GIÀNH LẠI NỀN DÂN CHỦ TỪ THỊ TRƯỜNG
Ngày 6 tháng 3 năm 2026 Daron Acemoglu phỏng vấn Michael J. Sandel
Chế độ trọng dụng nhân tài [meritocracy] từng hứa hẹn về một xã hội công bằng hơn, nhưng thay vì thế, nó khoét sâu sự phân hóa giữa kẻ thắng và người thua, đồng thời làm xói mòn phẩm giá của lao động. Khi trí tuệ nhân tạo (AI) tái cấu trúc nền kinh tế và tập trung quyền lực vào tay ngày càng ít người, câu hỏi đặt ra không còn là liệu nền dân chủ có cần được cứu vãn không, mà là liệu chúng ta có kịp cứu nền dân chủ này hay không.
Trong bối cảnh bất bình đẳng ngày càng gia tăng, đổ thêm dầu vào ngọn lửa phẫn nộ có tính dân túy, và AI đe dọa thay thế sức lao động của con người, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Daron Acemoglu của MIT gần đây đã có cuộc trò chuyện với nhà triết học chính trị Michael J. Sandel của Đại học Harvard để thảo luận về cách hồi sinh nền dân chủ trước khi thiệt hại trở nên không thể đảo ngược. Cuộc trò chuyện sâu rộng của họ khám phá mặt tối của chế độ trọng dụng nhân tài, những hạn chế của thị trường, ý nghĩa của tự do và sự kiểm soát ngày càng chặt chẽ của các công ty công nghệ đối với không gian công cộng [public sphere].
Triết học hiện diện khắp mọi nơi
Daron Acemoglu: Qua những cuộc trò chuyện của chúng ta, và đặc biệt là qua các cuốn sách của ông, tôi cảm nhận được rằng ông xem triết học chính trị không chỉ là sự tìm tòi về các khái niệm trừu tượng hay việc tìm kiếm những chân lý tuyệt đối, mà còn là một phần của cuộc đối thoại liên tục với xã hội về cách chúng ta nên tổ chức đời sống tập thể, những giá trị chúng ta nên trân trọng và những điều chúng ta nên chống lại. Tôi muốn hiểu rõ hơn quan điểm của ông về triết học chính trị, triết lý của riêng ông đã phát triển như thế nào, và làm thế nào toàn bộ lĩnh vực này có thể tập trung tốt hơn vào nhiệm vụ thiết yếu này.
Michael Sandel: Anh hoàn toàn đúng. Một số người hình dung triết học là hoạt động trên trời, rất xa vời so với thế giới chúng ta đang sống. Tôi nghĩ triết học thuộc về thành phố, nơi các công dân tụ họp.
Cách hiểu về triết học này bắt nguồn từ Socrates, người đã lang thang trên đường phố Athens thay vì đứng sau bục giảng hay viết sách. Ông xuống cảng Piraeus, tiếp xúc với công dân thuộc mọi tầng lớp xã hội, đặt câu hỏi và mời họ suy ngẫm về các luật lệ và nguyên tắc mà họ tuân theo trong cuộc sống.
Tôi thấy hình ảnh triết học gắn liền với thế giới này rất hấp dẫn. Đặc biệt là hiện nay, khi các nền dân chủ đang gặp khó khăn và các cuộc tranh luận công khai trở nên nghèo nàn và đầy tính đối đầu, chúng ta cần khôi phục nghệ thuật đối thoại dân chủ. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải cùng nhau lý luận về những câu hỏi lớn: Điều gì làm nên một xã hội công bằng? Tiền bạc và thị trường nên đóng vai trò gì? Và chúng ta nợ nhau điều gì khi cùng là công dân trong một xã hội? Tư cách công dân, ở một mức độ nào đó, đòi hỏi mỗi chúng ta phải là một triết gia.
DA: Tôi hoàn toàn đồng ý, nhưng hãy để tôi nêu ra một điểm khác biệt quan trọng. Một số người, cả các triết gia và những người ngoài lĩnh vực này, cũng tin rằng triết học nên tập trung vào thế giới thực, nhưng họ vẫn tìm kiếm những nguyên tắc tổng quát, như mệnh lệnh tuyệt đối của Kant, ý chí chung của Rousseau, hay nguyên tắc khác biệt của John Rawls. Theo tôi hiểu, ông ủng hộ một phương pháp định hướng cuộc thảo luận sao cho chúng ta có thể, bằng phương tiện dân chủ hoặc các phương tiện khác, đạt được những kết luận hoặc thỏa hiệp khả thi. Hay tôi đang suy diễn quá mức rồi?
MS: Các nguyên tắc đóng vai trò quan trọng trong triết học cũng như trong diễn ngôn đạo đức và chính trị. Nhưng không phải theo kiểu chúng ta bắt đầu với các nguyên tắc cố định rồi sau đó hỏi làm thế nào áp dụng chúng vào các trường hợp cụ thể, làm như thể chúng ta có thể rút ra các đề xuất chính sách trực tiếp từ mệnh lệnh tuyệt đối của Kant vậy.
Triết học không phải là áp dụng một nguyên tắc tiên nghiệm vào mọi trường hợp. Xu hướng đó sẽ đi ngược lại với tinh thần triết học. Loại triết học dấn thân mà anh và tôi hướng đến luôn vận động qua lại giữa những nan đề cụ thể và những nguyên tắc, cam kết rộng lớn hơn mà chúng ta sống theo.
Tôi không cho rằng triết học kiểm soát cuộc đối thoại mà đúng hơn là nó mời gọi và khơi gợi đối thoại. Qua quá trình đó, chúng ta có thể hình dung rõ ràng hơn một xã hội công bằng sẽ trông như thế nào.
Phần xứng đáng: công bằng và bất công
DA: Giờ hãy chuyển sang Hoa Kỳ. Tôi nghĩ cuốn sách The Tyranny of Merit (Tính chuyên chế của chế độ nhân tài – Omega+, NXB Tri Thức) năm 2020 của ông sẽ là điểm khởi đầu tuyệt vời cho cuộc trò chuyện này, trong đó ông lập luận rằng xã hội Mỹ đã tự tổ chức dựa trên lý tưởng trọng dụng nhân tài, quá đề cao việc người ta tự lực vươn lên và thành công nhờ tài năng, mặc dù chúng ta biết rằng ta không sống trong một xã hội hoàn toàn dựa trên chế độ trọng dụng nhân tài.
MS: Việc nói về “tính chuyên chế” của năng lực [merit], như tôi đang dùng, nghe có vẻ phản trực giác, vì chúng ta thường nghĩ năng lực là điều tốt. Nếu tôi cần phẫu thuật, tôi muốn một bác sĩ phẫu thuật giỏi. So với đặc quyền cha truyền con nối, chủ nghĩa thân hữu và tham nhũng, năng lực chắc chắn là một tiến bộ, một cách tốt hơn để phân bổ vai trò và phần thưởng trong xã hội.
Nhưng trong năm thập kỷ qua, sự phân hóa giữa kẻ thắng và người thua ngày càng sâu sắc, đầu độc nền chính trị và chia rẽ chúng ta. Điều này một phần là do sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập và của cải, và một phần là do thái độ đối với thành công đi kèm theo đó. Những người ở vị trí cao tin rằng thành công của họ hoàn toàn là nhờ tự cố gắng, là thước đo năng lực bản thân, và do đó họ hoàn toàn xứng đáng với thành công đó. Từ đó suy ra, những người còn chật vật hẳn cũng xứng đáng với số phận của mình.
Lối tư duy này xuất phát từ lý tưởng trọng dụng nhân tài: nếu cơ hội là ngang bằng, người chiến thắng xứng đáng với phần thưởng của họ. Nhưng như anh đã đề cập, chúng ta đều biết rằng cơ hội không thực sự ngang nhau. Chúng ta không sống trong một xã hội trọng dụng nhân tài hoàn hảo. Tuy nhiên, thật dễ sa vào cách nghĩ rằng chỉ cần đạt được sự hoàn hảo đó thì mọi chuyện sẽ ổn.
Tôi không đồng ý. Chế độ trọng dụng nhân tài cũng có mặt tối. Ngay cả một chế độ nhân tài được hiện thực hóa trọn vẹn cũng sẽ làm xói mòn lợi ích chung. Nó khiến những người thành công tự nhận về mình quá nhiều công lao, quên đi vận may và ơn nghĩa đối với những người đã giúp họ đạt được thành tựu. Đây là quan điểm của Michael Young, người đã đặt ra thuật ngữ “chế độ trọng dụng nhân tài” vào cuối những năm 1950 như một lời cảnh báo chứ không phải một điều lý tưởng.
DA: Lập luận của ông còn triệt để hơn vẻ ngoài. Thuế lũy tiến, như ở Mỹ và châu Âu, không làm thay đổi thái độ cố hữu trong chế độ trọng dụng nhân tài. Ngay cả khi đánh thuế 50% thu nhập của các tỷ phú công nghệ cũng không thể xóa bỏ thói tự phụ độc hại rằng họ vượt trội hơn người khác chỉ vì họ đã thành công.
MS: Chính xác. Tính tự phụ đó là trung tâm của sự tức giận và oán hận đi kèm với sự phân hóa ngày càng lớn giữa kẻ thắng và người thua. Ngay cả với cách phân phối thu nhập và của cải công bằng hơn, nhiều người lao động – đặc biệt là những người không có bằng đại học hoặc bằng cấp danh giá – vẫn sẽ cảm thấy giới tinh hoa coi thường họ.
DA: Một vấn đề khác là việc phân loại. Ngay cả khi chế độ trọng dụng nhân tài vận hành trong các nhóm phân theo đặc điểm nhân khẩu học – trình độ học vấn, chủng tộc, giới tính, v.v. – thì nó vẫn ăn mòn (xã hội). Nhưng chính việc nó vận hành giữa các nhóm, đối lập người có học thức với người ít học, mới là điều làm nó có tính phá vỡ xã hội.
Thành công còn phụ thuộc vào yếu tố bối cảnh vốn thường bị bỏ qua. Nếu bạn thông minh bẩm sinh, nhưng tôi khỏe hơn về thể chất, thì ở một thời đại khác, bạn có thể sẽ phải phục tùng tôi, vì tôi có sức mạnh để hại bạn. Ngày nay, tình thế đã đảo ngược. Tuy nhiên, chúng ta lại bỏ qua yếu tố bối cảnh này và coi những kỹ năng đang được tưởng thưởng là vượt trội tự thân, như thể xưa nay chúng luôn là biểu hiện của đức hạnh.
Điều này càng hiện rõ hơn khi chúng ta phân loại kỹ năng cặn kẽ hơn. Ngày nay, trở thành luật sư giỏi có thể ít quan trọng hơn là làm lập trình viên giỏi vì nền kinh tế của chúng ta chẳng qua là đang coi trọng kỹ năng này hơn kỹ năng kia.
MS: Hãy xem xét những vận động viên xuất sắc như LeBron James và Stephen Curry: họ được hưởng những phần thưởng khổng lồ, nhưng liệu họ có xứng đáng kiếm được gấp 2.000 lần so với một giáo viên hay một y tá không?
Có hai lý do để nghi ngờ chuyện đó. Thứ nhất là tài năng và năng khiếu giúp chúng ta thành công phần lớn là chuyện may rủi. Lý do thứ hai là bối cảnh xã hội. Nếu James và Curry sống trong thời kỳ Phục hưng Ý, họ có lẽ cũng có năng khiếu thể thao như thế. Nhưng họ sẽ không kiếm được ngần ấy tiền vì xã hội thời Phục hưng quan tâm đến bích họa hơn là bóng rổ.
DA: Liệu vấn đề là họ kiếm được gấp 2.000 lần so với người có tài năng khác, hay là cách xã hội đánh đồng giá trị thị trường của họ với giá trị và đức hạnh cao hơn? Điều này liên quan đến một ý tưởng đầy sức nặng khác trong cuốn “Tính chuyên chế của chế độ nhân tài”: khái niệm về công bằng đóng góp.
MS: Trước hết, chúng ta cần phân biệt giữa hai khía cạnh của công bằng. Các cuộc tranh luận về việc đánh thuế người có thu nhập cao để giúp đỡ những người gặp khó khăn liên quan đến thu nhập, của cải và sự sòng phẳng; đó là công bằng phân phối. Nhưng cũng có vấn đề về sự công nhận xã hội – sự kính trọng, uy tín và sự tôn trọng – đó là vấn đề của công bằng đóng góp.
Chúng ta có thể hình dung một xã hội đạt được điều mà hầu hết chúng ta coi là phân phối thu nhập và của cải công bằng thông qua việc đánh thuế mạnh mẽ hơn và một mạng lưới an sinh xã hội vững chắc hơn. Nhưng ngay cả khi người giàu đóng thuế đầy đủ, họ vẫn có thể được hưởng một loại danh dự, uy tín và sự kính trọng không tương xứng với giá trị đóng góp của họ, đặc biệt là khi so sánh với, chẳng hạn, giáo viên hoặc người chăm sóc.
Công bằng đóng góp nằm ở trung tâm của nỗi phẫn uất đang thúc đẩy làn sóng phản kháng dân túy hiện nay. Trong thời đại mà những phần thưởng và uy tín khổng lồ lại đến với những người quản lý tiền bạc hơn là những người sản xuất ra hàng hóa hữu hình, nhiều người lao động cảm thấy những đóng góp của họ bị xem nhẹ.
Sự phân cấp địa vị đó làm xói mòn phẩm giá của lao động. Lao động không chỉ là phương thức kiếm sống; nó còn là cách đóng góp cho lợi ích chung và nhận được sự công nhận và kính trọng của xã hội. Trong đại dịch, chúng ta đã thoáng nhận ra rằng ta phụ thuộc sâu sắc vào những người giao hàng và nhân viên kho, nhân viên bán tạp hóa, trợ lý điều dưỡng và người chăm trẻ. Đáng lẽ đó đã là thời điểm để tranh luận công khai về cách chỉnh lại mức lương và sự công nhận sao cho phù hợp với đóng góp xã hội. Thay vào đó, mọi thứ lại quay về quỹ đạo cũ.
Vị thế và nguyên trạng
DA: Khó khăn mà tôi gặp phải với cả vị thế xã hội và công bằng đóng góp là xã hội quyết định chúng một cách rất tự phát. Vì vậy, nếu chúng ta quyết định rằng thế cân bằng dựa trên chế độ nhân tài hiện tại thất bại trong việc mang lại vị thế hoặc phẩm giá thích đáng cho một bộ phận lớn dân chúng, làm sao chúng ta có thể thay đổi điều đó, đặc biệt khi thị trường là điểm neo mạnh đến vậy? Ngay cả khi không phải thế, làm sao bất kỳ ai có thể tái định hình có chủ đích một điều gì đó mang tính nguyên sơ như ý niệm về công bằng đóng góp của chúng ta?
MS: Anh đúng. Với thị trường đóng vai trò là mỏ neo, người ta dễ dàng cho rằng thu nhập của mọi người phản ánh giá trị đóng góp của họ, ít nhất là trong các điều kiện cạnh tranh. Nhưng ngay cả nhà kinh tế theo chủ nghĩa tự do kinh doanh nhiệt thành nhất cũng khó lòng biện hộ cho ý tưởng coi thu nhập là thước đo đạo đức đáng tin cậy. Nếu đúng như vậy, chúng ta sẽ phải nói rằng một đại gia sòng bạc đóng góp cho xã hội nhiều gấp 5.000 lần so với một y tá hay một giáo viên.
Chúng ta có tin nổi chuyện đó không? Hãy xem xét phim Breaking Bad. Nhân vật chính, Walter White, ban đầu là một giáo viên hóa học ở trường trung học, chật vật kiếm sống và thậm chí còn phải rửa xe sau giờ dạy. Sau đó, anh ta trở thành kẻ sản xuất và buôn bán ma túy đá, kiếm được hàng triệu đô la. Tuy nhiên, không ai cho rằng khi sản xuất ma túy đá thì đóng góp của anh ta cho xã hội lớn hơn. Ngẫm lại, chúng ta có khả năng đưa ra đánh giá đạo đức định tính về giá trị của các loại công việc khác nhau, ngay cả khi chúng ta không đồng ý về các chi tiết.
DA: Tôi hoàn toàn đồng ý rằng thị trường không phải là một điểm neo hoàn hảo. Nhưng tôi lo ngại rằng các lựa chọn thay thế đơn giản chỉ là những gì giới tinh hoa trí thức coi trọng.
Tôi xin đưa ra một ví dụ đã khiến tôi trăn trở từ lâu. Opera thường được coi là nghệ thuật hàn lâm và được trợ cấp rất nhiều, mặc dù đối tưởng thưởng thức chủ yếu là tầng lớp học vấn cao và giàu có. Trong khi đó, nhạc heavy metal, xuất phát từ các quán rượu của tầng lớp lao động, lại không được thế. Đó là phán xét của giới tinh hoa trí thức, và nó được chuyển hóa thành chính sách.
Vì vậy, tôi luôn lo sợ rằng nếu chúng ta trao quá nhiều quyền quyết định cho giới tinh hoa trí thức, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng như thế này. Có thể ông thích opera, nhưng nhiều người lại thích nhạc heavy metal.
MS: Giới tinh hoa trí thức không nên, và chắc chắn không phải là người duy nhất, định đoạt (thước đo) giá trị. Trong một nền dân chủ, công dân mới là người làm điều đó. Chúng ta đã nói về việc những người làm nghề chăm sóc bị trả lương thấp và không được công nhận đầy đủ, nhưng hãy nhìn sang cực còn lại.
Một phần của cuộc tranh luận chính trị mà chúng ta nên lên tiếng là liệu những phần thưởng, sự công nhận và sự tôn vinh quá mức dành cho những người đứng đầu ngành tài chính có xứng đáng hay không. Đã có rất nhiều sự nể trọng dành cho các nhà quản lý quỹ đầu cơ và Phố Wall, và gần đây hơn là các doanh nhân công nghệ, không chỉ về tiền bạc, mà còn về uy tín và ảnh hưởng đến các quyết định xã hội và chính trị.
Đây là một lĩnh vực chín muồi để thảo luận công khai, lý tưởng nhất là khởi đầu bằng các đề xuất cụ thể. Ví dụ, thay đổi các quy tắc để giải quyết sự phân bổ sai lệch địa vị và sự kính trọng trong xã hội. Chúng ta nói về thị trường như một mỏ neo, nhưng thị trường được tạo thành từ các quy tắc. Những quy tắc đó có thể khác đi, và ta vẫn có thị trường.
Ví dụ, những quy định nào nên chi phối việc mua lại cổ phiếu? Các giao dịch tài chính đầu cơ nên được điều chỉnh hoặc đánh thuế như thế nào? Nếu chúng ta tin vào phẩm giá của lao động, liệu chúng ta có thể biện minh cho việc đánh thuế thu nhập lao động ở mức cao hơn lãi chuyển nhượng và cổ tức? Đây là những cuộc tranh luận chính sách quen thuộc mà chúng ta thường đặt ra dưới góc độ công bằng phân phối, nhưng chúng cũng liên quan đến công bằng đóng góp. Nếu chúng ta tổ chức thị trường theo cách cấm một số hoạt động cho phép đem lại phần thưởng quá lớn, những người thành công có thể sẽ không còn vẻ siêu phàm như vậy nữa.
Các vấn đề của chủ nghĩa tư bản
DA: Điều đó phần nào trả lời câu hỏi tiếp theo của tôi: Thị trường và chủ nghĩa tư bản có vấn đề gì, và những hạn chế của chúng là gì?
Nhân tiện, chủ nghĩa tư bản là một từ tôi rất ghét, không chỉ vì nó mang tính ý thức hệ cao, mà còn vì nó tạo ra ấn tượng rằng chỉ có một loại hình kinh tế thị trường duy nhất. Như ông đã lưu ý, có rất nhiều cách khác nhau để tổ chức thị trường và quyết định loại hàng hóa nào nên được phân bổ thông qua thị trường và loại nào thông qua các cơ chế khác, chẳng hạn như gia đình, cộng đồng hoặc các chuẩn mực xã hội.
Đó là những yếu tố quan trọng không chỉ quyết định sự bất bình đẳng kinh tế mà còn cả sự bất bình đẳng về địa vị và đóng góp.
MS: Đúng vậy. Khi sự phân hóa giữa kẻ thắng và người thua ngày càng lớn, thị trường đã mở rộng sang các lĩnh vực như y tế, giáo dục, các mối quan hệ cá nhân, luật pháp và truyền thông, nơi chúng lấn át các giá trị phi thị trường quan trọng. Đây là luận điểm tôi đã đưa ra trong cuốn sách năm 2012 của mình, “Tiền không mua được gì”: chúng ta đã trượt từ nền kinh tế thị trường sang xã hội thị trường.
Khác biệt nằm ở chỗ: nền kinh tế thị trường là một công cụ có giá trị và hiệu quả để tổ chức hoạt động sản xuất; còn xã hội thị trường là nơi mà mọi thứ đều có thể quy đổi thành tiền. Vì vậy, có lẽ câu hỏi chúng ta nên đặt ra là tiền không nên mua được gì, chứ không phải tiền không thể mua gì.
Tôi muốn nói thêm một chút về tài chính. Vai trò của tài chính trong chủ nghĩa tư bản, nếu tôi không nhầm, là phân bổ vốn cho các hoạt động sản xuất có ích cho xã hội, như đầu tư vào nhà máy, bệnh viện, trường học, đường sá và sân bay. Nhưng phần lớn hoạt động tài chính ngày nay lại là những canh bạc đầu cơ vào giá trị tương lai của các tài sản hiện có, mà một số trong đó được tạo ra chính vì mục đích ấy.
Hiện nay, một số người lập luận rằng hoạt động tưởng chừng không tạo ra sản phẩm này cung cấp thông tin và tính thanh khoản. Nhưng chúng ta lại dành phần lớn GDP cho những sản phẩm tương đối khiêm tốn ấy. Adair Turner, cựu chủ tịch Cơ quan Dịch vụ Tài chính của Vương quốc Anh sau cuộc khủng hoảng năm 2008, từng ước tính rằng 85% tín dụng ngân hàng ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ và Anh tài trợ cho các hoạt động mang tính đầu cơ hơn là các hoạt động sản xuất.
Điều đó cho thấy vẫn còn nhiều dư địa để đánh thuế và hạn chế các hoạt động tài chính phi sản xuất và lãng phí, đồng thời bảo vệ những người đóng góp cho nền kinh tế thực. Quan điểm của anh về vấn đề này như thế nào?
DA: Đây là một chủ đề khó vì mọi thứ không thể phân rõ trắng đen. Hầu hết các nhà kinh tế và triết gia chính trị đều đồng ý rằng việc phân bổ vốn cho những ai có nhu cầu tạm thời, hay tạo điều kiện cho đầu tư, đều là các hoạt động sản xuất. Ở thái cực khác, một số hoạt động rõ ràng không tạo ra sản phẩm, chẳng hạn như chi hàng tỷ đô la cho những máy tính hoặc GPU nhanh nhất để đánh bại thị trường chỉ trong một phần nghìn giây và thu lợi nhuận chênh lệch giá.
Nhưng vẫn có những vùng xám. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 có liên hệ mật thiết với chứng khoán thế chấp, vốn trở thành công cụ đầu cơ. Vào thời điểm đó, nhiều người cho rằng chứng khoán thế chấp rất hữu ích vì chúng biến các khoản đầu tư rủi ro, kém thanh khoản thành những khoản đầu tư an toàn hơn, hướng nhiều tiền hơn vào việc sở hữu nhà và phân tán rủi ro giữa các định chế (tài chính) thay vì tập trung vào một bảng cân đối kế toán duy nhất. Nhiều công cụ tài chính là con dao hai lưỡi: tác động của chúng phụ thuộc vào cách sử dụng và điều tiết.
Rộng hơn, bài học là phần lớn lĩnh vực tài chính cần được giám sát và điều tiết chặt chẽ hơn, để các chủ thể không thể hưởng lợi từ hành vi rủi ro trong khi người khác phải gánh chịu chi phí. Tuy nhiên, không có ranh giới rõ ràng giữa các hoạt động sản xuất và các hoạt động phi sản xuất.
Khi các công cụ tài chính càng phức tạp, các công ty tạo ra và phân phối chúng càng nắm giữ quyền lực khổng lồ. Không phải ngẫu nhiên mà ở Mỹ, và ngày càng lan rộng ở châu Âu, mà hai lĩnh vực đang tạo ra khối tài sản khổng lồ là tài chính và công nghệ, những ngành công nghiệp cho phép các tập đoàn lớn nắm quyền kiểm soát ở mức độ chưa từng có.
Khía cạnh tài chính đó không hoàn toàn phù hợp với sự phân biệt giữa sản xuất và phi sản xuất, nhưng đó là một khía cạnh xã hội quan trọng mà chúng ta vẫn chưa giải quyết được.
MS: Trước khi rời khỏi vấn tài chính sản xuất đối lại tài chính phi sản xuất, hãy xem xét sự bùng nổ gần đây của các thị trường dự đoán. Giờ đây, chúng ta có thể đặt cược xem liệu hai ngày nữa nhiệt độ ở Boston có vượt quá 0°C hay không. Hoặc hãy xem xét sự bùng nổ của cá cược thể thao. Cái đấy có tạo ra sản phẩm không?
DA: Tôi không phải là người hâm mộ thị trường dự đoán, nhưng rất nhiều người khác lại thích nó nên tôi vẫn đang cố tìm hiểu lý do. Nhiều vụ cá cược không mang lại lợi ích xã hội. Nếu tôi bước vào sòng bạc với 1 triệu đô la và đặt cược vào màu đen hoặc đỏ tại bàn roulette, rõ ràng việc đó không tạo ra giá trị. Nhưng khi tôi làm điều tương tự với chứng khoán có đảm bảo bằng thế chấp [mortgage-backed securities – MBS], thì mọi chuyện lại không rõ ràng như vậy. Lý do là việc định giá các chứng khoán đó giữ một chức năng xã hội – giúp xác định lượng vốn chảy vào các khoản cho vay thế chấp. Tuy nhiên, vẫn có yếu tố cá cược trong đó, đó là lý do tại sao nó thuộc vùng xám.
MS: Còn các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng khống [naked credit default swaps] thì sao?
DA: Tôi nghĩ chúng chắc chắn đã bị lạm dụng. Nhưng ông có thể thấy tại sao việc định giá các tài sản phái sinh lại hữu ích về mặt nguyên tắc, bởi vì chúng liên quan trực tiếp đến rủi ro trong tương lai. Triết lý tài chính đằng sau sự tán dương các công cụ phái sinh là, nếu có thể định giá những rủi ro này, mọi người có thể phân bổ tiền một cách hợp lý hơn.
Tôi không nghĩ điều đó hoàn toàn đúng, nhưng tôi cũng không nghĩ nó hoàn toàn sai. Đó là vùng xám.
MS: Anh quả là người ôn hòa.
DA: Không hề. Nhưng điều đó dẫn chúng ta đến chủ đề tiếp theo: bất bình đẳng.
Một sức mạnh ăn mòn
DA: Rõ ràng, bất bình đẳng vừa là vấn đề kinh tế vừa là vấn đề triết học. Làm thế nào để tiếp cận vấn đề này, đặc biệt là về sự sòng phẳng và đóng góp?
MS: Có ba loại bất bình đẳng. Loại thứ nhất là bất bình đẳng kinh tế. Điều đó có thể đáng lên án khi xét đến khía cạnh nó làm nảy sinh câu hỏi về sự sòng phẳng. Để quyết định những bất bình đẳng về thu nhập và của cải nào là chính đáng, chúng ta phải tranh luận về công bằng phân phối.
Loại bất bình đẳng thứ hai liên quan đến tham gia chính trị, bởi nhiều tiền tài có thể lấn át tiếng nói của người dân. Với hệ thống tài chính tranh cử hiện nay ở Mỹ, đây gần như chắc chắn sẽ vẫn là một vấn đề kéo dài dai dẳng. Và loại bất bình đẳng thứ ba là bất bình đẳng về sự công nhận và kính trọng.
Một trong những tác động ăn mòn mạnh nhất của bất bình đẳng là khiến chúng ta sống ngày càng tách biệt. Người giàu và người có thu nhập khiêm tốn hiếm khi chạm mặt nhau; chúng ta sống, làm việc, mua sắm và vui chơi ở những nơi riêng biệt, và cho con cái học ở những ngôi trường khác nhau. Điều này không tốt cho nền dân chủ.
Để giải quyết loại bất bình đẳng này, chúng ta cần xây dựng các thể chế thúc đẩy sự giao thoa giữa các tầng lớp: không chỉ các cơ quan chính phủ mà còn cả các công viên công cộng, bể bơi công cộng, thư viện công cộng, trường học, phương tiện giao thông và các cơ sở thể thao. Những nơi này không chỉ cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho những người không đủ khả năng chi trả mà còn giúp tạo ra một cuộc sống chung.
Dân chủ không đòi hỏi sự bình đẳng tuyệt đối, nhưng nó đòi hỏi những người thuộc các tầng lớp và hoàn cảnh xã hội khác nhau phải gặp gỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày. Đó là cách chúng ta học cách thương lượng và sống chung với những khác biệt, cũng như cách chúng ta dần quan tâm đến lợi ích chung.
DA: Theo một nghĩa nào đó, những gì ông đang chỉ trích một cách chính đáng liên quan đến hai diễn biến có liên quan nhưng tách biệt nhau. Thứ nhất, cộng đồng đã trở nên ít quan trọng hơn đối với mọi người. Khi thị trường cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, chúng ta ít phụ thuộc hơn vào sự giúp đỡ, giao tiếp, hợp tác và tổ chức tập thể. Thứ hai, các cộng đồng được xác định bởi các đặc điểm gán sẵn như thu nhập, trình độ học vấn và có lẽ cả chủng tộc đã phân cách xa hơn. Những người có bằng sau đại học ít có khả năng kết hôn hoặc kết bạn với những người chỉ có bằng tốt nghiệp trung học, và rất nhiều khả năng sẽ giao lưu với những người có cùng hoàn cảnh, sở thích và trình độ học vấn.
MS: Vâng, cộng đồng nằm ở trung tâm của nhiều thách thức mà chúng ta đã thảo luận. Cảm giác bất lực mà hầu hết người Mỹ cảm thấy – rằng tiếng nói của họ không có trọng lượng, rằng các chính trị gia không lắng nghe họ hoặc không quan tâm đến những gì họ nghĩ – là một trong những nỗi lo lắng kinh điển của thời đại chúng ta. Điều này đã xuất hiện từ vài thập kỷ trước và liên quan mật thiết đến cảm giác rằng nền tảng đạo đức của cộng đồng đang tan rã xung quanh chúng ta, từ gia đình đến khu phố đến quốc gia. Cảm giác mất phương hướng, bất ổn và lạc lõng của mọi người được củng cố bởi quan niệm rằng tự do chủ yếu là về việc lựa chọn hàng tiêu dùng phù hợp với sở thích, mong muốn và thị hiếu của chúng ta.
Quan niệm về tự do theo chủ nghĩa tiêu dùng có sức hấp dẫn riêng, nhưng nó cũng lấn át một ý niệm sâu sắc hơn về tự do công dân: Tôi chỉ thực sự tự do nếu tiếng nói của tôi có ý nghĩa trong việc định hình các sức mạnh chi phối đời sống tập thể của chúng ta. Nhưng loại tự do đó đòi hỏi nghị luận chủ động của công dân về những vấn đề lớn quan trọng, và kiểu nghị luận đó đòi hỏi cảm giác rằng chúng ta cùng chia sẻ một đời sống chung, gắn kết bởi các cộng đồng có truyền thống, lịch sử, khát vọng và các dự án chung, ngay cả khi chúng ta bất đồng về những gì các truyền thống đó đòi hỏi ở chúng ta hiện nay. Một ý niệm về tự do chỉ thuần túy dựa trên tiêu dùng và thị trường thiếu đi điều đó.
Tự do và Cộng đồng
DA: Tôi đồng ý với 90% những gì ông nói, nhưng có 10% tôi muốn đào sâu thêm một chút. Tôi nghĩ ông đúng khi cho rằng cảm nhận về giá trị và việc hiện thực hóa bản thân của chúng ta phụ thuộc vào cộng đồng, bởi vì con người là động vật xã hội. Cách duy nhất để có tiếng nói chính trị là trở thành một phần của cộng đồng, và nhiều tương tác xã hội mà chúng ta trân trọng sẽ không có ý nghĩa gì nếu chúng được cung cấp bởi thị trường.
Nhưng ngay cả khi chúng ta chấp nhận tất cả những điều đó, chắc chắn sẽ vẫn có những căng thẳng giữa cộng đồng và tự do cá nhân trong một số lĩnh vực nhất định. Lấy một ví dụ cực đoan, một số cộng đồng tôn giáo ở Mỹ và châu Âu hạn chế quyền rời bỏ cộng đồng của các thành viên trẻ tuổi thông qua áp lực xã hội hoặc việc nhồi nhét tư tưởng. Các cộng đồng có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời cũng có thể công khai hoặc ngầm thù địch những hành vi mà họ cho là không phù hợp với truyền thống của mình, chẳng hạn như công khai sống như người đồng tính hoặc vô thần.
Cái khó là làm sao cân bằng giữa tự do cá nhân và những yêu cầu của cộng đồng mà không rơi vào bẫy chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Qua quá trình nghiên cứu một số nhà tư tưởng, trong đó có cả ông, những người đã nhấn mạnh một cách đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của cộng đồng, tôi không thấy một giải pháp thỏa đáng nào cho sự căng thẳng này.
MS: Không có giải pháp dễ dàng nào, và chắc chắn anh đúng khi nói rằng cộng đồng có mặt tối. Cộng đồng có thể nguy hiểm, và lịch sử đã chứng minh điều đó bằng nhiều ví dụ về những tội ác đạo đức nhân danh tuân thủ truyền thống, dù là tôn giáo hay tư tưởng.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tạm thời đẩy lùi mối nguy hiểm này. Việc nuôi dưỡng những cộng đồng lành mạnh, đa nguyên cho phép có những diễn giải đối chọi nhau về những gì truyền thống đòi hỏi, và điều đó thúc đẩy sự tôn trọng đối với chủ nghĩa đa nguyên và sự bất đồng. Việc đơn thuần gạt cộng đồng sang một bên và nói rằng, khi vượt quá một ngưỡng nào đó thì mỗi người phải tự thân vận động, có nguy cơ sẽ tạo ra một khoảng trống đạo đức trong đời sống công cộng. Khoảng trống đó có lẽ trông như bảo vệ chúng ta khỏi việc các cộng đồng đi chệch đường ray. Nhưng nó làm cạn kiệt ý nghĩa đạo đức lớn lao và bản sắc chung của đời sống công.
Trên nhiều phương diện, phản ứng của chủ nghĩa tự do đối với mối nguy hiểm mà anh đã chỉ ra thường là vạch ra ranh giới rõ ràng giữa công và tư. Để ngăn ngừa bất đồng, tranh cãi và có thể là sự ép buộc, công dân được yêu cầu gạt bỏ quan điểm đạo đức và tôn giáo của họ ra khỏi không gian công cộng. Tự do khi đó được hiểu như là lựa chọn cá nhân hơn là tham gia vào một sự nghiệp công dân chung.
Mối nguy là diễn ngôn công cộng bị khoét rỗng, và khoảng trống đạo đức sinh ra từ đó nhất định sẽ bị lấp đầy bởi chủ nghĩa cực đoan tôn giáo hoặc chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chúng trở thành những tuyên bố mặc định về cộng đồng và mục đích, ồ ạt tràn vào đầy cái không gian công cộng trơ trọi đã thiếu đi tình đoàn kết, mục đích chung và ý nghĩa lớn lao hơn.
Đó chính xác là điều đã dẫn chúng ta đến thời điểm hiện tại. Cách bảo vệ tốt nhất chống lại các hình thức cộng đồng hà khắc, loại trừ hoặc bài ngoại không phải là vạch ra ranh giới quá cứng nhắc giữa công và tư, mà là xây dựng và nuôi dưỡng các cộng đồng xoay quanh ý nghĩa, đồng thời đảm bảo rằng các cộng đồng đó vẫn chào đón tranh luận và bất đồng quan điểm.
DA: Tôi đồng ý với nhiều điều ông nói, nhưng tôi muốn đi xa hơn. Lý tưởng ông đang mô tả không thể đạt được trừ khi, trong quá trình thảo luận này, chúng ta thừa nhận rằng nhiều giá trị cộng đồng khác nhau là chính đáng và sẽ phải cùng tồn tại. Tôi không nghĩ chúng ta đã làm tốt điều đó trong các xã hội tự do. Đặc biệt là, chủ nghĩa tự do cấp tiến đã cố gắng xóa bỏ một số giá trị cộng đồng nhất định vì chúng mâu thuẫn với giá trị của chính nó. Tôi thấy chuyện đó nguy hiểm.
MS: Một trong những sai lầm của những người theo phái tự do và cấp tiến khi tìm cách xa rời ngôn ngữ cộng đồng là chọn dè chừng lòng yêu nước. Thật sai lầm khi nhường lòng yêu nước cho phe cánh hữu, bởi khi đó lòng yêu nước sẽ bị định nghĩa theo hướng cực đoan dân tộc chủ nghĩa, bài ngoại và chống người nhập cư.
DA: Tôi hoàn toàn đồng ý. Nhưng nhìn từ một góc độ khác, cách duy nhất để duy trì các giá trị cộng đồng đa dạng là phải giữ vững cam kết đối với một số quyền tự do cá nhân cơ bản, để các cộng đồng không đàn áp những quyền đó.
Đó là lý do subtle. Cách duy nhất để cho phép các cộng đồng đa dạng phát triển mạnh mẽ mà không trở nên áp bức là duy trì một tập hợp các quyền tự do cá nhân cốt lõi trong những giới hạn nhất định.
MS: Quyền cá nhân chắc chắn rất quan trọng, thậm chí là không thể thiếu. Vấn đề là liệu sự biện minh cho những quyền đó có thể tách rời khỏi những ý niệm thực chất về cuộc sống tốt đẹp hay không.
Hãy xem xét quyền tự do ngôn luận. Anh có thể mô tả nó như một ví dụ kinh điển về việc quyền cá nhân được ưu tiên hơn những cân nhắc về cộng đồng. Tôi sẽ diễn đạt nó hơi khác một chút. Một lý do làm quyền tự do ngôn luận quan trọng đến vậy là vì nó thiết yếu đối với tự do công dân – khả năng bất đồng quan điểm với chính phủ, tham gia tranh luận chính trị và thách thức quan điểm của đa số. Vì vậy, việc tôi bảo vệ quyền tự do ngôn luận như một quyền cơ bản không nhất thiết phải gạt bỏ những mối quan tâm đến cộng đồng hay lợi ích chung. Thay vào đó, lập luận về quyền tự do ngôn luận gắn bó sâu sắc với hiểu biết về tự do theo nghĩa công dân.
Công dân tự động hóa?
DA: Bây giờ, tôi xin chuyển sang thảo luận về tương lai của việc làm và nền dân chủ. Công việc mang lại phẩm giá, sự tôn trọng lẫn giá trị xã hội, và thường đi đôi với sự tham gia vào tiến trình dân chủ. Nhưng tôi nghĩ ông cũng sẽ đồng ý rằng những tiến bộ trong trí tuệ nhân tạo và sự tái cấu trúc rộng lớn hơn của nền kinh tế đang khiến tất cả những điều này trở nên bấp bênh, có lẽ theo những hướng nguy hiểm.
Nếu trí tuệ nhân tạo thay thế phần lớn việc làm, thì ngay cả các biện pháp phân phối lại như thu nhập cơ bản phổ quát hoặc chia cổ phần trong các công ty công nghệ cũng không nhất thiết khôi phục công bằng đóng góp hay làm sống lại đời sống công dân. Và nếu các công ty AI ngày càng kiểm soát nhiều không gian công cộng, thì sự tham gia của công dân có thể bị biến đổi. Theo nghĩa đó, nền dân chủ phải đối mặt với hai mối đe dọa có liên quan: một từ sự xói mòn của việc làm có ý nghĩa, và một từ sự thâu tóm khu vực công cộng.
MS: Daron, rất nhiều điều tôi biết về AI và tương lai của việc làm đều là học được từ anh. Điều đầu tiên thu hút tôi đến với công trình của anh là những bài báo trước đây anh viết về nguyên nhân của sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng trong thời đại toàn cầu hóa và mức độ ảnh hưởng của chính sách thương mại và thay đổi công nghệ đến vấn đề này. Ẩn dưới cuộc tranh luận đó là luận điểm, thường được những người bảo vệ toàn cầu hóa tân tự do đưa ra, rằng chính sách thương mại mang tính chính trị nhưng công nghệ là điều không thể tránh khỏi.
Điều tôi học được từ công trình nghiên cứu của anh là chuyện này không nhất thiết đúng. Hướng đi của đổi mới sáng tạo trong công nghệ không phải tự nhiên mà có; nó phụ thuộc vào các lựa chọn và ưu tiên của chúng ta. Nếu những ưu tiên đó được đặt ra bởi các nhà đầu tư mạo hiểm ở Thung lũng Silicon, đổi mới sáng tạo sẽ hướng tới tự động hóa. Nếu đổi mới sáng tạo được định hình bởi các mục tiêu xã hội khác, nó có thể tập trung vào việc nâng cao năng suất lao động, làm cho người lao động hiệu quả hơn thay vì thay thế họ.
DA: Tôi vẫn nghĩ vậy. Nhưng điều đó không thay đổi thực tế là, hiện tại, AI đang hướng tới tự động hóa và trao quyền cho một số ít người nắm quyền kiểm soát không gian công cộng. Vậy chúng ta sẽ đi về đâu? Chúng ta sẽ phản ứng như thế nào? Có lẽ thông qua thảo luận, nhưng liệu chúng ta có đủ thời gian không?
MS: Tôi cũng cùng mối lo như anh. Chúng ta chưa thực sự định hướng AI theo hướng dân chủ. Một khi chúng ta hiểu rằng hướng đi của đổi mới sáng tạo trong công nghệ không phải tự nhiên mà có, cũng giống như toàn cầu hóa quá mức đã từng, thì nó sẽ trở thành một chủ đề chính đáng để thảo luận dân chủ.
Cuộc tranh luận đó rất quan trọng đối với bất kỳ nỗ lực nào nhằm khôi phục công cuộc tự quản. Liệu chúng ta có thể làm được hay không vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ, nhưng chúng ta phải cố gắng. Phần lớn sự lo lắng và tức giận ngày nay xuất phát từ việc sụt giảm niềm tin vào uy tín của chính thể đại diện, vốn dường như không có khả năng phục vụ lợi ích công cộng và thờ ơ trước quan điểm và giá trị của công dân bình thường.
Sự tập trung quyền lực trong nền kinh tế, đặc biệt là trong ngành công nghệ, cũng đem lại hậu quả tương đương. Các công ty này nắm giữ quyền lực chính trị to lớn và đang định hình hướng đi của bản thân công nghệ, với những tác động sâu rộng đến cách chúng ta giao tiếp, tiếp nhận thông tin và tương tác với nhau.
DA: Một khía cạnh khác của mất mát quyền lực là cảm giác công nghệ hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta và đang phát triển để tái định hình cuộc sống, loại bỏ việc làm hoặc thay đổi ý nghĩa của nó.
MS: Là những công dân dân chủ, cũng giống như chúng ta cần tranh luận về những gì mới thực sự là đóng góp có giá trị cho nền kinh tế – thay vì phó mặc cho thị trường tự phân xử – chúng ta cũng cần giành lại quyền quyết định mục đích của công nghệ từ tay các nhà đầu tư mạo hiểm Thung lũng Silicon. Muốn vậy, chúng ta phải tạo ra các diễn đàn và không gian cho cuộc nghị luận có ý nghĩa.
Điều mang lại cho tôi hy vọng, và có lẽ anh sẽ nghĩ hy vọng đó thật mong manh, là có một khao khát về một kiểu diễn ngôn công cộng tốt hơn. Có một sự khao khát về một diễn ngôn công có nền tảng đạo đức vững chắc và có tính gắn kết, thay vì diễn ngôn hẹp hòi, quản lý và đầy giận dữ mà chúng ta đã quá quen.
DA: Tôi không nghĩ niềm hy vọng đó mong manh. Tôi cho rằng đây là lý do thuyết phục nhất để kinh tế học và triết học cùng hợp tác. Tôi cũng tin rằng nền dân chủ – và khát vọng dân chủ – mạnh mẽ hơn nhiều người tưởng. Điều khiến tôi cảm thấy mong manh là khung thời gian: liệu chúng ta có thể làm được điều này trước khi thiệt hại không thể vãn hồi không?
MS: Đó cũng là câu hỏi lớn nhất với tôi. Nhìn vào những mối nguy đang rình rập công cuộc dân chủ, thật khó để phủ nhận rằng đã muộn rồi. Dẫu thế, ta cứ bắt đầu.
![]() |
| Michael J. Sandel |
Viết bài cho PS từ năm 2012, tổng cộng 3 bài Bình luận.
Michael J. Sandel, đoạt giải Berggruen về Triết học và Văn hóa năm 2025, Giáo sư Chính trị học tại Đại học Harvard.
![]() |
| Daron Acemoglu |
Viết bài cho PS từ năm 2012, tổng cộng 95 bài Bình luận.
Daron Acemoglu, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2024 và là Giáo sư Kinh tế tại Viện MIT, là đồng tác giả (với James A. Robinson) cuốn sách Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity and Poverty (Profile, 2019) và đồng tác giả (cùng với Simon Johnson) của cuốn Power and Progress: Our Thousand-Year Struggle Over Technology and Prosperity (PublicAffairs, 2023).
Huỳnh Thị Thanh Trúc dịch
Nguồn: Reclaiming Democracy From the Market by Michael J. Sandel & Daron Acemoglu, Project Syndicate, Mar 6, 2026.
Bài có liên quan:

