12.2.17

Xã hội học theo hướng hiện tượng học: Từ Alfred Schütz đến Peter Berger và Thomas Luckmann


Bài đã đăng Tạp chí Xã hội học, số 4 (132), 2015, tr. 140-152.
XÃ HỘI HỌC THEO HƯỚNG HIỆN TƯỢNG HỌC: TỪ ALFRED SCHÜTZ ĐẾN PETER BERGER VÀ THOMAS LUCKMANN
TRẦN HỮU QUANG[*] 

Tóm tắt: Hiện tượng học là môn triết học nghiên cứu về các bản chất, nhưng nó đặt các bản chất vào trở lại trong sự hiện hữu. Đối với khoa học xã hội, A. Schütz đã công nối kết lối tiếp cận hiện tượng học của E. Husserl với lối tiếp cận xã hội học thông hiểu của Max Weber, ông cho rằng các ngành khoa học xã hội cần coi lối tiếp cận hiện tượng học như một tiền đề nền tảng cho các công cuộc nghiên cứu của mình. Công trình xã hội học nổi tiếng của P. Berger và T. Luckmann, cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại, là một nỗ lực đi theo hướng này.

Hiện tượng học là một trào lưu triết học ra đời vào đầu thế kỷ 20 với Edmund Husserl. Chống lại quan điểm thực chứng, hiện tượng học là một dự án khoa học giúp nhà nghiên cứu mô tả được một cách căn bản những hiện tượng vốn tự trình hiện ra trước ý thức của con người, mục tiêu của nó là đi đến chỗ hiểu được bản chất của các hiện tượng “bản chất” ở đây không phải là những phẩm chất bí ẩn nằm trong các “hiện tượng”, mà là hình thái ý thể (ideal form, tức là ý niệm nằm trong đầu con người) về cái đang hiện diện trong đời sống hiện thực (Macey, 2001: 298; Akoun, Ansart, 1999: 397). Đây là một phương pháp nhằm khảo cứu một cách có hệ thống về ý thức. Theo Husserl, kinh nghiệm của con người chúng ta về thế giới được cấu tạo trong ý thứcbởi ý thức. Để truy nguyên tiến trình cấu tạo này, chúng ta phải gác lại tất cả những gì chúng ta biết về thế giới, và đặt ra câu hỏi là kiến thức nảy sinh như thế nào, hay bằng những tiến trình nào (Scott, Marshall, 2009: 562).
Trong bài này, vì có liên quan tới triết học hiện tượng học nên trước hết chúng tôi sẽ trình bầy khái lược về tư tưởng hiện tượng học phương pháp qui giản hiện tượng học của Husserl, sau đó là quan niệm của Alfred Schütz về việc áp dụng phương pháp hiện tượng học vào các ngành khoa học xã hội, đặc biệt là ngành xã hội học, cuối cùng là lối tiếp cận hiện tượng học của công trình nổi tiếng của Peter Berger và Thomas Luckmann cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại (1966).

Hiện tượng học của Edmund Husserl

Edmund Husserl (1859-1938)
Trần Đức Thảo (1917-1993)
Tư tưởng hiện tượng học của nhà triết học người Đức Edmund Husserl (1859-1938) sẽ được chúng tôi trình bầy chủ yếu thông qua cách diễn giải của nhà triết học xã hội học người Áo Alfred Schütz (1899-1959) nhà triết học người Việt Trần Đức Thảo (1917-1993).
Theo Schütz, mục tiêu nghiên cứu của Husserl là tìm ra “những tiền đề mặc định mà mọi ngành khoa học về thế giới các sự vật tự nhiên và xã hội, kể cả triết học, đều dựa trên đó”. Vẫn theo lời Schütz, Husserl xác tín rằng “không có ngành khoa học được gọi là nghiêm ngặt nào, vốn sử dụng ngôn ngữ toán học một cách có hiệu quả, có thể dẫn đến được sự thông hiểu về các kinh nghiệm của chúng ta về thế giới”, bởi lẽ “mọi ngành khoa học thực nghiệm đều coi thế giới là đã có sẵn đó [pre-given]; nhưng chính chúng và các công cụ của chúng lại là những yếu tố của thế giới này”. Vì thế, chỉ khi nào có được một sự “hoài nghi triết học” đối với những tiền đề mặc định của mọi tư duy của chúng ta, kể cả tư duy khoa học lẫn phi khoa học, thì lúc ấy mới có thể bảo đảm được một sự “chính xác” không chỉ của nỗ lực tư duy triết học mà của cả mọi ngành khoa học có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới các kinh nghiệm của con người chúng ta về thế giới (Schütz, 1945: 100-101).
René Descartes (1596-1650)
Triết gia người Pháp René Descartes (1596-1650) đã công đặt nền móng cho thái độ hoài nghi khoa học với câu nổi tiếngcogito, ergo sum”, “tôi suy tưởng, vậy là có tôi”, nhằm đạt đến sự chắc chắn bất khả hoài nghi để làm nền tảng cho mọi tư duy của chúng ta. Nhưng Husserl cho rằng lối phân tích của Descartes chưa đủ triệt để, bởi vì, theo lời diễn giải của Trần Đức Thảo,Descartes vẫn còn dừng lại ở bình diện hữu thể” (plan de l’être), sự đối lập giữa cái đáng ngờ với cái chắc chắn [vẫn còn] nằm trong sự hồn nhiên thuộc về thái độ tự nhiên”.[1] Lối lập luận của Descartes chưa vượt qua bình diện thái độ tự nhiên “cái tôi suy tưởng” (cogito) của ông không đi đến sự hiện hữu siêu nghiệm, nhưng lại rơi trở lại vào sự hiện hữu tự nhiên: sum res cogitans cái tôi chỉ hiện hữu (sum) như một sự vật biết suy tưởng (res cogitans), tức là vẫn còn nằm trong trật tự của những sự vật “tự nó”, chứ không phải là một cái tôi hiện hữu “đối với tôi(Trần Đức Thảo, 1951: 59-60).
Theo Husserl, điểm yếu của Descartes là không xuất phát từ những khó khăn của lý thuyết về nhận thức”, không đặt ra câu hỏi “làm thế nào cái tự nó [en soi] có thể trở thành cái đối với tôi [pour moi]?” (Trần Đức Thảo, 1951: 59-60). Xuất phát từ vấn đề nhận thức này, Husserl muốn đẩy đến cùng phương pháp hoài nghi triết học của Descartes. “Cái tôi suy tưởngcủa Husserl không còn bận tâm về sự đối lập trần thế giữa cái đáng ngờ với cái chắc chắn, không cố đạt đến một sự chắc chắn (trên bình diện trần thế), mà trái lại, nỗ lực tìm ra chính ý nghĩa của mọi sự chắc chắn. Theo Husserl, “cái tôi suy tưởng” có thể giúp chúng ta khám phá ra ý thức, không phải như một sự vật của thế giới tự nhiên, mà là ý thức về một cái gì đó, một ý thứcý hướng tính (intentionality). Đây là một lãnh vực tuyệt đối độc đáo, nằm ngoài mọi sự hiện hữu trần thế” (Trần Đức Thảo, 1951: 60-61).
Franz Brentano (1838-1917)
Husserl đã kế thừa tư tưởng về “ý hướng tính” từ người thầy của mình là nhà triết học và tâm lý học người Đức Franz Brentano (1838-1917). Brentano cho rằng bất cứ kinh nghiệm nào chúng ta nghĩ tới trong dòng suy nghĩ của mình đều luôn luôn qui về một đối vật đã được trải nghiệm. Theo cách diễn giải của Schütz,mọi tư duy đều là tư duy về, mọi nỗi sợ hãi đều là nỗi sợ hãi trước, mọi hồi ức đều là hồi ức về, đối vật được tư duy, bị sợ hãi, được hồi ức”. Tính chất có-ý-hướng của ý thức chính là điểm mà Husserl nhấn mạnh để làm cho “cái tôi suy tưởng” có thể vượt qua được tình trạng nội tại tính tự nhiên của cái ego (cái tôi) của Descartes (Schütz, 1945: 103).
Trần Đức Thảo kể lại rằng thực ra ngay từ năm 1898, Husserl đã khám phá ra “sự giao hỗ phổ quát” (corrélation universelle) giữa chủ thể với khách thể một khám phá đầy chấn động khiến ông “bị lay chuyển”. “Giao hỗ phổ quát” có nghĩa là chủ thể và khách thể không tách rời nhau; nhưng đây không phải là mối liên hệ giữa hai thực thể tồn tại biệt lập nhau, mà là “một mối liên hệ mang tính bản chất, vốn được qui định bởi những định luật tiên thiên mà nếu không có chúng thì [chúng ta] không thể hình dung được cả ý thức lẫn thế giới”. Vẫn theo lời Trần Đức Thảo, “giả thuyết về một cái tự nó cũng phi lý y như giả thuyết về một ý thức không tri giác ngay chính thế giới(Trần Đức Thảo, 1951: 40-41).
Husserl cho rằng có sự giao hỗ tiên nghiệm giữa ý thức với khách thể tính (objectivity), hay nói chính xác hơn, giữa noema với noesis, giữa đối vật được-hướng-đến (intended object) với hành vi hướng-đến-đối-vật (intending act). Một đối vật được-tri-giác (perceived object) luôn luôn tự trình hiện ra dưới một sắc thái đặc thù trước người tri giác (perceiver) (Moran, Cohen, 2012: 74). Theo Husserl, nếu thái độ tự nhiên nhìn một cách hồn nhiên về đối vật như cái gì đơn giản tự nó tồn tại, thì phương pháp qui giản hiện tượng học có thể giúp chúng ta vượt qua thái độ hồn nhiên ấy, để hiểu rằng đối vật là cái có mối liên hệ giao hỗ với một phương thức lãnh hội đặc thù của ý thức con người (Moran, Cohen, 2012: 75).
Khi nói đến tính chất có-ý-hướng của những suy nghĩ của chúng ta, người ta có thể phân biệt rõ rệt giữa hành vi tư duy, sợ hãi, hồi ức, với những đối vật được tư duy, bị sợ hãi, được hồi ức. Nói cách khác, người ta có thể nhận diện ra một cái tôi đang suy nghĩ về thế giới. Trần Đức Thảo giải thích như sau: “Mọi ý thức đều ý thức về một cái gì đó, nhưng ý thức về đối vật, xét tự nó, luôn luôn là, và đã là, ý thức về chính mình: chính điều này mới xác định nó đúng là ý thức(Trần Đức Thảo, 1951: 72). Đây chính là điểm khởi sự của phương pháp hiện tượng học: nhằm mục tiêu đưa ra ánh sáng lãnh vực thuần túy của ý thức, hay chủ thể tính siêu nghiệm.
Ntriết học người Pháp Maurice Merleau-Ponty (1908-1961) đã mô tả hiện tượng học của Husserl một cách cô đọng như sau: “Hiện tượng học, đó là môn nghiên cứu về các bản chất (...). Nhưng hiện tượng học, đó cũng là một môn triết học đặt các bản chất vào trở lại trong sự hiện hữu, và nó cho rằng chúng ta không thể hiểu được con người và thế giới nếu không khởi sự từ ‘kiện tính’ [facticité] của chúng. Như vậy, nó là một môn triết học về một thế giới luôn luôn ‘đã có sẵn đó’ [déjà-là], có trước mọi sự phản tư, một thế giới mà chúng ta cần tìm lại trong sự hồn nhiên của sự tiếp xúc tiền phán đoán ấy[2], xét như một thế giới đời sống chúng ta sẽ mô tả kinh nghiệm [về thế giới này] đúng y như nó tự trình hiện, mà không hề viện đến những nguồn gốc sinh thành về mặt xã hội hay về mặt tâm lý, cũng không hề đưa ra bất cứ cách giải thích nhân quả nào.[3]

Phương pháp qui giản hiện tượng học

Husserl đã đề ra phương pháp mà ông gọi là êpôkhê hiện tượng học (êpôkhê là một từ Hy Lạp cổ, có nghĩa là “ngưng treo lại”, suspension), hay sự qui giản hiện tượng học siêu nghiệm.
Phương pháp này được tiến hành bằng cách “ngưng treo” một cách chủ ý và có hệ thống mọi sự phán đoán có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến sự tồn tại của thế giới bên ngoài. Vay mượn từ thuật ngữ toán học, ông nói đây là việc “đưa thế giới vào trong những dấu ngoặc đơn” (putting the world in brackets). Đây là một cách thức đẩy đến cùng thái độ hoài nghi triết học của Descartes, nhằm vượt qua “thái độ tự nhiên” của con người đang sống bên trong thế giới mà anh ta từng chấp nhận như chuyện đương nhiên (Schütz, 1945: 104).

Lấy một thí dụ hết sức giản lược mà Schütz đã nêu: tôi nhìn thấy cái ghế trước mặt tôi. Tri giác của tôi về cái ghế chứng thực cho niềm tin của tôi vào sự tồn tại của cái ghế đó là một thái độ tự nhiên. Nhưng bây giờ tôi tiến hành việc qui giản siêu nghiệm: tôi kìm lại niềm tin của tôi về sự tồn tại của cái ghế (tức là đưa niềm tin này vào trong dấu ngoặc đơn); như vậy, cái ghế mà tôi tri giác vẫn còn nằm ngoài dấu ngoặc đơn, nhưng điều không thể nghi ngờ là sự tri giác của tôi về cái ghế là một yếu tố nằm trong tâm trí của tôi. Nói khác đi, tôi không còn quan tâm là cái ghế ấy có thực sự là một đồ vật đang tồn tại trong ngoại giới hay không. Điều còn được giữ lại sau thao tác “qui giản” không phải là bản thân “cái ghế” vật thể hữu hình mà tôi nhìn thấy, mà là đối vật mà sự tri giác của tôi có ý hướng nhắm đến, đó là “cái ghế như tôi đã thấy”, đó là hiện tượngcái ghế như nó xuất hiện trước mắt tôi”. Như vậy, toàn bộ thế giới bên ngoài vẫn được bảo tồn nguyên vẹn trong phạm vi đã được qui giản, nhưng các đối vật nằm trong ý hướng tính của tôi (intentional objects) không còn là những đồ vật (things) với tư cách là những đồ vật tồn tại trong thế giới bên ngoài, mà là những hiện tượng (phenomena) xét như là những cái xuất hiện trước mắt tôi (Schütz, 1945: 106). Theo Husserl, thao tác qui giản giúp chúng ta đi tới được “hiện tượng thuần túy”, khác về căn bản so với “hiện tượng tâm lý(Trần Đức Thảo, 1951: 54).[4]
Khi áp dụng phương pháp hiện tượng học, những cái mà chúng ta cần đưa vào dấu ngoặc đơn không chỉ là sự tồn tại của ngoại giới, mà kể cả niềm tin của chúng ta vào sự hiệu lực của các nhận định của chúng ta về thế giới ấy, tức là bao gồm không chỉ kiến thức thông thường của chúng ta về thế giới, mà cả các mệnh đề của tất cả các ngành khoa học có liên quan đến thế giới, cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội. Và ngay cả tôi, với tư cách là một đơn vị tâm sinh lý của thế giới này, cũng cần được đưa vào dấu ngoặc đơn (Schütz, 1945: 105).
Schütz giải thích như sau: “Cái còn lại sau khi tiến hành việc qui giản siêu nghiệm ấy không là gì khác hơn là một vũ trụ của đời sống ý thức của chúng ta, dòng suy nghĩ trong sự trọn vẹn của nó, với tất cả các hoạt động của nó và với tất cả những sự suy tưởng và những kinh nghiệm của nó”. Ở đây, cần nhắc lại rằng mọi sự suy nghĩ của chúng ta đều luôn luôn là suy nghĩ về những điều gì đó. Vì thế, đến lúc này, nhờ sự qui giản, “ý hướng tính của sự suy nghĩ của chúng ta trở nên thuần khiết và hữu hình”. Vì đã vượt ra khỏi thái độ tự nhiên, nên bây giờ chúng ta có thể yên tâm khảo sát lãnh vực thuần túy của đời sống ý thức mà mọi niềm tin của chúng ta trong thế giới thông thường đều đặt nền tảng trên đó (Schütz, 1945: 105-106).
Trong vũ trụ chủ thể tính siêu nghiệm ấy (tức đã được qui giản), trên nguyên tắc, tôi có thể truy tìm về lịch sử trầm tích (sedimentation) của mọi kinh nghiệm mà tôi tìm thấy trong đời sống ý thức, và nhờ đó tôi có thể trở về “kinh nghiệm nguyên thủy” (originary experience) của thế giới-đời sống.[5] Nhưng thế giới-đời sống này không phải là một thế giới riêng tư của tôi, mà bao gồm cả tha nhân, những người cũng có chủ thể tính của họ. Do đó, cái thế giới-đời sống ý thức thuần túy mà tôi trải nghiệm (sau khi qui giản) chính là một thế giới liên chủ thể, và điều này có nghĩa đây là một thế giới mà ai cũng có thể tiếp cận được (Schütz, 1940: 123).
Sau quá trình phân tích, chúng ta có thể đi từ lãnh vực đã được qui giản tiên nghiệm để trở lại với lãnh vực trần thế, nhằm kiểm tra lại coi những khám phá của chúng ta trong lãnh vực đã được qui giản ấy có đứng vững hay không trong thế giới đời sống trần thế (Schütz, 1945: 104).

Quan niệm của Alfred Schütz

Alfred Schütz (1899-1959)
Thực ra, Husserl chỉ nghiên cứu phương pháp hiện tượng học trên bình diện triết học, chứ không trực tiếp bàn về những hệ luận cụ thể của phương pháp này đối với các ngành khoa học xã hội. A. Schütz người đầu tiên khai triển những ý tưởng nhằm đưa phương pháp hiện tượng học của Husserl vào nhãn quan nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội (Schütz, 1940: 133-134), nhất là qua công trình Sự kiến tạo ý nghĩa của thế giới xã hội (1932).[6] Theo Schütz, do các ngành khoa học xã hội đều liên quan về nguyên tắc tới các hiện tượng liên chủ thể của đời sống trần thế (Schütz, 1940: 132), nên các ngành này cần đặt nền tảng tư duy của mình, không phải trên môn “hiện tượng học siêu nghiệm” của Husserl, mà là dựa trên “môn hiện tượng học cấu tạo [constitutive phenomenology] về thái độ tự nhiên” (Schütz, 1959: 149). Quan niệm này của Schütz không khác so với Husserl về lối tiếp cận, mà chỉ khác về cấp độ phân tích.
Theo Schütz, đóng góp quan trọng của Husserl cho các ngành khoa học xã hội chính là nằm trong “sự phong phú của những sự phân tích của ông liên quan đến những vấn đề của Lebenswelt [thế giới-đời sống], nhằm đi đến chỗ khai triển một môn nhân học triết học(Schütz, 1959: 149).
Đối với Schütz, mối quan hệ giữa nhà khoa học xã hội với đối tượng của mình hoàn toàn không giống như mối quan hệ giữa nhà khoa học tự nhiên với đối tượng của ông ta (Schütz, 1954: 65), vì thế giới xã hội là thế giới đã được lý giải bởi những con người bình thường, các sự kiện của thế giới ấy cần được lý giải bởi các nhà khoa học xã hội. Chính vì thế mà Schütz cho rằng đặc trưng này của thực tại xã hội đặt ra cho nhà khoa học xã hội vấn đề quan trọng nhất của mình: đó là làm sao kiến tạo được những cách giải thích khách quan về một thực tại chủ quan.
Max Weber (1864-1920)

Trong cuốn sách vừa nêu trên, Schütz nhấn mạnh rằng công lao lớn nhất của nhà xã hội học Đức Max Weber (1864-1920) chính là lời tiếp cận “xã hội học thông hiểu” (verstehende Soziologie) của ông, vì nó đã đề xướng những nguyên tắc của một phương pháp mục tiêu là giải thích mọi hiện tượng xã hội xét trong mối liên hệ với ý nghĩa của hành động. Tuy nhiên, Schütz cho rằng lối tiếp cận của Weber tuy hết sức xác đáng nhưng những khái niệm như “ý nghĩa” (Sinn) hay sự “thông hiểu” (Verstehen) của Weber còn khá mơ hồ.
Trong công trình Kinh tế và xã hội (1922), Weber định nghĩa xã hội học là “một môn khoa học tìm cách thông hiểu bằng cách lý giải [deutend verstehen] hành động xã hội nhằm nhờ đó đi đến chỗ giải thích về mặt nhân quả sự diễn tiến của hành động này và các tác động của nó” (Weber, 1964: 88). Weber coi sự “thông hiểu” như một thao tác mang tính chất chủ quan, bởi lẽ mục tiêu của nó là tìm cách hiểu được ý nghĩa của hành động. Nhưng chính vì thế mà không ít tác giả xã hội học đã phê phán là phương pháp của Weber mang nặng tính chất chủ quan, bởi lẽ nó không phân biệt rạch ròi giữa ý nghĩa mà tác nhân nhắm đến khi hành động, với ý nghĩa của hành động này mà một nhà quan sát ở bên ngoài có thể gán cho.

Vì thế, Schütz cho rằng cần đặt lại nền tảng cho lối tiếp cận “xã hội học thông hiểu” của Weber trên cơ sở của phương pháp hiện tượng học của Husserl. Schütz cho rằng để truy tìm ra nguồn gốc của ý nghĩa của hành động, chúng ta cần trở về với “dòng chảy của ý thức” (Walsh, 1967: xxiii). Schütz viết: “Ở đấy chỉ ở đấy, trong tầng sâu nhất của kinh nghiệm mà sự phản tư có thể với tới, [chúng ta] mới có thể tìm ra được nguồn gốc tối hậu của hiện tượng ‘ý nghĩa’ (Sinn) hiện tượng ‘thông hiểu’ (Verstehen)(Schütz, 1967: 12). G. Walsh diễn giải ý tưởng của Schütz như sau: khi các kinh nghiệm đang diễn ra, chúng không xuất hiện trước chúng ta như những thực thể biệt lập rõ rệt; nhưng khi chúng lùi vào quá khứ, tức khi chúng đã “trôi qua”, chúng ta mới có thể quay lại nhìn chúng ở một góc độ khác, mới nghĩ về chúng, phản tư về chúng, nhận diện chúng. Một khi kinh nghiệm đã được nắm bắt dưới “chùm ánh sáng” phát ra từ cái tôi, lúc ấy nó mới được tách ra khỏi dòng chảy thời gian trở thành một thực thể riêng biệt một cách sáng sủa và rõ rệt. Chính vào lúc ấy và nhờ vào hành động hướng-về ấy (turning-toward, Zuwendung) mà kinh nghiệm mới đạt được ý nghĩa. Có thể ví quá trình gán ý nghĩa này giống như việc đưa một mẫu sinh vật ép vào hai miếng kính mỏng để đưa vào quan sát dưới kính hiển vi. Nếu mẫu sinh vật này mất đi sự sống vì bị ép vào giữa hai miếng kính, thì trong hành động hướng-về vừa nêu trên, kinh nghiệm cũng mất đi phần nào tính chất cụ thể và sống động của(Walsh, 1967: xxiii-xxiv).
Phần lớn các kinh nghiệm của chúng ta đều có thể được gán ý nghĩa bằng cách hồi cố (in retrospect). Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể gán ý nghĩa cho những kinh nghiệm tương lai bằng cách dự kiến (prospectively). Theo Schütz, hành động (action, tiếng Đức là Handeln) là ứng xử nhằm đạt được một mục tiêu đã-định trong tương lai. Nhưng điều được coi là đã-định này tất yếu phải một yếu tố của quá khứ. Do vậy, mục tiêu của hành động phải một yếu tố của tương lai một yếu tố của quá khứ. Schütz đã mượn một thuật ngữ của môn ngữ pháp để nói về điều này: chúng ta thường hình dung mục tiêu của hành động “ở thì tương lai hoàn thành” (future perfect tense). Nghĩa là mục tiêu được hình dung là sẽ đạt được, cho dù nó còn đang ở dạng dự kiến. Lấy một thí dụ: ta đi ra khỏi nhà để đến thăm một người bạn; chuyến thăm này được hình dung là sẽ hoàn tất, cho dù ta còn đang đi trên đường đến nhà người bạn. Chuyến thăm được-hình-dung này được Schütz gọi là “hành vi” (act, Handlung) (Walsh, 1967: xxiv).
Schütz phân biệt giữa hành động đang-diễn-ra (action, Handeln) với hành vi ở-thì-tương-lai-hoàn-thành (act, Handlung), ông gọi hành vi này là “dự phóng” (project, Entwurf) của hành động. Như vậy, dự phóng này chính là một “phức hợp ý nghĩa” hay một “khung ý nghĩa” (context of meaning, Sinnzusammenhang) mà trong đó bất cứ giai đoạn nào của hành động đang-diễn-ra cũng thấy được ý nghĩa của mình (Walsh, 1967: xxiv).
Schütz còn phân biệt giữa “động cơ nhắm-đến” (in-order-to motive, Um-zu-Motiv) với “động cơ bởi-vì” (because-motive, Weil-Motiv). Nếu động cơ nhắm-đến là loại động cơ hướng đến “thì tương lai hoàn thành”, thì động cơ bởi-vì là loại động cơ xuất phát từ “thì quá khứ hoàn thành” (pluperfect tense). Lấy thí dụ: nếu tôi mở chiếc dù ra khi trời bắt đầu đổ mưa, thì “động cơ bởi-vì là do kiến thức của tôi mách bảo rằng mưa sẽ làm ướt quần áo; còn “động cơ nhắm-đến” là để giữ cho mình được khô ráo. Theo G. Walsh, sự phân biệt hai loại động cơ này của Schütz đặc biệt đáng chú ý vì nó có thể đem lại lời giải cho cuộc tranh luận trong giới khoa học xã hội liên quan tới vấn đề tất định luận vấn đề tự do ý chí khi đề cập tới bản chất của hành động con người (Walsh, 1967: xxiv-xxv).
Nếu Weber quan niệm rằng thế giới xã hội chỉ có thể được hiểu một cách đúng đắn khi dựa trên khái niệm “hành động xã hội”, thì dưới quan điểm hiện tượng học về thế giới xã hội, Schütz đi xa hơn bằng cách định nghĩa “hành động xã hội” là một hành động mà động cơ nhắm-đến bao hàm một sự qui chiếu nào đó đến dòng chảy ý thức của người khác. Độngcủa hành động có thể chỉ đơn thuần là quan sát người khác, hoặc hiểu người khác, hoặc cũng có thể là tác động đến người khác. Trong trường hợp có sự tương giao lẫn nhau giữa các hành động xã hội, thì đấy chính là quan hệ xã hội. Theo Schütz, ba loại quan hệ xã hội cơ bản: (a) loại quan hệ mà trong đó hai người chỉ quan sát lẫn nhau; (b) loại quan hệ mà trong đó người thứ nhất tác động đến người thứ hai trong khi người này chỉ quan sát người thứ nhất; (c) loại quan hệ mà trong đó cả hai người đều tác động lẫn nhau. Tuy nhiên, còn thêm một trường hợp thứ tư, trong đó người này quan sát người kia mà không hề tìm cách tác động vào người kia, và người kia hoàn toàn không biết gì về người thứ nhất (Walsh, 1967: xxvi-xxvii).
Từ sự phân loại trên, Schütz cho rằng trong thế giới xã hội rộng lớn vốn bao gồm rất nhiều chiều kích phức tạp, hai loại thực tại xã hội: loại mà ta trải nghiệm trực tiếp, và loại nằm bên ngoài đường chân trời của kinh nghiệm trực tiếp. Thực tại xã hội mà ta trải nghiệm trực tiếp (Schütz gọi là Umwelt) bao gồm “những người đồng sự” (consociates) mà tôi trực tiếp tiếp xúc tương giao trong đời sống thường nhật. Những người mà tôi không tiếp xúc trực tiếp bao gồm ba loại. Trước hết là thế giới những người chỉ sống cùng thời với tôi mà thôi (contemporaries), tức tôi không trực tiếp gặp họ (Schütz gọi là Mitwelt), sau đó là thế giới các tiền nhân của tôi (Vorwelt), cuối cùng là thế giới những người hậu thế của tôi (Folgewelt). “Những người cùng thời” khác với hai loại còn lại ở chỗ trên nguyên tắc họ có thể trở thành “những người đồng sự” của tôi (Walsh, 1967: xxvii).
Trong thế giới thực tại xã hội mà tôi trải nghiệm trực tiếp, tôi vừa có thể quan sát “những người đồng sự”, vừa có những mối tương giao trực tiếp với họ. Thế nhưng kiến thức của tôi về những người cùng thời, những tiền nhân những người hậu thế đều chỉ mang tính chất gián tiếp. Đối với “những người cùng thời”, do không tiếp xúc trực diện nên chúng ta chỉ có thể hiểu họ từ xa, bằng cách suy diễn, chúng ta thường xếp họ vào một kiểu/điển hình (type) nào đó. Khi lý giải ứng xử của “những người cùng thời”, chúng ta thường qui về những “điển hình ý thể” (ideal types) hoặc là điển hình hành động, hoặc là điển hình con người. Như vậy, theo Schütz (về điểm này, ông quan niệm hoàn toàn khác so với Weber), việc sử dụng các điển hình ý thể không diễn ra khi chúng ta chuyển từ sự quan sát tiền khoa học sang sự quan sát khoa học, mà diễn ra ngay khi chúng ta chuyển từ kinh nghiệm xã hội trực tiếp sang kinh nghiệm xã hội gián tiếp (Walsh, 1967: xxviii).
Cuối cùng chúng ta đi đến câu hỏi mấu chốt: vậy thì khoa học xã hội là gì? Schütz đưa ra câu trả lời như sau: khoa học xã hội là một khung ý nghĩa khách quan được xây dựng từ, qui chiếu về, những khung ý nghĩa chủ quan (Schütz, 1967: 223-224). công cụ nền tảng của khoa học xã hội, đúng như Weber đã đề xướng, chính là điển hình ý thể. Mặc dù điển hình ý thể đã có mặt trong mọi trường hợp thông hiểu gián tiếp về tha nhân trong đời sống thường nhật, nhưng theo Schütz, nó có một chức năng đặc biệt quan trọng trong các ngành khoa học xã hội (Walsh, 1967: xxviii-xxix).
Schütz đã đề ra nguyên tắcông cho quan trọng nhất đối với một nhà nghiên cứu khoa học xã hội. Mặc dù nhà nghiên cứu ý thức rằng mình phải xác lập thái độ của một người quan sát vô tư đối với thế giới-đời sống, nhưng anh ta khó lòng mà rời bỏ hoàn toàn sự quan tâm và lợi ích thực tiễn của mình trong thế giới-đời sống này, và vì thế anh ta vẫn là trung tâm, vẫn còn đứng ở “điểm số không” (null point). “Việc thay đổi đầu óc của mình để quan sát thế giới-đời sống này một cách khoa học đòi hỏi [nhà nghiên cứu] phải dứt khoát không còn đặt bản thân mình và hoàn cảnh lợi ích của mình ở vị trí trung tâm của thế giới này nữa, mà phải lấy một điểm số không khác để định hướng [việc khảo sát] các hiện tượng của thế giới-đời sống. Điểm số không này nằm ở đâu, và làm sao để cấu tạo nó thành một điển hình (con người kinh tế, chủ thể pháp lý, v.v.) tùy thuộc vào hoàn cảnh-vấn đề cá biệt mà nhà khoa học đã chọn(Schütz, 1940: 137). Schütz giải thích thêm như sau: “Chẳng hạn, nhà khoa học xã hội không khảo sát hành động cụ thể (Handeln) của con người, như anh tôi mọi người trong đời sống thường nhật của chúng ta, với tất cả những sự hy vọng sự sợ hãi, sự sai lầm và sự thù ghét, những niềm hạnh phúc những nỗi khổ đau của chúng ta. Anh ta chỉ phân tích một số tập hợp hành vi nhất định (Handlungsabläufe) như những điển hình [types], với những mối liên hệ phương tiện-mục đích của chúng những chuỗi độngcủa chúng; anh ta xây dựng (hiển nhiên là theo những định luật cấu trúc nhất định) những điển hình nhân cách ý thể thích đáng [pertinent ideal personality types] dựa vào đó anh ta sẽ xếp loại bộ phận của thế giới xã hội mà anh ta đã chọn làm khách thể nghiên cứu khoa học của mình(Schütz, 1940: 138).
Theo Schütz, nếu kiến thức theo lý lẽ thông thường của con người trong đời sống thường nhật là những “công trình kiến tạo ở cấp độ thứ nhất”, thì nhà khoa học xã hội cần phải dựa trên đấy để dựng lên những “công trình kiến tạo ở cấp độ thứ hai”, tức là những khái niệm những hệ thống lý thuyết được dùng để lý giải các kiến thức của người bình thường. “Những công trình kiến tạo về những công trình kiến tạo” này (constructs of the constructs) tức là những công trình kiến tạo khoa học chính là “những công trình kiến tạo mang tính chất điển hình ý thể khách quan” (objective ideal typical constructs), và phải được tiến hành theo những qui tắc thủ tục khoa học giống như bất cứ ngành khoa học thường nghiệm nào. Và để làm được như vậy, theo Schütz, cách tốt nhất phải đi theo phương pháp hiện tượng học (Schütz, 1954: 62-66).
Chính vì thế mà chúng ta có thể coi công trình của Schütz như một nỗ lực xây dựng cây cầu nối giữa hiện tượng học của Husserl với xã hội học của Weber, và mở ra một lối tiếp cận nghiên cứu xã hội học theo hướng hiện tượng học.

Xã hội học hiện tượng học của P. Berger và T. Luckmann

Peter Berger (1929-)
Thomas Luckmann (1927-2016)
Vào năm 1966, hai nhà xã hội học Mỹ gốc Áo là Peter Berger (1929-) và Thomas Luckmann (1927- 2016) đã xuất bản cuốn xã hội học nổi tiếngSự kiến tạo xã hội về thực tại.[7] Cả hai đều cùng dạy tại trường đại học New School for Social Research ở New York, cùng chịu ảnh hưởng của xu hướng hiện tượng học của A. Schütz (bản thân Luckmann từng là học trò của Schütz), đều cảm thấy thất vọng trước tình hình các lý thuyết xã hội ở Mỹ trong thập niên 1960, nhất là trước sự thống trị của lý thuyết chức năng luận cấu trúc của nhà xã hội học Mỹ Talcott Parsons (1902-1979). Trong công trình vừa nêu, hai tác giả đã sử dụng phương pháp hiện tượng học theo đường hướng của A. Schütz để phân tích tiến trình kiến tạo thực tại đời sống xã hội, nhằm thiết lập những nền tảng của bộ môn xã hội học về nhận thức bộ môn mà hai tác giả coi là quan trọng nhất trong lãnh vực xã hội học.
Talcott Parsons (1902-1979)

Cuốn sách này bao gồm các phần sau đây: nhập đề (vấn đề của môn xã hội học nhận thức), phần 1 (những nền tảng của sự nhận thức trong đời sống thường nhật), phần 2 (xã hội xét như là thực tại khách quan, trong đó bao gồm mục định chế hóa mục chính đáng hóa), phần 3 (xã hội xét như là thực tại chủ quan, trong đó bao gồm những mục như nội tâm hóa, xã hội hóa, sự hình thành của căn cước [identity]), phần kết luận (xã hội học nhận thức và lý thuyết xã hội học) (xem thêm Trần Hữu Quang, 2015).
Berger và Luckmann đã giải thích diễn trình của cuốn sách như sau: phần 1 là phầndẫn luận triết học vào luận đề cốt tủycủa công trình này “dưới dạng một sự phân tích hiện tượng học về thực tại của đời sống thường nhật”, trong đó “một số vấn đề sẽ được xem xét trong các dấu ngoặc đơn hiện tượng học”. Sau đó, những vấn đề ấy “sẽ được đề cập trở lại ở phần 2 bằng cách loại bỏ những dấu ngoặc đơn ấy và chú tâm tới nguồn gốc sinh thành thường nghiệm của chúng”, và cuối cùng “lại tiếp tục được đề cập một lần nữa ở phần 3 trên bình diện ý thức chủ quan”. Phần 2 trình bầy quan niệm của hai tác giả về bộ môn xã hội học nhận thức; còn phần 3 thì “ứng dụng quan niệm này vào bình diện ý thức chủ quan, và từ đó xây dựng một chiếc cầu lý thuyết nối đến các vấn đề của ngành tâm lý học xã hội” (Berger, Luckmann, 1971: 7-8).
Như vậy, trước khi bước vào phần trình bầy những luận điểm then chốt của cuốn sách ở phần 2 và phần 3, hai tác giả đã áp dụng phương pháp hiện tượng học ở phần 1 mà hai ông gọi là “một phương pháp thuần túy mô tả”, nhằm đi tìm “những nền tảng của kiến thức trong đời sống thường nhật”. Theo hai ông, phương pháp này “mang tính chất ‘thường nghiệm’ chứ không mang tính chất ‘khoa học’ – như chúng ta thường hiểu về bản chất của các ngành khoa học thực nghiệm(Berger, Luckmann, 1971: 34). Nội dung phần 1 thực ra chưa phải là việc phân tích xã hội học thực thụ, mà chỉ mang tính chấttiền xã hội học, vì đây là phần dẫn luận triết họcđể chuẩn bị những tiền đề nền tảng cần thiết cho việc phân tích xã hội học về sau. Đây chính phần mà hai tác giả nói mình chịu ảnh hưởng mạnh bởi tư tưởng của A. Schütz.
Danilo Martuccelli (1964-)
Trong phần 1, ở mục 1, hai tác giả mô tả hiện tượng học về đời sống thường nhật, bằng cách phân tích các kinh nghiệm chủ quan của người bình thường trong đời sống thường nhật, cách thức mà ý thức con người lãnh hội thực tại của đời sống thường nhật trong bối cảnh của một thế giới liên chủ thể. Sau đó, mục 2, hai tác giả cho thấy chính là trong cấu trúc của ý thức con người mà chúng ta nhận diện ra được bốn chiều kích của thực tại xã hội (Martuccelli, 2012: 23-24): kinh nghiệm trực tiếp về tha nhân trong tình huống gặp gỡ trực diện (giáp mặt) với “những người đồng sự”; kinh nghiệm gián tiếp với “những người cùng thời”, nhất thông qua sự điển hình hóa” khi nhìn về tha nhân; xét về mặt thời gian, kinh nghiệm về tha nhân trong thế giới “các tiền nhân trong thế giới “những người hậu thế”. Và cuối cùng, mục 3 mô tả ngôn ngữ xét như hệ thống tín hiệu quan trọng nhất của xã hội loài người, vì một phương tiện khách thể hóa giúp con người hình thành nên “kho kiến thức” chung trong đời sống xã hội.
Berger và Luckmann nhấn mạnh rằng khi phân tích hiện tượng học, điều quan trọng luôn luôn cần lưu tâm tránh đưa ra bất cứ giả thuyết nhân quả hay giả thuyết sinh thành nào, cũng như tránh những lời khẳng định về vị thế bản thể luận [ontological status] của các hiện tượng được phân tích” (Berger, Luckmann, 1971: 34). Theo hai tác giả, nhà xã hội học không thẩm quyền để trả lời những câu hỏi liên quan tới bản thể luận nhận thức luận của các hiện tượng xã hội, vốn là những lãnh vực thuộc ngành triết học. Hai tác giả viết tiếp như sau: “Lý lẽ thông thường có vô số những cách diễn giải tiền-khoa-học hoặc -vẻ-như-khoa-học về thực tại thường nhật mà nó coi là điều đương nhiên. Nếu chúng ta phải mô tả thực tại hiểu theo lý lẽ thông thường, chúng ta buộc phải qui chiếu đến những cách lý giải ấy, cũng như chúng ta buộc phải xét đến tính chất được-coi-như-đương-nhiên của thực tại này – nhưng chúng ta sẽ m điều này bên trong những dấu ngoặc đơn hiện tượng học” (Berger, Luckmann, 1971: 34).
Cuốn sách này của Berger và Luckmann có thể được coi một công trình xã hội học hiện tượng học. Lối tiếp cận này một số nét tương đồng với trường phái tương tác biểu tượng (symbolic interactionism) trường phái phương pháp luận thường nhân (ethnomethodology), chẳng hạn cả ba lối tiếp cận này đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của các tác nhân trong các hoàn cảnh xã hội, đều chú trọng tới đời sống thường nhật, nhất là đều hết sức chú ý tới những ý nghĩa mà các tác nhân cùng chia sẻ trong việc duy trì đời sống xã hội. Tuy nhiên, lối tiếp cận xã hội học hiện tượng học của Berger và Luckmann khác biệt rõ rệt về nhiều mặt so với cả hai trường phái ấy (Martuccelli, 2012: 21).
Theo Martuccelli, phái tương tác biểu tượng chú trọng chiều kích liên chủ thể tính hơn là chiều kích chủ thể tính, và đây chính là điểm khác biệt căn bản so với lối tiếp cận xã hội học hiện tượng học của Berger và Luckmann. Phái tương tác biểu tượng ưu tiên chú ý tới thế giới xã hội để hiểu về kinh nghiệm của cá nhân, còn Berger và Luckmann thì chú tâm trước tiên tới thực tại chủ quan, mặc dù hai tác giả này cũng đã dựa khá nhiều vào một số ý tưởng của George H. Mead.
Còn trường phái phương pháp luận thường nhân tuy cũng đi theo hướng hiện tượng học (của chính Husserl hơn là của Schütz), nhưng đã khai triển nhiều kỹ thuật khảo sát thực nghiệm (như phân tích hội thoại, phân tích văn bản...), trong khi lối tiếp cận hiện tượng học của Berger và Luckmann thì chú trọng đến sự tư biện duy triết học nhiều hơn. Theo Martuccelli, các nhà phương pháp luận thường nhân thường tập trung vào những kết quả đã-được-khách-thể-hóa của chủ thể tính của con người (tức những gì có thể khảo sát một cách thực nghiệm), còn các nhà xã hội học hiện tượng học thì coi ý thức của con người mới là đối tượng nghiên cứu chính của mình (Martuccelli, 2012: 22-23).
Điểm độc đáo của lối tiếp cận hiện tượng học của Berger và Luckmann là mang một nhãn quan xã hội học vừa vi mô, vừa vĩ mô. Công trình phân tích của hai tác giả này chủ yếu xuất phát từ những nền tảng vận hành của ý thức, hơn là từ sức mạnh chi phối của các cấu trúc xã hội đối với hành động của cá nhân. Tuy vậy, họ vẫn “có công đề cập tới chiều kích cấu trúc và chiều kích xã hội học vĩ mô, nhưng họ làm điều này theo một ngả đường cá biệt – [đó là] thông qua một sự trở đi trở lại liên tục giữa những ý nghĩa mà mọi người cùng chia sẻ với những chiều kích đặc thù của ý thức con người” (Martuccelli, 2012: 24), nhằm từ đó lý giải sự sinh thành cũng như sự vận hành của các định chế xã hội nói riêng và thế giới xã hội nói chung.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, lối tiếp cận hiện tượng học của Husserl có vẻ như không thu hút sự quan tâm của giới xã hội học, và phải chờ đến Alfred Schütz thì người ta mới nhìn thấy hấp lực của lối tiếp cận này. Đối với ngành xã hội học, hiện tượng học là một cuộc “cách mạng” vì lối tiếp cận này trước hết mong muốn trở về với tầm quan trọng của đời sống thường nhật, đúng y như nó là, với tất cả những sức sống sôi sục tuôn trào của nó (Akoun, Ansart, 1999: 397).
Trong lãnh vực xã hội học, phương pháp hiện tượng học được áp dụng tương đối thịnh hành kể từ cuối thập niên 1960, khi mà nhiều lý thuyết xã hội học chính thống sau Thế chiến thứ hai đã bị hoài nghi và bác bỏ. Ảnh hưởng của hiện tượng học diễn ra rõ rệt nhất nơi công trình của Berger và Luckmann, cũng như nơi trường phái phương pháp luận thường nhân trường phái tương tác biểu tượng. Cho đến nay, người ta vẫn chưa thấy xuất hiện một trường phái hiện tượng học riêng biệt trong giới xã hội học trên thế giới (Scott, Marshall, 2009: 562). Tuy nhiên, lối tiếp cận hiện tượng học, nhất là theo nhãn quan của A. Schütz, vẫn không ngừng ghi lại dấu ấn trong nhiều công trình khoa học xã hội khác, chứ không chỉ riêng trong lãnh vực xã hội học.
Sài Gòn, ngày 29-7-2015
T.H.Q.

Tài liệu trích dẫn

Akoun, André et Pierre Ansart (Dir.). 1999. Dictionnaire de sociologie. Paris, Le Robert, Seuil.
Berger, Peter L., and Thomas Luckmann. 1971. The Social Construction of Reality. A Treatise in the Sociology of Knowledge (1966). Harmondsworth, Penguin Books.
Macey, David. 2001. The Penguin Dictionary of Critical Theory. (paperback) London, Penguin Books.
Martuccelli, Danilo. 2012. “Une sociologie phénoménologique quarante-cinq ans après”, in P. Berger et T. Luckmann. La construction sociale de la réalité. trad. Pierre Taminiaux. Paris, Armand Colin, 2012, pp. 3-36.
Moran, Dermot, and Joseph Cohen. 2012. The Husserl Dictionary. London, Bloomsbury Publishing, Continuum Books.
Schütz, Alfred. 1940. Phenomenology and the Social Sciences”, in Alfred Schütz, Collected Papers I, Martinus Nijhoff, 1962, pp. 118-139.
Schütz, Alfred. 1945. “Some Leading Concepts of Phenomenology”, in Alfred Schütz, Collected Papers I, Martinus Nijhoff, 1962, pp. 99-117.
Schütz, Alfred. 1954. “Concept and Theory Formation in the Social Sciences”, in Alfred Schütz, Collected Papers I, Martinus Nijhoff, 1962, pp. 48-66.
Schütz, Alfred. 1959. “Husserl’s Importance for the Social Sciences”, in Alfred Schütz, Collected Papers I, Martinus Nijhoff, 1962, pp. 140-149
Schütz, Alfred. 1962. Collected Papers I. The Problem of Social Reality. The Hague, Martinus Nijhoff.
Schütz, Alfred. 1967. The Phenomenology of the Social World (1932). trans. George Walsh and Frederick Lehnert, with an introduction by George Walsh. Evanston (Illinois), Northwestern University Press.
Scott, John, and Gordon Marshall (Eds.). 2009. A Dictionary of Sociology. 3rd edition revised, Oxford, Oxford University Press.
Trần Đức Thảo. 1951. Phénoménologie et matérialisme dialectique. Paris, Éd. Minh Tân.
Trần Hữu Quang. 2015. “Sự biện chứng của xã hội theo P. Berger và T. Luckmann và trào lưu kiến tạo luận xã hội”. Tạp chí Khoa học xã hội (TP. HCM), số 6 (202).
Walsh, George. 1967. “Introduction”, in Alfred Schütz, The Phenomenology of the Social World. Evanston (Illinois), Northwestern University Press, pp. xv-xxix.
Weber, Max. 1964. The Theory of Social and Economic Organization (1922). trans. A. M. Henderson and Talcott Parsons, edited with an introduction by Talcott Parsons, New York, The Free Press.




[*] PGS.TS, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam).

[1] Theo Husserl, thái độ tự nhiên (natural attitude) là thái độ bình thường của con người trong đời sống thường nhật, trước khi có bất cứ câu hỏi hoài nghi nào. Thái độ này coi thế giới như đã “có sẵn đó”, và hồn nhiên chấp nhận thế giới ấy như cái gì đương nhiên phải như vậy. Thái độ tự nhiên tương phản với thái độ hoài nghi, đặt lại vấn đề về sự hiện hữu của thế giới – một thái độ mà Husserl gọi là thái độ triết học. Thái độ tự nhiên có trước thái độ khoa học. Tuy nhiên, theo Husserl, mọi công cuộc khảo cứu khoa học, kể cả toán học và luận lý học, vẫn diễn ra trong khuôn khổ của thái độ tự nhiên, bởi lẽ các ngành khoa học ấy đều mặc nhiên thừa nhận sự hiện hữu của thế giới và của những đối tượng của ngành khoa học của mình (thí dụ: các con số). Husserl cho rằng chúng ta chỉ có thể vượt qua thái độ tự nhiên bằng phương pháp êpôkhê hiện tượng học để đạt tới “thái độ siêu nghiệm” (transcendental attitude) (xem Moran, Cohen, 2012: 216-218).

[2] “Tiền phán đoán”, tiếng Anh là prepredicative, tiếng Đức là vorprädikativ. Đây là một tính từ mà Husserl sử dụng để nói về giai đoạn kinh nghiệm mà người ta trải qua trước khi kinh nghiệm này được biểu hiện bằng sự phán đoán và được diễn đạt dưới hình thức ngôn ngữ, nghĩa là trước khi nó được ý thức một cách minh nhiên (xem Moran, Cohen, 2012: 258-259).

[3] Maurice Merleau-Ponty, Phénoménologie de la perception, Paris, Gallimard, 1945, dẫn lại theo A. Akoun, mục “Phénoménologie”, trong Akoun, Ansart, 1999: 397.

[4] Theo Trần Đức Thảo, tính từ “thuần túy” (pur) ở đây chỉ đơn giản có nghĩa là “phi trần thế” (non mondain), tức là được dùng để nói về cái gì đã được qui giản bởi phương pháp hiện tượng học (xem Trần Đức Thảo, 1951: 54).

[5] “Thế giới đời sống” (tiếng Anh life-world, tiếng Đức Lebenswelt), theo E. Husserl, là thế giới cụ thể của kinh nghiệm thường nhật, tức là thế giới của đời sống thường nhật (Alltagswelt), thế giới mà con người chúng ta trải nghiệm trong “thái độ tự nhiên”. Thế giới đời sống là thế giới mà chúng ta coi là “đã có sẵn đó”, “quen thuộc”, và đương nhiên phải như vậy (taken for granted). Theo Husserl, đây là thế giới bao gồm toàn bộ “thế giới xung quanh” (Umwelt), kể cả thế giới tự nhiên lẫn thế giới văn hóa, bao gồm con người và các xã hội của họ, đồ vật, muông thú và toàn bộ môi trường (xem Moran, Cohen, 2012: 189-191).

[6] Der sinnhafte Aufbau der sozialen Welt, bản dịch tiếng Anh của công trình này là The Phenomenology of the Social World, do George Walsh và Frederick Lehnert dịch, với lời giới thiệu của George Walsh (Evanston, Illinois, Northwestern University Press, 1967).

[7] Xin đón đọc bản dịch cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại. Khảo luận về xã hội học nhận thức (The Social Construction of Reality. A Treatise in the Sociology of Knowledge) của Peter L. Berger và Thomas Luckmann, do chúng tôi chủ biên dịch thuật, Nxb Tri thức ấn hành năm 2015.

Print Friendly and PDF