29.6.26

Tiểu luận Ngày thứ sáu: Tại sao những ý tưởng cấp tiến của tâm phân học là ngọn đèn soi đường cho tôi trong một thế giới đầy hỗn loạn?

TIỂU LUẬN THỨ SÁU: TẠI SAO NHỮNG Ý TƯỞNG TRIỆT ĐỂ CỦA TÂM PHÂN HỌC LÀ NGỌN ĐÈN SOI ĐƯỜNG CHO TÔI TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐẦY HỖN LOẠN?

Những thanh niên ở Lebanon, sau một cuộc không kích. (Nguồn ảnh: Wael Hamzeh/AAP)

Khi còn dạy viết truyện ngắn, tôi thường nhắc đến một nhận xét của nhà văn Meg Wolitzer về những thú vui mà thể loại này mang lại. Bà nói: “Bạn sẽ thấy mình ở một nơi mà trước đây chưa từng biết tới. Một nơi mà bạn không hề nghĩ mình sẽ đến”. Tôi thường bảo sinh viên rằng bí quyết nằm ở việc khơi gợi sự tò mò nơi người đọc. Đó là chuyện của một thập niên trước; còn bây giờ, dường như sự tò mò đã không còn là một phẩm chất được trọng vọng.

Trí tuệ nhân tạo (AI) khuyến khích những câu trả lời tức thì nhưng thiếu độ tin cậy, thay vì những cuộc tìm hiểu sâu sắc và những sắc thái tinh tế của tư duy. (Mặc dù, trong bối cảnh một nền văn hóa chính trị đầy dối trá ở Nhà Trắng – chẳng hạn như tuyên bố gần đây của Donald Trump rằng đã xảy ra một cuộc thay đổi chế độ ở Iran – chúng ta lại càng cần đến việc kiểm chứng dữ kiện một cách nghiêm ngặt.) AI cũng thúc đẩy những hình thức giải trí ngắn gọn, hời hợt, trong một thế giới mà 36% người từ 18 đến 24 tuổi tiếp nhận tin tức qua TikTok.

Tuần này, thế giới dường như đặc biệt bất định. Các cuộc chiến mới bùng phát ở Iran và Lebanon đã nối dài danh sách những cuộc xung đột đang diễn ra ở Ukraine và Gaza – nơi hiện có một lệnh ngừng bắn. Tại Úc, trong cuộc bầu cử tháng trước, tỷ lệ phiếu sơ cấp dành cho đảng dân túy cực hữu One Nation lần đầu tiên vượt qua liên minh đối lập. Donald Trump đang công kích Giáo hoàng. Điểm sáng hiếm hoi là thất bại của nhà độc tài Viktor Orbán tại Hungary. Và dĩ nhiên, tất cả những điều đó đang diễn ra trong bối cảnh cuộc khủng hoảng khí hậu ngày càng nghiêm trọng.

Không khó hiểu khi, giữa những biến động như vậy, chúng ta khao khát sự chắc chắn. Thế nhưng, điều chúng ta thực sự cần có lẽ lại gần như đối lập với nó: sự tò mò. Chính sự tò mò mở ra những khả thể mới, giúp chúng ta quan tâm đến cảm giác của người khác, đến những khổ đau mà họ đang trải qua, hay đơn giản là đến những điều mà chúng ta vẫn còn có thể cùng nhau bật cười.

Thế giới quan của tôi được định hình sâu sắc bởi công trình của nhà tâm phân thế kỷ XX Wilfred Bion và bởi điều ông gọi là “thái độ tâm phân” [psychoanalytic attitude]: một trạng thái cởi mở, chú tâm, kiên nhẫn và được dẫn dắt bởi sự tò mò. Tôi tin rằng những ý tưởng của Bion mang đến một bản thiết kế cho cách chúng ta có thể trải nghiệm thế giới – và cách chúng ta có thể làm mềm đi chủ nghĩa bảo căn [fundamentalism] của thế giới này.

Bottom of Form

Thái độ tâm phân

Là người đôi khi thích đi ngược dòng, tôi ngày càng ít quan tâm đến đích đến cuối cùng của câu trả lời, mà quan tâm nhiều hơn đến việc ghi lại cảm giác lần mò trong bóng tối của quá trình đặt câu hỏi. Đó là nỗ lực thăm dò xem sẽ như thế nào khi bước ra khỏi chính cơ thể mình, hay khi thử sống trong tâm trí của một người khácc. “Sự tò mò là đối cực của sự cuồng tín; nó luôn đặt câu hỏi: ‘Liệu còn điều gì khác cũng có thể là sự thật không?’,” nhà trị liệu tâm lý Mannie Sher viết.

Theo Wilfred Bion, nền tảng của khả năng suy nghĩ một cách phù hợp với thực tại – thay vì rơi vào nỗi kinh hoàng, sự phẫn nộ hay những huyễn tưởng về sự hủy diệt – chính là dựa vào năng lực chịu đựng sự bất định.

Wilfred Bion. (Nguồn ảnh: Facebook)

Wilfred Bion hiểu rằng việc tiếp cận thế giới bằng thái độ cho rằng mình đã biết sẵn sẽ cản trở khả năng đạt tới sự hiểu biết đích thực. Công trình của ông dựa trên một năng lực mà thi sĩ John Keats xem là cốt lõi của mọi tư duy vĩ đại – năng lực phủ định [negative capability]: khả năng “ở lại trong những trạng thái bất định, bí ẩn và hoài nghi mà không vội vã lao vào truy tìm thực kiện hay lý do.”

Lý thuyết của Bion bắt nguồn từ mối quan hệ giữa người mẹ và đứa con. Người mẹ hoặc người chăm sóc thực hành một kiểu lắng nghe và chú ý có thể chịu đựng được việc chưa biết đứa trẻ đang muốn gì. Họ đón nhận cơn giận dữ, nỗi khó chịu hay thất vọng của em bé, rồi chuyển hóa chúng thông qua ngôn ngữ và những hành động đáp ứng trạng thái cảm xúc ấy – chẳng hạn như dỗ dành bằng lời nói hoặc bế ẵm, ôm ấp – cho đến khi hiểu được điều đứa trẻ đang cố truyền đạt và có thể đáp ứng các nhu cầu của nó.

Trong tư duy của Bion, “thái độ tâm phân” đã trở thành nền tảng của thực hành trị liệu hiệu quả. Nhà trị liệu tâm lý bằng tâm phân học Robert Snell mô tả đó là “một định hướng cảm xúc... một sự cam kết, xuất phát từ lòng tôn trọng, nhằm duy trì một lập trường cởi mở đến tận căn để”.

Đối diện với những sự thật ngổn ngang

Tính bè phái, sự phẫn nộ và những chia rẽ sâu sắc ngày càng trở thành những đặc trưng nổi bật của đời sống chính trị và hệ tư tưởng đương đại của chúng ta; [tại Úc - ND] điều này được thể hiện rõ qua sự suy giảm ảnh hưởng của các chính đảng lớn và sự trỗi dậy của đảng One Nation.

Năm năm sau đại dịch COVID-1955% người Úc cho rằng đất nước hiện nay chia rẽ hơn so với trước năm 2020. Một nghiên cứu được công bố năm 2023 cho thấy chỉ có 24% người Úc sẵn lòng giúp đỡ một người đang gặp khó khăn nếu người đó có quan điểm hoàn toàn trái ngược với những niềm tin xã hội mà họ tha thiết bảo vệ. Chỉ 21% sẵn lòng sống cùng khu phố với người ấy, và chỉ 19% sẵn lòng làm việc cùng họ.

Tính bè phái, sự phẫn nộ và chia rẽ sâu sắc ngày càng trở thành đặc trưng nổi bật của nền chính trị Úc, thể hiện rõ qua sự trỗi dậy của đảng One Nation. (Nguồn ảnh: Dominic Giannini/AAP)

Cuộc chiến ở Gaza đã trở thành điểm nóng trong tình hình phức tạp này. Việc bày tỏ một lập trường chính trị hay luân lý, hoặc đồng nhất – hay bị đồng nhất hóa – bản thân với một tôn giáo nào đó, giờ đây đều có thể kéo theo những tổn thất về vật chất, các mối quan hệ cá nhân và cả nghề nghiệp.

Một người tham gia cuộc thăm dò ý kiến năm 2024 nhận xét: “Xung đột Israel–Gaza là vấn đề gây chia rẽ nhất của thế kỷ XXI, và vẫn tiếp tục tạo ra sự chia rẽ sâu sắc theo nghĩa rằng mọi người chỉ ngày càng cố thủ trong chiến hào của mình và không còn đối thoại với nhau nữa”.

Trên mạng xã hội, tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng bởi tốc độ lan truyền của những thông tin sai lệch hoặc mang tính kích động mà chưa được kiểm chứng được đăng tải, cùng với yêu cầu cố hữu là phải diễn đạt ngắn gọn. Kết quả thường là một kiểu “biết nhanh” khiến chúng ta khó tiếp nhận một dạng sự thật khác: những sự thật được hình thành từ trải nghiệm sống và cảm xúc của những cá nhân hay cộng đồng khác với mình.

Đối với những người Úc không phải thổ dân bản địa, điều đó có thể đồng nghĩa với việc lắng nghe những lời kể của các nạn nhân thuộc Thế hệ Bị đánh cắp [những trẻ em bản địa từng bị cưỡng bức tách khỏi gia đình - ND]. Những sự thật như thế thường nằm ngoài phạm vi mà các thuật toán đưa đến cho chúng ta; chúng đòi hỏi ta phải tạm gác lại những cơ chế phòng vệ của mình, lắng nghe trải nghiệm của người khác và cho phép bản thân bị chạm tới bởi những gì mình nghe thấy.

Trong vài năm gần đây, chính tôi cũng đã trải qua điều đó. Là một người Do Thái, tôi vô cùng đau lòng khi chứng kiến nhiều người phủ nhận hoặc giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của các cuộc tấn công do Hamas thực hiện sau ngày 7 tháng 10 [năm 2023]. Nhưng đồng thời, tôi cũng bắt đầu tự hỏi: mình chưa biết điều gì, hoặc đã né tránh không muốn biết điều gì? Tôi nhận ra rằng mình chỉ được tiếp cận một phần lịch sử của Israel. Và từ đó, tôi bắt đầu tò mò.

Các thành viên gia đình người Israel viếng các đài tưởng niệm tại địa điểm diễn ra lễ hội âm nhạc Nova nhân dịp kỷ niệm hai năm vụ tấn công của Hamas ngày 7 tháng 10 [năm 2025]. (Nguồn ảnh: Atef Safadi/AAP)

Điều này đã mở rộng tầm nhìn của tôi đến những trải nghiệm mà trước đây tôi chưa thực sự dấn thân đủ sâu để hiểu: tôi lắng nghe những lời chứng của người Palestine, đọc lịch sử của người Palestine và đón nhận những hình ảnh từ Gaza – chủ động nhắc mình đọc, nghe và nhìn mà không để những gì tôi tưởng mình đã biết lấn át. Những điều ấy đã khiến tôi xúc động và day dứt sâu sắc.

Nỗi kinh hoàng và đau buồn về ngày 7 tháng 10 [năm 2023] vẫn còn nguyên trong tôi. Tôi cũng vẫn phải vật lộn để đối diện và lý giải những trải nghiệm bài Do Thái gây tổn thương sâu sắc mà bản thân vừa trải qua trong thời gian gần đây.

Nhưng điều tôi đạt được sau cùng là một sự thấu hiểu mang tính cảm xúc. Nó được gói gọn trong lời của một người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust đang tham gia biểu tình tại Israel: “Tôi không nghĩ chúng ta có thể tưởng nhớ nỗi đau khổ của chính mình mà không thừa nhận nỗi đau khổ của Gaza … Cả hai đều có một chỗ trong trái tim tôi.”

Một người thân đau buồn bên thi thể của phóng viên Al Jazeera Mohammed Wishah, người thiệt mạng trong một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Israel hồi tháng Tư [năm 2026]. (Nguồn ảnh: Haitham Imad/AAP)

Chúng ta chỉ có thể đạt tới sự thấu hiểu ấy nếu có khả năng, như Sher viết, “đau buồn mà không trách móc [...] duy trì kết nối mà không sụp đổ vào hệ tư tưởng [...] và giữ gìn năng lực suy tư giữa tiếng ồn của những điều được khẳng định như chân lý chắc chắn”.

Những sự thật như thế thường buộc chúng ta phải đối diện với sự phức tạp của đời sống – những câu chuyện trong đó thủ phạm cũng là nạn nhân, hoặc ngược lại; nơi những con người bình thường gây ra điều ác nhân danh bộ máy quan liêu; hay nơi cả một xã hội – dưới sức mê hoặc của một nhà lãnh đạo lôi cuốn hoặc một hệ thống tàn bạo – đã hành động phi luân lý hoặc im lặng khi lẽ ra phải lên tiếng. Đôi khi, những sự thật ấy còn đặt chính chúng ta vào trong câu chuyện.

Nhưng quay lưng với chúng chỉ càng tiếp tục nuôi dưỡng lối tư duy “chúng-ta-và-họ”, thứ gieo mầm cho những xã hội nơi các thảm họa như diệt chủng, tàn sát sắc tộc hay thanh lọc sắc tộc có thể nảy sinh.

Sự chú ý, các thuật toán và những ‘sự thật thay thế’

Nhà tâm phân học Adam Phillips viết: “Những điều chúng ta quan tâm, những hình thức chú ý mà chúng ta lựa chọn, dường như là những phương cách tốt nhất mà cho đến nay chúng ta có để theo đuổi cuộc sống mình mong muốn.”

Ngày nay, bất cứ điều gì đòi hỏi sự chú ý tập trung đều đã trở thành một thứ xa xỉ. Điều đó khiến chúng ta tăng tốc trong mọi việc, từ cách hành động cho đến cách hình thành quan điểm và tiếp nhận các thực kiện.

Một phân tích gần đây đối với 35 triệu bài đăng công khai trên Facebook cho thấy 75% các đường dẫn được chia sẻ chưa từng được chính người đăng mở đọc. Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu quy mô lớn từ Twitter (nay là X) cũng chỉ ra rằng lập trường ý thức hệ của một người trong một cuộc tranh luận có thể dự đoán khá chính xác lập trường của họ trong những cuộc tranh luận khác. Nói cách khác, chúng ta thường tiếp nhận sự thật từ những người có cùng thế giới quan với mình.

Vấn đề là ở chỗ, “phía bên kia” thường lại có một bộ sự thật hoàn toàn khác. Khoảng cách giữa những gì “chúng ta” và “họ” chấp nhận là sự kiện có thật ngày càng bị nới rộng.

Vậy rốt cuộc điều gì mới là thật? Đó có lẽ là câu hỏi mà trẻ em sẽ đặt ra trong một thời đại mà chúng ta chật vật phân biệt đâu là một bài hát do con người sáng tác, đâu là sản phẩm của trí tuệ nhân tạo, khi phần lớn người Úc trưởng thành không tự tin vào khả năng nhận diện thông tin sai lệch và gây hiểu lầm trên mạng, khi các vụ lừa đảo trực tuyến ngày càng gia tăng, và khi những trang tin châm biếm không còn khiến người ta bật cười mà chỉ khiến họ thêm hoang mang?

Trên mạng xã hội — nơi chúng ta dành nhiều thời gian hơn bao giờ hết — những giới hạn về không gian và tính tức thời đang định hình cách chúng ta suy nghĩ và diễn đạt, ưu ái những kết luận nhanh gọn, dứt khoát và ít khoảng trống cho sự do dự.

Chúng ta đã biết rồi – và chúng ta biết đủ rồi. Những lịch sử phức tạp bị nén lại thành vài khẩu hiệu. Những điểm giao nhau giữa các ký ức đau thương của nhiều cộng đồng bị cắt gọt cho vừa một dòng trạng thái hay một đoạn bình luận ngắn ngủi. Thích, cười, yêu thương, quan tâm, phẫn nộ. Chúng ta chỉ được phép chọn một phản ứng để nhấp vào.

Đây là một loại hiểu biết không bao giờ có thể dung hòa với thực tại.

Sự bất định tạo sinh

Điều đó cũng làm xói mòn khả năng ở lại với sự không biết – điều mà tôi gọi là “sự bất định tạo sinh”. Đó là một trạng thái tinh thần mở ra khả năng chuyển hóa và thay đổi – nơi sự không biết không phải là điểm kết thúc mà là điểm khởi đầu.

Chẳng hạn, trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2023 tại Úc, chiến dịch phản đối đã lập luận rằng việc thiết lập một “Tiếng nói trong Quốc hội” là rủi ro và sự không biết [trước kết quả]: nếu bạn không biết điều gì sẽ xảy ra, hãy bỏ phiếu chống. Dĩ nhiên, có thể phản biện rằng chính rủi ro và sự không biết [trước kết quả] từ lâu đã là điều kiện tiên quyết của mọi thay đổi và tiến bộ trong lịch sử nhân loại. Liệu một cách nhìn như thế có thể đã dẫn đến một kết quả khác?

Chiến dịch phản đối cuộc trưng cầu dân ý với khẩu hiệu “Nếu bạn không biết, hãy bỏ phiếu chống”. Thế nhưng, rủi ro và điều chưa biết từ lâu đã là điều kiện tiên quyết của thay đổi và phát triển. (Nguồn ảnh: Lukas Coch/AAP)

Sự bất định tạo sinh – hay khả năng ở lại với sự không biết – không đồng nghĩa với phủ nhận thực tại. Có những sự thật mà chúng ta phải gìn giữ như những điều thiêng liêng nếu muốn duy trì bất kỳ nền tảng nào cho một xã hội công bằng: các hồ sơ và lời chứng của nhân chứng, những con số thống kê thương vong như các số liệu vừa được công bố trong Khảo sát Mức độ Tử vong ở Gaza, cũng như tên tuổi của các nạn nhân và thủ phạm.

Việc làm chứng cho những tài liệu ghi lại các sự thật ấy là một phần của sự tỉnh táo tập thể. Như triết gia luân lý Raimond Gaita từng nói, đó là hành động “đưa những cái tên ra trước thế giới như một giao ước, để người nói và người nghe có thể cùng chia sẻ một thực tại chung”.

Sự sẵn lòng tìm hiểu

Nhiều năm trước, sau một buổi thảo luận tại một liên hoan văn học, một người phụ nữ đã bước thẳng đến chỗ tôi và nói rằng bà sẽ không mua cuốn sách của tôi. “Nghe có vẻ như cuốn sách đó đặt ra quá nhiều câu hỏi, còn tôi thì muốn có những câu trả lời.” Khi ấy, tôi thấy điều đó có phần buồn cười. Nhưng khi trí tuệ nhân tạo ngày càng thâm nhập vào cách chúng ta học hỏi và tiếp nhận tri thức, tôi không còn thấy buồn cười nữa.

Với sự tận tụy gần như tuyệt đối đối với việc nhận diện các mẫu hình, AI mang đến một kiểu “biết chắc” — một dạng hiểu biết không còn chỗ cho sự bất định. Nó có thể rất hữu ích trong việc chắt lọc và xử lý những khối dữ liệu khổng lồ thuộc các dạng nhất định; chẳng hạn, trong việc hỗ trợ phát hiện các bệnh lý hiếm gặp. Tuy nhiên, khi phải trả lời những câu hỏi đòi hỏi sự nhạy cảm với ngữ cảnh và ý nghĩa, AI lại dễ mắc những sai lệch nghiêm trọng; và nó cũng từng được ghi nhận là đưa ra những lời khuyên có hại liên quan đến các rối loạn ăn uống hoặc trầm cảm.

Triết gia Gillian Rose. (Nguồn ảnh: CLT)

Những câu trả lời của chatbot thường chiều theo sự khát khao tri thức mà không đòi hỏi quá trình tìm hiểu thực sự – một quá trình vốn cần thời gian, sự suy ngẫm và đôi khi là việc đọc nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Chính vì vậy, triết gia Gillian Rose đã phê phán đã phê phán xu hướng một số nhà văn đóng khung công trình lý thuyết của mình bằng một tuyên bố về bản sắc. Theo bà, việc viết “với tư cách là một người phụ nữ” hay “với tư cách là một người Do Thái” phản ánh những giới hạn của việc biết trước mình sẽ nói gì.

“Con đường tôi đi không hề tuân theo logic nào cả,” bà nói. “Nếu biết mình là ai hay mình là gì, thì tôi sẽ không viết.” Giống như nhiều trí tuệ lớn khác, bà viết để khám phá chính mình là ai.

Gần đây, một người bạn triết gia nói với tôi: “Ngày nay, các lập luận đã trở thành những công cụ cùn mòn, không còn đủ sức thuyết phục nữa.” Chúng tôi đang bàn về sự cộng tác trí tuệ đặc biệt hiệu quả giữa hai nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Amos Tversky, những người đã góp phần làm sáng tỏ cách con người đưa ra quyết định kinh tế.

Trong nhiều thập niên, họ duy trì một cuộc đối thoại gần như hằng ngày, liên tục chất vấn và thách thức lẫn nhau, đặc biệt về phương pháp nghiên cứu. Tversky từng nói: “Vì chúng tôi là đối thủ trong tranh luận, Danny [Kahneman] luôn muốn xem chúng tôi có thể khám phá được điều gì.”

Tôi nói với người bạn rằng “Nhưng tôi từng đọc Tversky luôn tin chắc mình đúng.” “Vậy làm sao họ có thể tiến xa được?” Bạn tôi đáp: “Ông ấy sẵn lòng để mình bị thuyết phục.”

Để có thể bị thuyết phục, trước hết người ta phải buông bỏ cảm giác rằng mình đã biết sẵn câu trả lời.

Chào đón sự hỗn loạn

Bên ngoài phòng tư vấn, chúng ta có thể vận dụng “thái độ tâm phân” của Bion để chuyển hóa cơn phẫn nộ bùng phát phía sau nhiều bài đăng trên mạng xã hội thành sự tò mò về chính mình – từ đó hiểu rõ hơn những định kiến và khát khao đang vận hành bên trong. Nhà tâm phân Stephen Seligman viết: “Chúng ta nên chào đón sự bối rối như một trạng thái tinh thần đáng mong muốn”.

Một lần nữa – đây không phải là lời kêu gọi phủ nhận hay nghi ngờ mọi thứ. Chúng ta vẫn cần tin vào sự thật của nhân chứng, hồ sơ và lời khai, với một sự chắc chắn đến từ, như Gaita diễn đạt, một phán đoán “có kỷ luật và tỉnh táo”.

Kiểu “biết” mà tôi đang đề xuất được hình thành từ cả sự cởi mở triệt để lẫn một sự trung thành nghiêm túc với các sự thật mang tính dữ kiện. Vì vậy, sự bất định mang tính kiến tạo phụ thuộc vào việc chúng ta khôi phục niềm tin vào các định chế của mình – vào điều mà triết gia Chris Fleming gọi là một loại tri thức “không chỉ dựa vào tư duy phê phán của cá nhân”, mà còn dựa vào “trí tuệ phân tán” [distributive intelligence].

Đây là một hình thức lý luận đòi hỏi “phản hồi, sự trung gian của định chế, và – quan trọng hơn cả – một dạng dễ tổn thương, một sự cởi mở về mặt đạo đức để thừa nhận rằng mình có thể sai”. Chính điều này cho phép chúng ta tiếp cận một kiểu chắc chắn không rơi vào giáo điều.

Chúng ta cũng cần học cách chịu đựng sự nước đôi của những thực tại phức tạp, để không sa vào cái mà triết gia Paul Katsafanas gọi là “chính trị oán giận”.

Đó là một dạng phủ nhận tâm lý, không tập trung vào kết quả mà hướng đến việc duy trì trạng thái oán giận. Nó biến “nỗi đau nội tâm thành sự thù địch hướng ra bên ngoài”, mang lại “cảm giác giá trị được nâng cao”, và biến “cảm giác bất lực thành sự chính nghĩa”, ông cho hay.

Các chính sách của đảng One Nation là một ví dụ điển hình cho kiểu định hướng này, với trọng tâm là coi người nhập cư là nguồn gốc của những thách thức về chi phí sinh hoạt, nhà ở và an ninh ở Úc.

Nỗi sợ hãi mù quáng hay lòng căm ghét, khi khiến ta tin chắc rằng “kẻ khác” là xấu xa – và cần bị loại bỏ – cần được tiết chế bằng năng lực tò mò về người khác.

Sự tò mò, khi đi cùng với giận dữ, có thể tạo ra điều mà triết gia Martha Nussbaum gọi là “cơn giận chuyển tiếp” – một dạng giận dữ khôi phục phẩm giá thông qua phản kháng, đối thoại, tranh luận và nghệ thuật mang tính gợi mở, thay vì thông qua trả thù.

Những bài học từ văn chương cho thời điểm hiện tại

Một trong những truyện ngắn yêu thích của tôi là “Cuộc xổ số” [The Lottery] của Shirley Jackson, một câu chuyện gây bất an sâu sắc về một thị trấn thực hiện nghi thức ném đá. Cú sốc dành cho người đọc, khi phát hiện – rằng cuộc quay số xổ số được tiến hành giữa những cư dân háo hức thực chất là để chọn ra người xấu số bị hành hình – điều này thật sự khiến người đọc choáng váng.

Khi tờ New Yorker đăng truyện này năm 1948, nó đã tạo ra làn sóng phản đối dữ dội và hàng loạt hủy đăng ký mua báo – cùng sự bối rối hoàn toàn. Theo người viết tiểu sử của Jackson, do tạp chí không phân loại rõ thể loại, nhiều độc giả đã hoàn toàn tin rằng họ đang đọc một bản tường thuật có thật, và vì thế càng sốc hơn khi biết rằng một cộng đồng có thể tham gia vào một nghi lễ man dã như vậy.

Ngày nay, câu chuyện về sự trả thù tập thể của bà ấy đọc giống như một tác phẩm phi hư cấu hơn bao giờ hết. Tuy vậy, thể loại văn chương mà tôi cho là chứa đựng nhiều bài học nhất cho thời đại chúng ta lại là thơ ca.

Nhà trị liệu tâm lý kiêm thi sĩ David Shaddock viết rằng cả trí tưởng tượng của nhà thơ lẫn công việc trong quan hệ trị liệu giữa nhà phân tích và bệnh nhân đều mở ra khả năng tiếp cận “sự thật tâm linh” [psychic truth]: một “lĩnh vực xuất hiện khi cái hiện thực được ghi nhận”. Chúng ta bị lay động, và chính khả năng bị lay động ấy giúp ta chạm vào thực tại theo những cách mà – thị giác, thính giác, lý trí – có thể đã bỏ lỡ.

Theo Shaddock, thơ ca có thể tháo gỡ những định kiến sẵn có, mở ra một khoảng không nơi sự thay đổi – hay một điều gì đó mang tính sinh tạo – có thể xảy ra. Đó là một không gian của trí tưởng tượng đồng cảm, nơi chúng ta tạm thời không còn chắc chắn về những gì mình biết, mà trở nên tò mò.

Các từ khóa: Mạng xã hội, Israel, Sách, Gaza, Tâm phân học, Bài luận ngày thứ Sáu, One Nation, Chiến tranh Israel-Gaza

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ

Nicola Redhouse

Giảng viên, chuyên gia xuất bản và biên tập viên tại Đại học Melbourne [Úc].

Tuyên bố công khai

Tiến sĩ Mannie Sher có quan hệ họ hàng với tác giả.

Nguyễn việt Anh dịch

Nguồn: Why radical ideas from psychoanalysis are my guiding light in a chaotic world, The Conversation, April 16, 2026.

Print Friendly and PDF