

2014 [ISR] Invitation à la sociologie réflexive (avec L. Wacquant), Paris, Seuil.

[PB 2002c] “Sur l’esprit de la recherche, entretien avec Y. Delsaut, in Y. DELSAUT et M.-C. RIVIÈRE, Bibliographie des travaux de Pierre Bourdieu, Paris, Le Temps des Cerises, p. 175-240.

[PB 2013a: 15]Séminaires sur le concept de champ, 1972-1975, ARSS, no 200, p. 4-37.

***

LAZARSFELD, PAUL F. (1901-1976)

Paul F. Lazarsfeld là một nhà xã hội học xuất thân từ một gia đình tư sản Áo. Sau một luận án vật lí học, ông thành lập một viện tâm lí học ứng dụng. Đặc biệt năm 1931 ông là đồng tác giả của một chuyên luận vận dụng những kĩ thuật điều tra đa dạng để soi sáng kinh nghiệm thất nghiệp trong thành phố Marienthal ở Áo. Năm 1933, ông di cư sang Hoa Kì và thành lập một viện mới ở Newark rồi năm 1940 được bổ nhiệm làm giáo sư ở đại học Columbia, nơi ông sẽ giảng dạy xã hội học cho đến khi về hưu, đồng thời lãnh đạo một viện nghiên cứu ứng dụng.

Tại Hoa Kì, Lazarsfeld từ bỏ các dấn thân xã hội chủ nghĩa của mình thời trai trẻ và chủ yếu tập trung vào các chủ đề gần với tiếp thị. Ông giữ một vai trò quan trọng trong sự ra đời của những nghiên cứu về công chúng của các “phương tiện truyền thông đại chúng” hay về tác động của các phương tiện này trên các thực tiễn tiêu dùng. Đồng thời ông trở thành người bảo vệ không khoan nhượng một xã hội học thực nghiệm chủ yếu mang tính thống kê, đoạn tuyệt với triết học xã hội châu Âu. Đối với một người được đào tạo làm nhà vật lí, xã hội học chỉ có thể đạt đến sự thừa nhận của các khoa học tự nhiên với điều kiện là tự giới hạn vào những vấn đề khiêm tốn (trong thực tế thường gắn liền với yêu cầu của những người đặt hàng các cuộc điều tra) và chủ yếu dựa trên việc thực hiện và phân tích thống kê các cuộc điều tra bằng bảng câu hỏi. Phần cuối sự nghiệp của Lazarsfeld, thông qua những cuộc viếng thăm và các tác phẩm được dịch sang nhiều thứ tiếng, diễn ra để khuyến khích, quảng bá và “pháp điển hóa” cái “tư duy toán học” này.

Cùng với hai nhà xã hội học hàng đầu khác thời hậu chiến là Talcott Parsons và Robert K. Merton, Lazarsfeld được Bourdieu gọi một cách châm biến là hiện thân của “bộ ba trên đồi Capitole”. Giữ khoảng cách với việc du nhập vào Pháp xã hội học của Lazarsfeld, vốn chủ yếu do Raymond Boudon thực hiện [Esquisse pour une auto-analyse: 97-98], Bourdieu đối lập ngay chính sự nghiệp xã hội học của mình, một xã hội học tích hợp nghiên cứu thực nghiệm với tham vọng lí thuyết. Trong những năm 1960, đồng thời với việc thừa nhận “sự đóng góp độc đáo của Lazarsfeld […] vào việc duy lí hóa thực tiễn xã hội học” [Le Métier de sociologue: 13], Bourdieu chỉ ra, bằng những nghiên cứu của bản thân, những giới hạn của một thực tiễn thống kê bị cắt đứt với các phương pháp nhân chủng học và với lí thuyết. Với sự trợ giúp của Alain Darbel, đặc biệt là qua mô hình thống kê trong tác phẩm L’Amour de l’art, ông cạnh tranh với Lazarsfeld về mặt tinh tế hóa kĩ thuật. Trong các thập niên sau, ông tiếp tục phê phán “xã hội học các biến”, một xã hội học do Lazarsfeld khởi xướng mà ngày càng hiện hình trong những phân tích gọi là phân tích “hồi quy”. Chính trong bối cảnh này ta hiểu được cách ông thực hành việc phân tích những tương ứng. Phân tích này nghiên cứu những “cá thể” (hay nhóm) chứ không chỉ các biến, và đối với các biến, nghiên cứu những hệ thống quan hệ giữa các biến hơn là những ảnh hưởng “thuần túy” mà chúng có thể tác động một cách biệt lập.

Với thời gian, các quy chiếu về Lazarsfeld trong sự nghiệp của Bourdieu trở thành hiếm hơn, tuy không biến mất hẳn. Năm 1979, một bài dài của Michael Pollak đăng trên tạp chí Actes de la recherche en sciences sociales bàn về hành trình và “công ty khoa học đa quốc gia” của Lazarsfeld. Cũng trong năm này, một phụ lục trong cuốn La Distinction phê phán Lazarsfeld khi nhắc đến “sự tự phụ của một nhà thực chứng cố gắng xác lập thành chuẩn mực của mọi thực tiễn khoa học một phương pháp luận của sự oán hận” [Di: 598]. Năm 1881, ông viết một cách tinh quái trong lời tựa bản dịch tiếng Pháp cuốn Chômeurs de Marienthal, “chắc chắn, trong tất cả các tác phẩm của Paul Lazarsfeld, đây là tác phẩm làm chúng tôi hài lòng nhất ngày nay, trong khi hiển nhiên rằng đây cũng là tác phẩm làm ông ít thỏa mãn nhất”. Cuốn nghiên cứu thời trẻ này vừa báo trước các nét của những tác phẩm sau này của Lazarsfeld đã tạo cảm hứng cho những phát triển của Bourdieu, được lặp lại trong Méditations pascaliennes, về “chân lí tựa siêu hình của trải nghiệm sự chơ vơ cô quạnh” chứa đựng trong sự mô tả nạn thất nghiệp năm 1931 của Lazarsfeld, Marie Jahoda et Hans Zeisel [1982: 7-12].

Julien Duval

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP)

🕮 LAZARSFELD P., M. JAHODA et H. ZEISEL, 1982, Les Chômeurs de Marienthal, trad. fr., Paris, Minuit (1933). – POLLAK M., 1979, “Paul F. Lazarsfeld, fondateur d’une multinationale scientifique, ARSS, no 25, p. 45-59.

ACTES DE LA RECHERCHE EN SCIENCES SOCIALES, ANALYSE DES CORRESPONDANCES, CRITIQUE, DARBEL, DISTINCTION (LA), ENQUÊTE(S), ÉTATS-UNIS, GROUPE(S), INDIVIDU(S), JEUNESSE, MARKETING, MÉDIAS, MÉDITATIONS PASCALIENNES, MERTON, MÉTHODOLOGIE, NORME(S), PARSONS, PHILOSOPHIE, PRATIQUE, RÉGRESSION, RESSENTIMENT, SOCIOLOGIE, STATISTIQUES, SYSTÈME

Thư mục:

1968 [MS] Le Métier de sociologue. Préalables épistémologiques (avec J.-C. Chamboredon et J.-C. Passeron), Paris, La Haye, Mouton, éd. corrigée, 1973.

1969 [AA] L’Amour de l’art. Les musées d’art européens et leur public (avec A. Darbel), Paris, Minuit.

1979 [Di] La Distinction. Critique sociale du jugement, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une introduction, 1982.

1997 [MP] Méditations pascaliennes, Paris, Seuil, rééd. “Points”, 2003.

2004 [EAU] Esquisse pour une auto-analyse, Paris, Raisons d’agir.

***

OPINION(S) [(Các) Quan điểm/Ý kiến]

Đôi lúc Pierre Bourdieu kích hoạt lại sự đối lập, một truyền thống kể từ Platon, giữa công luận và khoa học. Dưới mắt ông, công việc xã hội học bao hàm sự đoạn tuyệt với kiến thức tự phát và doxa – thuật ngữ Hy lạp thường được dịch bằng tiếng Pháp là “công luận/dư luận quần chúng”. Nhưng ông cũng trích dẫn Pascal để nhắc nhở rằng, chống lại ngụy khoa học của “những kẻ nửa khéo léo”, các “ý kiến của nhân dân [là] lành mạnh” [PB 1989c: 34-35].

Ông cũng sử dụng thuật ngữ “quan điểm” để chỉ những “tầm nhìn về thế giới xã hội”, vốn có dạng một “diễn ngôn rõ ràng” trong lúc một số tầm nhìn khác vẫn ở trạng thái thực tiễn [Sociologie générale 2: 510]. Một chương của cuốn La Distinction bàn về sự thể hiện những “ý kiến cá nhân” về chính trị. Ý niệm “ý kiến cá nhân” vốn được bộc lộ trong thế kỉ XVIII để chống lại “tham vọng độc quyền sản sinh hợp pháp các phán đoán”, có phần gắn với tiềm tin duy lí theo đó phán đoan là một năng lực phổ cập. Thế mà xác suất sở hữu và phát biểu một ý kiến (cũng như, ví dụ, xác suất đọc một tờ báo) thay đổi mạnh với tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn hay nghề nghiệp. Tương tự như vậy đối với khuynh hướng sản sinh những ý kiến dựa trên những nguyên tắc thuần túy chính trị (hơn là, ví dụ, trên những nguyên tắc đạo đức) và, trong trường hợp này, sản sinh “tự bản thân” hơn là bằng “ủy thác” hay bằng “ủy nhiệm” [Di: 453-541]. Đặc biệt chính dựa trên phân tích này về sự sản sinh quan điểm mà Bourdieu phê phán ý niệm “công luận” và các cuộc “điều tra dư luận” [PB 1972d].

Julien Duval

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP)

DÉLÉGATION, DISTINCTION (LA), DISCOURS, DOXA, LÉGITIMATION, OPINION PUBLIQUE, PASCAL, VISION DU MONDE

Thư mục:

1979 [Di] La Distinction. Critique sociale du jugement, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une introduction, 1982.

2016 [SG 2] Sociologie générale, vol. 2, éd. établie par P. Champagne et J. Duval, avec la collaboration de F. Poupeau et M.-C. Rivière, Paris, Raisons d’agir/Seuil, rééd. “Points”, 2019.

[PB 1972d]L’opinion publique n’existe pas, Les Temps Modernes, no 318, p. 1292-1309.

[PB 1989c] “Reproduction interdite. La dimension symbolique de la domination économique, Études rurales, no 113-114, p. 15-36.

***

OPINION PUBLIQUE [Dư luận xã hội/Công luận]

Sự can hệ của Pierre Bourdieu vào vấn đề các cuộc điều tra gọi là thăm dò “dư luận xã hội” nằm hoàn toàn trong ba văn bản ngắn nhưng có tính quyết định: một bài thuyết trình có tựa khiêu khích – “Dư luận xã hội không tồn tại” – đọc vào tháng giêng năm 1971 trước hội văn hóa Noriot, bài này sẽ được đăng vào tháng giêng 1973 trong tạp chí Les Temps Modernes rồi được tái bản năm 1980 trong cuốn Questions de sociologie [QS: 222-235]; một bài viết công bố trong tạp chí Minuit có tựa là “Les doxosophes/Những người chạy theo doxa [PB 1972b]; và một bài viết, cũng ngắn không kém, có tựa “Le sondage, une science sans savant” trong tạp chí Pouvoirs và tái bản năm 1987 trong cuốn Choses dites [CD: 217-224]. Bài thuyết trình đầu tiên gây chấn động trong thế giới nhỏ bé của các nhà khoa học chính trị và những người thăm dò dư luận, minh họa một cách hoàn hảo vai trò mà Bourdieu muốn xã hội học đảm nhiệm: vì là một ngành khoa học có đối thượng là thế giới xã hội nên xã hội học không thể tách biệt khỏi các cuộc tranh luận và vấn đề làm xã hội sôi động và xã hội học phải lên án những tuyên bố của khoa học giả tạo có tham vọng như trong trường hợp của những cuộc thăm dò dư luận – nói lên suy nghĩ và nguyện vọng của những cá nhân.

Thật vậy, kể từ năm 1965, khi lần đầu tiên tổng thống Pháp được bầu bằng phổ thông đầu phiếu, giới chính trị-báo chí Pháp hâm mộ thật sự kĩ thuật điều tra ứng dụng vào lĩnh vực chính trị, mà sức quyến rũ là do các nhà điều tra đã dự báo, ngược với ý kiến của những nhà bình luận có uy tín vốn tin tưởng vào trực giác của mình, là tướng Gaulle không chiếm được đa số cử tri trong vòng đấu gạt bỏ các ứng cử viên. Thành công của các chuyên gia trên đối với việc dự báo ngắn hạn trong các cuộc bầu cử đã nhân bội, không chỉ các cuộc điều tra trươc thời điểm bầu, mà còn cả chính những cuộc điều tra dư luận (nghĩa là các cuộc điều tra bắt đầu bằng câu hỏi “bản thân bạn nghĩ gì …”) về mọi chủ đề khả dĩ, từ những chủ đề tào lao đến những chủ đề có tranh luận xã hội, mà kết quả được công bố và bình luận bởi những nhà báo viết xã luận và nhất là bởi các chuyên gia khoa học chính trị vốn phân tích đời sống chính trị hầu như chỉ bằng các cuộc điều tra. Nhờ công nghệ này, các nhà khoa học chính trị có tham vọng biết, tự cho là một cách khoa học, và do đó không thể bàn luận, “trạng thái của dư luận xã hội”, như vậy các nhà điều tra có khuynh hướng trở thành người có thẩm quyền duy nhất chính đáng để nói đâu là “dư luận xã hội”, nghĩa là “người Pháp nghĩ gì” về mọi chủ đề, đặc biệt là các chủ đề nuôi dưỡng đấu trường chính trị. Pierre Bourdieu phê phán các cuộc điều tra này trên quan điểm thuần túy khoa học khi nhắc lại sự thận trọng sơ đẳng cần được triển khai khi tính đến tính giả tạo đặc trưng của tình huống điều tra và kiểu câu hỏi đặt ra cho những ai được điều tra nhằm thu thập “ý kiến” của họ. Suy tưởng của Bourdieu dựa trên việc khảo sát đặc biệt và có hệ thống các chất liệu thực nghiệm. Cuộc điều tra này có đưa lên báo chí một bản câu hỏi liên quan đến việc đánh giá hệ thống học đường sau các biến cố tháng Năm 1968; các chất liệu thực nghiệm hợp thành từ việc thu thập lại đầy đủ những câu hỏi do các viện thăm dò dư luận đặt ra trong những năm từ 1965 đến 1970 cũng như một nghiên cứu về điều tra dư luận.

Trong bài thuyết trình, Bourdieu nêu rõ ba tiền giả định có trong các cuộc điều tra này, vốn nằm duy nhất chỉ dựa duy nhất vào cùng một câu hỏi ý kiến được đặt cho một mẫu dân chúng được xem là “khoa học” vì “đại diện” cho toàn thể dân chúng (thường là công dân đến tuổi có quyền bầu cử). Các điều tra này có vẻ theo một logic chính trị hơn là một logic khoa học, chuyên “hỏi một cách dân chủ” mọi người, ngay cả những ai không muốn được khảo sát hay cảm thấy mình không có liên quan. Cách thức điều tra này giả định, một mặt, là cùng một câu hỏi đặt ra cho một tổng thể thống kê khác nhau về mặt xẫ hội lẫn văn hóa, sẽ được mọi người hiểu một cách giống nhau. Mặt khác, mọi người, trên mọi chủ đề, đều có ý kiến, có thể và phải phát biểu ý kiến đó. Đó là tiền giả định đầu tiên của các cuộc điều tra này: mọi người có khả năng có ý kiến cá nhân về mọi chủ đề. Thế mà, trong nhiều cuộc điều tra, phân tích những trường hợp “không trả lời” các câu hỏi được đặt cho một mẫu của tổng thể thống kê đại diện cho dân số toàn quốc nhưng, điều thường hay bị quên lãng, gồm những người được điều tra ít ra là đã chấp nhận trả lời bản câu hỏi – những sự từ chối cuộc điều tra, vốn rất quan trọng, hợp thành những trường hợp không trả lời vô hình không được tính đến – cho thấy là, mặc dù có những nỗ lực của các nhà điều tra để tối thiểu hóa các trường hợp không trả lời (bằng những chỉ thị cho những người điều tra và bằng kĩ thuật những câu hỏi đóng vốn ít thu thập các ý kiến hơn là thu thập những câu trả lời sẵn cho những câu hỏi về dư luận), có một sự phân phối không đồng đều tủy theo loại câu hỏi được nêu, theo trình độ bằng cấp, giới tính, vị thế xã hội, v.v. của người trả lời. Điều tra bằng bản câu hỏi đăng trên báo chí mời bạn đọc gởi về phiếu trả lời xác nhận rằng chỉ một phần dân chúng có khả năng cung cấp ý kiến cá nhân. Bourdieu nhắc nhở là cũng có một kiểu ý kiến không được các cuộc điều tra tính đến được ông gọi là các ý kiến ủy quyền, nghĩa là những ý kiến không phải về những vấn đề được đề cập nhưng về những nhóm, đảng phái, nghiệp đoàn và định chế được sự tin tưởng của các cá nhân để đưa ra ý kiến thay cho họ về các vấn đề này.

Tiền giả định thứ hai của các cuộc điều tra dư luận, ít ra là các cuộc điều tra do các viện điều tra dư luận tiến hành, là những ai được điều tra được xem là đặt cho bản thân vấn đề mà các viện này đặt ra cho họ – trong thực tế là do các nhà tài trợ điều tra đặt ra cho họ –, và do đó mọi người đều có khả năng tự đặt cho mình các vấn đề này, hiểu những động cơ và ý nghĩa, thường có tính chính trị, làm cơ sở cho chúng. Thế mà, cùng một vấn đề đặt ra cho một tổng thể thống kê vô cùng đa dạng về mặt xã hội và văn hóa khó có thể được mọi người hiểu một cách giống nhau, và do đó ít có khả năng là mọi người được điều tra đều trả lời cùng một câu hỏi. Bằng cách xem như thể là mọi người được khảo sát thật sự đều đặt cùng những vấn đề như các nhà điều tra, trong thực tế các nhà điều tra đã áp đặt một cách đặt vấn đề tạo nên một sự chuyển hướng những khiến cho việc các nhà bình luận có thể chiếm đoạt ý nghĩa những câu trả lời mà các cá nhân cung cấp trong quan hệ điều tra trở thành khả thi. Nói cách khác, những ai được điều tra cung cấp những câu trả lời của mình mà không thể tác động đến ý nghĩa sẽ được các nhà bình luận, những người viết xã luận và nhà khoa học chính trị gán cho chúng.

Cuối cùng, tiền giả định thứ ba của các cuộc điều tra dư luận này được Bourdieu nêu bật là những hiệu ứng phái sinh do việc cộng dồn các câu trả lời giống hệt nhau về mặt hình thức nhưng ý nghĩa thực tế của chúng lại thật sự vô cùng đa dạng. Thật vậy, những ai được điều tra hiểu những gì họ có thể hiểu và diễn giải các câu hỏi tùy theo những đặc điểm xã hội, văn hóa và hệ thống những mối quan tâm/lợi ích của bản thân. Kết quả là những câu trả lời các nhà điều tra thu thập được, mặc dù có những ý nghĩa rất đa dạng, gần như bị triệt tiêu do chỉ có tính đến những câu trả lời ít nhiều bị cưỡng đoạt từ các cá nhân. Trình bày các kết quả dưới dạng tỉ lệ % cộng lại những câu trả lời giống nhau về mặt hình thức che khuất việc là tất cả các quan điểm có những giá trị khác nhau về mặt xã hội và do đó không thể cộng chúng lại với nhau. Dựa trên cuộc điều tra được tiến hành qua báo chí, ông chỉ ra là bài học lí thú của cuộc điều tra này không nằm ở sự phân phối các câu trả lời nhưng nằm ở việc là chỉ một phân số dân chúng đã được vận động để nêu quan điểm của bản thân về lĩnh vực được xem xét. Đối lại với những câu trả lời bị tình thế điều tra cưỡng chiếm từ một tổng thể thống kê chỉ có tính đại diện về mặt hình thức, Bourdieu đối lập mẫu những người được điều tra đại diện cho những lực lượng xã hội được huy động hay có tiềm năng được huy động về một chủ đề nhất định; trước những ý kiến giả tạo do các thước đo của các cuộc điều tra gây ra, ông đề xuất những ý kiến có tính chủ lực, những quan điểm được huy động thật sự có tác động đến các cuộc tranh luận công khai. Tuy tiền giả định cuối này là một nhận định đơn thuần chứ không phải là một đánh giá giá trị (tất cả các quan điểm không có cùng một tác động xã hội) song lại là đối tượng phê phán gay gắt của các nhà khoa học chính trị, Bourdieu bị cáo buộc là “không dân chủ” vì các phê phán của ông đối với thực tiễn điều tra cũng bị gán là nhắm vào chế độ phổ thông đầu phiếu. Trước đó Bourdieu đã trả lời cho các vị tự xưng là bác học về các vẻ bề ngoài được ông gọi là những nhà “doxosophes” (những người chạy theo doxa – ND) [PB 1972b]: họ lẫn lộn việc phân tích khoa học về thực tiễn các cuộc điều tra với một đánh giá     chính trị đối với một công nghệ chính trị như chế độ phổ thông đầu phiếu và hệ tư tưởng làm cơ sở và đồng hành cùng đánh giá này, vì công nghệ này chỉ là một giải pháp cụ thể trong số những giải pháp khác cho vấn đề chính trị của sự cai trị. Và Bourdieu kết luận rằng tuy ý niệm “dư luận xã hội” không phải là một khái niệm khoa học mà ta có thể đo đạc nhưng thuộc về siêu hình học chính trị song nó là một thực tế nhất định, có trước cả những người điều tra, là thực tế của các nhóm áp lực tìm cách để được những người cầm quyền lắng nghe, trong lúc ý niệm người điều tra, có vẻ được xác định một cách khoa học là như tựa của bài thuyết trình của ông khẳng định, là một hiện tượng nhân tạo do chính cuộc điều tra được xem là nắm bắt dư luận tạo ra.

Patrick Champagne

Nhà nghiên cứu INRA (CESSP)

CHAMP POLITIQUE, CHOSES DITES, DÉLÉGATION, DOXOSOPHES, ENQUÊTE(S), IMPOSITION, MAI 68, MÉDIAS, OPINION(S), POSITION(S), QUESTIONNAIRE, QUESTIONS DE SOCIOLOGIE, SOCIOLOGIE, TEMPS MODERNES (LES)

Thư mục:

1980 [QS] Questions de sociologie, Paris, Minuit, nouvelle réed. 2002.

1987 [CD] Choses dites, Paris, Minuit.

[PB 1972b] “Les doxosophes, Minuit, no 1, p. 26-45.

***

QUESTIONNAIRE [Bản câu hỏi]

Trong xã hội học ngày nay, thuật ngữ “bản câu hỏi” được ưa chuộng để quy chiếu về kĩ thuật đặt câu hỏi bằng những từ và trong những điều kiện tương tự nhau, cho một số lớn người được điều tra rồi sau đó xử lí bằng những công cụ thống kê những câu trả lời thu thập được. Ngay từ những công trình đầu của ông ở Algérie, Pierre Bourdieu đã chọn bản câu hỏi như là một trong những công cụ chính để sử dụng. Nhóm điều tra do ông tập hợp miệt mài làm nhiều về nhân chủng học, nhưng ông cũng sử dụng những bản câu hỏi. Mặt khác, Bourdieu cộng tác với các chuyên gia của Viện quốc gia thống kê và nghiên cứu kinh tế Pháp (INSEE). Nhà xã hội học thích kĩ năng của họ nhưng đánh giá là khi sử dụng những bản câu hỏi được thiết kế ở chính quốc, họ tạo ra những hình thức giả tạo [Travail et travailleurs en Algérie]. Ông từng khẳng định tính bổ sung của các phương pháp và thay vì duy trì sự đối lập giữa cái “định lượng” và cái “định tính” ông nhấn mạnh sự cần thiết phải tra vấn, trong mọi trường hợp, về “quan hệ điều tra”.

Trong những năm 1960, tại Centre de sociologie européenne (CSE) ông sử dụng rất nhiều cuộc điều tra bằng bản câu hỏi [Duval et al. sẽ xuất bản] trong khuôn khổ của những công trình về sinh viên cũng như trong những khảo sát về văn hóa hay về các trường lớn [Un art moyen: 352-354; L’Amour de l’art: 174-180; La Distinction: 599-605; La Noblesse d’État: 335-351]. Tại trung tâm này, các bản câu hỏi cho phép “lấy lại, xác định và thay đổi” những giả thuyết [Le Métier de sociologue: 87]. Bourdieu không nhìn các bước của một cuộc điều tra bằng bản câu hỏi (thiết kế, trao đổi, mã hóa, phân tích) như những nhiệm vụ kĩ thuật thuần túy. Ông nói đến chúng như những cơ hội để “tìm những ý tưởng lí thuyết […] hiệu quả nhất” và như những thời điểm diễn ra những lựa chọn có tính quyết định trong một nghiên cứu: một câu hỏi đặt không khéo, một câu trả lời bị ghi hay bị mã hóa thiếu chính xác có thể dẫn đến việc bỏ qua một điểm thiết yếu [Invitation à la sociologie réflexive: 213, 283].

Sự quan tâm của trung tâm CSE đối với nguồn gốc xã hội dẫn đến việc yêu cầu người được khảo sát cung cấp thông tin chính xác về bằng cấp và nghề nghiệp của các bậc sinh thành của họ. Đôi lúc lấy cảm hứng từ các bài trắc nghiệm của các nhà tâm lí, các câu hỏi thường rất sáng tạo. Ví dụ, người được khảo sát được mời định nghĩa các từ, lên danh sách những diễn giả họ muốn nghe nói chuyện hay những ca sĩ họ yêu thích và những “phẩm chất cá nhân” được họ đánh giá cao nhất. Các câu trả lời cho các câu hỏi đóng thường được thiết kế như những kích thích các “tâm thế giai cấp” khác nhau. Đặc biệt lựa chọn này sẽ cho phép xây dựng “không gian xã hội” khi các bản câu hỏi về thị hiếu, trong những năm 1970, được xử lí bằng phân tích các tương ứng.

Trong các bài giảng của ông, Bourdieu nói đến kĩ năng cho phép (thu được tối đa thông tin xác đáng” bằng cách “đặt các câu hỏi ít có khả năng bị hiểu theo nhiều cách và bị mất ý nghĩa nhất” [ISR: 283; Sociologie générale 1: 45-46]. Ông lưu ý đến những “điều kiện cụ thể” của việc thiết lập một bản câu hỏi: các câu trả lời thu về biến đổi nhiều tùy theo những đặt tính của người điều tra hay cách người này tự giới thiệu bản thân [ISR: 288]. Ông nhấn mạnh đến những giới hạn của công cụ. Thật vậy, một bản câu hỏi không ghi nhận những thực tiễn nhưng thu thập những tuyên bố, ngoài việc chịu tác động của sự cường điệu hay sự lãng quên [MS: 66], còn là kết quả của sáng kiến của nhà nghiên cứu: nhà xã hội học không thể không vận dụng phương thức tra vấn xã hội này mà không ”tự tra vấn về bản thân đang đặt câu hỏi cho người khác” [SG 2: 402]. Việc “áp đặt cách đặt vấn đề” là rủi ro vốn có của công cụ. Điều này là hiển nhiên trong các cuộc thăm dò dư luận khi những ai được khảo sát phải trả lời những câu hỏi mà họ không tự đặt ra cho mình [PB 1972d].

Có lẽ vì lí do này mà việc phân tích các tỉ suất không trả lời là thông tin vững chắc nhất ta có thể rút ra từ một cuộc điều tra [PB 1977a]. Dưới một dạng có vẻ cũng nghịch lí như thế Bourdieu ngợi ca (trong những hội thảo chưa được công bố) những “mẫu tự phát” hay những “bản câu hỏi gây tranh luận”, hay khẳng định rằng bản câu hỏi là “nguồn tồi tệ nhất”. Khi xô đẩy những “khuôn vàng thước ngọc của phương pháp” và “sự an tâm duy khoa học” [PB 1994i], Bourdieu tự tách mình ra khỏi những ai, như Lazarsfeld, thấy ở bản câu hỏi “hình thức trung tính nhất và được kiểm soát nhất của việc thiết lập dữ liệu” hay coi đó là “kĩ thuật hoàn hảo” [MS: 65]. Ông cũng thể hiện niềm tin là không có tiến bộ của nhận thức nếu không có một phân tích phê phán các công cụ nhận thức.

Julien Duval

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP)

ALGÉRIE, ANALYSE DES CORRESPONDANCES, CENTRE DE SOCIOLOGIE EUROPÉENNE, CULTURE, ENQUÊTE(S), ENTRETIEN(S), ESPACE SOCIAL, ETHOS, ÉTUDIANTS, GRANDES ÉCOLES, GOÛT, INSTITUT NATIONAL DE LA STATISTIQUE ET DES ÉTUDES ÉCONOMIQUES, LAZARSFELD, MÉTHODOLOGIE, OPINION(S), ORIGINE(S) SOCIALE(S), PRATIQUE, PROFESSION, SÉMINAIRE, STATISTIQUES

Thư mục:

1960 [TTA] Travail et travailleurs en Algérie, (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.

1965 [AM] Un art moyen. Essai sur les usages sociaux de la photographie (avec L. Boltanski, R. Castel et J.-C. Chamboredon), Paris, Minuit.

1968 [MS] Le Métier de sociologue. Préalables épistémologiques (avec J.-C. Chamboredon et J.-C. Passeron), Paris, La Haye, Mouton, éd. corrigée, 1973.

1969 [AA] L’Amour de l’art. Les musées d’art européens et leur public (avec A. Darbel), Paris, Minuit.

1979 [Di] La Distinction. Critique sociale du jugement, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une introduction, 1982.

1989 [NE] La Noblesse d’État. Grandes Écoles et esprit de corps, Paris, Minuit.

2014 [ISR] Invitation à la sociologie réflexive (avec L. Wacquant), Paris, Seuil.

2015 [SG 1] Sociologie générale, vol. 1, éd. établie par P. Champagne, J. Duval, F. Poupeau et all., Paris, Raisons d’agir/Seuil, rééd. “Points”, 2019.

[PB 1972d] “L’opinion publique n’existe pas, Les Temps Modernes, no 318, p. 1292-1309.

[PB 1977a] “Questions de politique, ARSS, no 16, p. 55-89.

[PB 1994i] “Avant-propos dialogué” (avec J. Maître), in J. MAÎTRE, L’Autobiographie d’un paranoïaque, Paris, Economica, p. 5-22.

***

STATISTIQUES [Thống kê]

Những nghiên cứu đầu tiên của Pierre Bourdieu thuộc về nhân chủng học, nhưng rất nhanh chóng có sự cộng tác của các nhà thống kê thuộc Institut national de la statistique et des études économiques (INSEE). Cuốn sách bắt nguồn từ sự hợp tác này mở đầu với một suy tưởng phương pháp luận nêu bật đóng góp của các số liệu thống kê, đồng thời khẳng định tính bổ sung tất yếu của các phương pháp và tầm quan trọng, đối với các nhà nghiên cứu, của việc tự vấn về quan hệ của họ với các công cụ thống kê [Travail et travailleurs en Algérie: 9-13]. Nếu suốt sự nghiệp của mình, Bourdieu từng là một người sử dụng sáng tạo những công cụ thống kê khác nhau (đếm số lượng, bảng chéo, mô hình hóa trong cuốn L’Amour de l’art, phân tích những tương ứng) thì ông cũng đã phát triển một thực tiễn độc đáo mà, ngoài sự đối lập thông thường giữa những người bảo vệ và chống đối các kĩ thuật “định lượng”, trước tiên có đặc điểm là một điều kiện tất yếu về tính phản tư: thống kê cũng là đối tượng của xã hội học nhận thức mà những bài học phải được khoa học luận tính đến.

Khi chỉ nhìn nhận thống kê như một công cụ, các nhà xã hội học “quên rằng thống kê nằm trong thế giới xã hội” [La Noblesse d’État: 451]. Các xã hội đương đại trải qua, ví dụ, từ một phương thức tái sản sinh gia đình sang một phương thức tái sản sinh có thành tố giáo dục, thay thế cho việc truyền trực tiếp vị thế xã hội giữa người nhận di tặng sang người thừa kế qua trung gian của Nhà trường vốn “dựa trên sự tổng gộp thống kê những hành động biệt lập của những tác nhân cá thể hay tập thể […] bị chi phối bởi những qui luật […] của thị trường giáo dục”. Nếu Nhà trường chính đáng hóa nhữngkẻ thừa kế” thì Nhà trường cũng sản sinh những “kẻ thất bại” và chỉ đảm bảo cho giai cấp thống trị một sự tái sản sinh có tính thống kê [: 409]. Thống kê cũng được công nhận là một đối tượng nghiên cứu, trong việc phân tích sự hình thành Nhà nước hiện đại. Thật vậy, sự phát triển của Nhà nước nằm trong một bối cảnh rộng hơn của sự cấu thành “vốn thông tin” khi có một quyền lực trung ương tiến hành công việc chuẩn hóa và đồng nhất hóa (cần thiết cho thước đo thống kê). Vì thống kê cho phép thu thập “vốn thông tin” bằng cách “tổng gộp thông tin mà không có bất kì cá thể cung cấp thông tin sơ đẳng nào làm được”, nên thống kê là một “kĩ thuật siêu đẳng” có liên quan đến một định chế siêu đẳng là Nhà nước [Sur l’État: 337-340]. Thống kê Nhà nước, mà các sản phẩm ngày nay được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng hay trong hệ thống giáo dục, tham gia vào hoạt động Nhà nước tạo ra những bản sắc xã hội hợp pháp và, ví dụ với danh mục các loại xã hội-nghề nghiệp, nhứng nguyên tắc về tầm nhìn chính đáng [La Distinction: 545-564;: 24]. Thống kê nằm trong cuộc chơi chính trị đương đại, như được minh họa bằng công nghệ xã hội của những cuộc thăm dò dư luận, các cuộc điều tra này tạo ra những “đối tượng nhân tạo” có những tác động thực tế [Questions de sociologie: 222-235].

Dù sao đi nữa, một khi được sử dụng vì những mục đích thuần túy khoa học, thống kê có thể tạo ra những tổng gộp không gì thay thế được. Duy chỉ có việc đếm các con số, ngược lại với những gì những ai cung cấp thông tin nói, mới cho phép đo sự kiện là hôn nhân ở Algérie với chị em họ là một thực tiễn vô cùng thiểu số. Một cách gần như tương tự, thống kê ở vùng Béarn gieo sự nghi ngờ đối với cảm giác của người bản địa về sự tăng trưởng chưa từng có của tình trạng độc thân [Le Bal des célibataires: 17-18]. Trong các nghiên cứu về các bất bình đẳng học đường, các bảng về nguồn gốc xã hội của sinh viên cũng là một công cụ đoạn tuyệt với lí lẽ thông thường vốn quan tâm rất nhiều đến các trường hợp đặc biệt ấn tượng, nhưng lại rất hiếm về mặt thống kê, như là những phép lạ. Trong những năm 1970, phân tích những tương ứng tỏ ra là một công cụ có giá trị để xây dựng các trường và không gian xã hội, “các hiện thực vô hình không thể chỉ trỏ hay sờ tay vào” [Raisons pratiques: 25].

Giống như các nhà xã hội học theo trường phái Durkheim mà ông đã trích dẫn nhiều và tái bản, Bourdieu xem thống kê như một công cụ mạnh đồng thời cũng tiềm tàng nguy hiểm. Thống kê là một công cụ khách thể hóa bao giờ cũng giam hãm rủi ro khách quan luận [PB 1978b: 5]. Thống kê cho phép cắt đứt với những sự thật “chính thức” mà các nhà cung cấp thông tin thường bám vào nhưng, từ đầu này đến đầu kia của thống kê Nhà nước, thống kê cũng là một khoa học “chính thức”. Nếu Bourdieu thường xuyên sử dụng danh mục các loại xã hội-nghề nghiệp, ông không quên rằng danh mục này là sản phẩm của hoạt động của Nhà nước, một “hành động mà bản chất là thực chứng biến đổi đối tượng của nhận thức thành công cụ nhận thức” do danh mục giải quyết dứt điểm những vấn đề đang còn là sự được thua của các cuộc đấu tranh [: 174]. Chính các cuộc đấu tranh này cấu thành đối tượng của nhà xã hội học và nhà nghiên cứu này cần tự tra vấn, nhiều hơn là các nhà thống kê trong Nhà nước, về các phân loại mình đang thao tác [: 226]. Luôn phải tự xây dựng những dữ liệu của mình và, ít nhất trong mọi trường hợp, chỉ tiến hành phân tích những dữ liệu thứ cấp bằng cách chú ý nhiều nhất đến những giới hạn của chúng, các dữ liệu không bao giờ là được “cho trước” và luôn chịu ảnh hưởng của những nguyên tắc về quan điểm và về những lợi ích của những người chế tạo ra hay đặt hàng chúng [MS].

Bourdieu cũng không kém phần phê phán đối với “tư duy toán học” mà Paul Lazarsfeld quảng bá khắp thế giới trong những năm 1960. Ông thấy trong tư duy này một “chủ nghĩa thực chứng” bị buộc phải xác lập những “nhận định thuần túy thống kê”, một “khoa học không có lí thuyết” đi tìm trong việc tinh tế hóa những công cụ câu trả lời cho những vấn đề mà chỉ một mình thống kê không thể giải quyết. Với tư cách là nhà nhân chủng học, Bourtdieu không thể tán thành phương pháp được Lazarsfeld chuẩn hóa, người tin vào tính ưu việt của thống kê, và trong trường hợp tốt nhất, dành một vai trò khơi mào cho các phương pháp “định tính”. Tác phẩm L’ Amour de l’art thách thức Lazarsfeld bằng cách đề xuất một sự mô hình hóa thống kê vô cùng tinh tế đồng thời khôi phục việc nghiên cứu kết hợp những đóng góp của việc điều tra bằng bản câu hỏi, phỏng vấn và quan sát nhân chủng học.

Với thời gian, Bourdieu phát triển một thực tiễn thống kê nhất quán không dựa trên sự phù hợp “có tính phô trương với những đòi hỏi hình thức của khoa học bình thường” nhưng trên một sự kiểm tra có phê phán và hệ thống những thao tác mà phân tích thống kê phải tiến hành [Homo academicus: 46-47]. Chẳng hạn, khi ông duy trì một giả thiết bề ngoài có vẻ bị những dữ liệu được sử dụng bác bỏ tức là ông tra vấn thường xuyên các dữ liệu này là chúng chịu tác động thế nào của tỉnh huống của cuộc điều tra lúc chúng được thu thập, của những phân loại, thao tác mã hóa mà chúng là đối tượng. Ông đoạn tuyệt với sự tôn sùng “tính đại diện” thống kê mà, do dựa trên một nguyên tắc chính trị (sự bình đẳng của công dân) có thể, trong một số trường hợp, phá hủy đối tượng của phân tích: chỉ có thể phân tích một trường, ví dụ, trên cơ sở một quần thể những tác nhân có tạo ra hiệu ứng chứ không phải là mang “tính đại diện”.

Trong thực tế, nhà xã hội học phát triển một thực tiễn thống kê phù hợp với phương thức tư duy cấu trúc của ông. Trên điểm này, nếu việc ông vận dụng phân tích các tương ứng là rõ ràng, cần nhắc rằng quan điểm cấu trúc bao giờ cũng hiện diện trong thực tiễn thống kê của ông. Ngay từ những năm 1960, ông đã nhấn mạnh là so sánh thống kê, trong không gian cũng như trong thời gian, bị phơi bày cho “sai lầm danh nghĩa”: một chỉ báo (ví dụ, tỉ suất tốt nghiệp đại học không có cùng một ý nghĩa vào hai thời kì khác nhau, hay trong hai xã hội khác nhau. Lập luận thông thường so sánh các giá trị của chỉ báo không thể dung hòa với quan điểm cấu trúc theo đó chỉ có thể có so sánh giữa các cấu trúc với nhau [L’Amour de l’art; PB 1967b]. Một cách tổng quát, thống kê được xây dựng và đọc trong một khuôn khổ lí thuyết dẫn đến, ví dụ, việc nắm bắt các tổng gộp thống kê như là kết quả của những “chiến lược do các tập tính được phối hợp một cách khác quan” sản sinh, khi mà những cách sử dụng thông thường thường rơi vào cơ chế luận, mục đích luận và tất cả những “sai lầm lí thuyết” được thống kê cổ vũ [HA: 194]. Tương tự như vậy, quan điểm cấu trúc yêu cầu các thống kê làm rõ, không phải những quan hệ đơn giản giữa các biến, nhưng là những “hệ thống quan hệ giữa các biến” [AA], một “hệ thống những quan hệ đan chéo”, một “tính nhân quả cấu trúc” mà mỗi tương quan biệt lập chỉ là một yếu tố [Di: 114-119]. Vấn đề không phải là cung cấp những ghi nhận, hay nhắm đến việc “đơn giản tái hiện một cách đặc biệt các hiện tượng”, nhưng là triển khai, song song với những chất liệu khác, một phương pháp thật sự có tính giải thích, một lập luận khôi phục các cơ chế và “nguyên tắc thực tế” ở cội nguồn của những quan hệ được ghi nhận [MS: 75-76].

Trên phương diện thống kê, tính độc đáo của Bourdieu, là đã hòa giải hai “di sản” thường được xem là loại trừ lẫn nhau [Desrosières 2003] mà, trong truyền thống xã hội học Mỹ chắc chắn được hiện thân trong các trào lưu có vẻ đối kháng nhau như xã hội học của Lazarsfeld và phương pháp luận dân dã. Các quan điểm của Bourdieu không thay đổi song có thể phân biệt nhiều thời kì. Thời kì đầu gắn với việc ông cộng tác với Alain Darbel, một mặt và mặt khác, với Jean-Claude Passeron. Thời kì thứ hai do sự khám phá phân tích các tương ứng thống trị, đặc biệt phân tích này được sử dụng trong các cuốn La Distinction Homo academicus, hai tác phẩm chú ý đến những đặc điểm giúp nhận dạng (modus operandi) các tương ứng. Trong những năm 1990, Bourdieu quan tâm đến thống kê như là “tư duy của Nhà nước” – và ít sử dụng thống kê hơn, trước khi quay trở lại với những công trình cuối cùng của ông [Les Structures sociales de l’économie; PB 1999a].

Julien Duval

Giám đốc nghiên cứu CNRS (CESSP)

🕮 DESROSIÈRES A., 2003, “Une rencontre improbable et ses deux héritages, in P. ENCREVÉ et R.-M. LAGRAVE (dir.), Travailler avec Bourdieu, Paris, Flammarion, p. 209-218.

ALGÉRIE, AMOUR DE L’ART (L’), ANALYSE DES CORRESPONDANCES, CATÉGORIE(S), CHAMP, DARBEL, DISTINCTION (LA), ENQUÊTE(S), ENTRETIEN(S), ESPACE SOCIAL, ÉTAT, ÉTATS-UNIS, ETHNOMÉTHODOLOGIE, HABITUS, HOMO ACADEMICUS, INSTITUT NATIONAL DE LA STATISTIQUE ET DES ÉTUDES ÉCONOMIQUES, LAZARSFELD, LÉGITIMATION, LUTTE(S), MÉTHODE, MÉTHODOLOGIE, MÉTIER DE SOCIOLOGUE (LE), MODUS OPERANDI, NOMINAL, OBJECTIVATION, OBJECTIVISME, OBSERVATION(S), OPINION PUBLIQUE, PASSERON, POSITIVISME, QUESTIONNAIRE, RÉFLEXIVITÉ, RELATION(S) OBJECTIVE(S), RELATIONNELLE (APPROCHE), STRATÉGIE(S), STRUCTURE(S), SYSTÈME, TOTALISATION, TRAVAIL ET TRAVAILLEURS EN ALGÉRIE

Thư mục:

1963 [TTA] Travail et travailleurs en Algérie (avec A. Darbel, J.-P. Rivet et C. Seibel), Paris, La Haye, Mouton.

1968 [MS] Le Métier de sociologue. Préalables épistémologiques (avec J.-C. Chamboredon et J.-C. Passeron), Paris, La Haye, Mouton, éd. corrigée, 1973.

1969 [AA] L’Amour de l’art. Les musées d’art européens et leur public (avec A. Darbel), Paris, Minuit.

1979 [Di] La Distinction. Critique sociale du jugement, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une introduction, 1982.

1984 [HA] Homo academicus, Paris, Minuit, nouvelle éd. augmentée d’une postface, 1992.

1989 [: 174] La Noblesse d’État. Grandes Écoles et esprit de corps, Paris, Minuit.

2012 [] Sur l’État. Cours au Collège de France, 1989-1992, Paris, Raisons d’agir/Seuil. [MS: 75-76]

2000 [SSÉ] Les Structures sociales de l’économie, Paris, Seuil, rééd. “Points”, 2014.

[PB 1967b] “La comparabilité des systèmes d’enseignement” (avec J.-C. Passeron), in R. CASTEL et J.-C. PASSERON (éd.), Éducation, démocratie et développement, Paris/La Haye, Mouton, “Cahiers du Centre de Sociologie Européenne”, no 4, p. 21-58.

[PB 1978b] Le patronat (avec M. de Saint-Martin), ARSS, no 20-21, p. 3-82.

[PB 1999a] “Une révolution conservatrice dans l’édition, ARSS, no 126-127, p. 3-28.

Người dịch: Nguyễn Đôn Phước

Nguồn: Dictionnaire international Bourdieu, CNRS Éditions, Paris, 2020

Print Friendly and PDF