20.8.26

Cách tôi dùng thống kê và tấm bằng luật để chống lại các hành vi vi phạm nhân quyền

CÁCH TÔI DÙNG THỐNG KÊ VÀ TẤM BẰNG LUẬT ĐỂ CHỐNG LẠI CÁC HÀNH VI VI PHẠM NHÂN QUYỀN

Khoảng 50 năm sau khi vạch trần sự phân biệt giới tính trong quyền lợi hưu trí của giới giảng viên đại học Mỹ, Mary Gray hiện đang là nhà thống kê kiêm nhà vận động vì công bằng xã hội.

Bài viết của Rachel Crowell

Mary Gray đã áp dụng các lập luận thống kê và pháp lý để đưa ra các khuyến nghị về cách chính phủ và các tổ chức có thể giải quyết vấn nạn diệt chủng và các hành vi vi phạm nhân quyền khác, cũng như nạn phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Dù đã ngoài tuổi 80, bà vẫn tiếp tục sự nghiệp luật sư, nhà thống kê và nhà toán học tại Đại học American ở Washington DC. Bà nói: “Dù tóc bạc trắng thì tôi vẫn chưa nghỉ hưu đâu”.

Một số nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào số ít vấn đề trong phạm vi hẹp. Công trình của Gray thì rộng hơn thế nhiều.

Bà đã đào tạo các điều tra viên cho Tòa án Hình sự Quốc tế tại The Hague (còn được biết đến với tên gọi là Den Haag hoặc La Hay), Hà Lan, để xác định mức độ vi phạm nhân quyền và tội diệt chủng. Ở trong nước, bà đã nỗ lực chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính, chủng tộc và tuổi tác, đồng thời tạo cơ hội trong giới học thuật Hoa Kỳ cho những người từ nhiều hoàn cảnh xuất thân khác nhau.

chủ tịch sáng lập của Hiệp hội Phụ nữ trong Toán học (Association for Women in Mathematics) từ năm 1971 đến 1974, Gray đã thiết lập mạng lưới và hỗ trợ cho các đồng nghiệp nữ, đồng thời ủng hộ một nền văn hóa công bằng và bao trùm hơn trong ngành. Năm 2022, khi hiệp hội thành lập Giải thưởng Mary và Alfie Gray về Công bằng Xã hội được đặt theo tên của Gray và chồng bà, một nhà toán học đã qua đời năm 1998 tổ chức này đã mô tả Mary Gray là người “đã dành cả cuộc đời mình để theo đuổi sự xuất sắc trong toán học và công bằng xã hội”. Bên cạnh nghiên cứu và giảng dạy học thuật, Gray còn tình nguyện làm việc cho cả Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) lẫn Thống kê Không Biên giới (Statistics Without Borders), một tổ chức cung cấp các dịch vụ thống kê và khoa học dữ liệu miễn phí vì lợi ích cộng đồng để cải thiện phúc lợi con người trên toàn thế giới.

Vài năm sau khi xuất bản luận án tiến sĩ về toán học trừu tượng (tựa đề “Radical Subcategories”) vào năm 1967, bà chợt nhận ra một điều. “Tôi sẽ chẳng bao giờ giành được giải Nobel, mà làm gì có Nobel toán học, Gray kể. Thay vào đó, bà tìm thấy hướng đi thích hợp khi được các đồng nghiệp nhờ nghiên cứu một số vấn đề thống kê về việc liệu có sự phân biệt đối xử về giới tính hoặc chủng tộc trong việc tuyển chọn cho chương trình White House Fellows hay không – chương trình đưa những chuyên gia trẻ đến làm việc để tích lũy kinh nghiệm tại cấp cao nhất của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Thế là củng cố thêm nền tảng thống kê của mình và quyết định tập trung vào “các ứng dụng thực tiễn hơn”, Gray cho biết.

Nhiều nhà nghiên cứu sẽ hài lòng với việc có chuyên môn kép về toán học và thống kê. Nhưng chỉ một vấn đề - chế độ hưu trí không công bằng giữa nam và nữ - đã thúc đẩy quyết định theo học ngành luật của Gray.

Trở thành luật sư

Vào những năm 1970, khi Gray xem xét các quyền lợi hưu trí mà bà được hưởng thông qua Teachers Insurance and Annuity Association (TIAA), đơn vị quản lý quyền lợi hưu trí cho nhiều giáo sư ở Hoa Kỳ, bà nhận thấy sự phân biệt đối xử về giới tính. Bà nhớ lại: “Khi bạn nhận khoản hưu trí từ TIAA, số tiền trả cho nam và nữ khác nhau.” Nếu một người đàn ông và một người phụ nữ có cùng số tiền tích lũy trong quỹ hưu trí và nghỉ hưu ở cùng độ tuổi, thì khoản tiền hng tháng mà người đàn ông này nhận được sẽ nhiều hơn 15% so với của phụ nữ. Bà kể lập luận của công ty bảo hiểm là vì phụ nữ sống lâu hơn, cuối cùng họ sẽ nhận tiền nhiều lần hơn nên cộng lại thì cũng bằng nam giới.

Khi Gray không chấp nhận lý lẽ trên, công ty bảo hiểm tuyên bố rằng bà không hiểu luật. Để đáp trả, bà đến học tại Trường Luật Washington thuộc Đại học American, năm 1979 Gray đã tốt nghiệp với tư cách là một trong những sinh viên xuất sắc nhất và được kết nạp vào đoàn luật sư bang Maryland.

Cuối cùng, đã giúp chấm dứt những chính sách phân biệt đối xử đó trong các gói quyền lợi hưu trí. Bà và nhà kinh tế học Barbara Bergman đã góp nghiên cứu đã công bố và lời khai chuyên gia của họ vào một vụ kiện tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ năm 1983. Trong vụ án Arizona Governing Committee v. Norris, tòa án cao nhất của quốc gia đã phán quyết rằng việc chênh lệch trong quyền lợi hưu trí giữa nam và nữ là phân biệt đối xử theo giới tính, và do đó là bất hợp pháp.

Lập luận cơ bản của Gray và vị đồng nghiệp trước tòa dựa trên số liệu thống kê. “Nếu bạn xem xét phân phối chuẩn về thời điểm tử vong, bạn sẽ thấy có hai đường cong chuẩn: một cho nam giới và một cho nữ giới,” Gray nói. Hai đường cong này chồng lên nhau khoảng 86%, nghĩa là rất nhiều người có khả năng tử vong trong cùng khoảng tuổi bất kể giới tính của họ là gì, bà lưu ý. Nói cách khác, không có gì bảo đảm rằng một phụ nữ sẽ sống lâu hơn các đồng nghiệp nam của mình.

Nhìn lại, Gray hài lòng vì đã chọn học toán trước rồi mới theo đuổi ngành luật. “Tôi rất vui vì mình đã làm cả hai, nhưng tôi nghĩ với riêng tôi, việc học toán trước hiệu quả hơn so với làm ngược lại,” bà nói. Theo bà, sẽ rất hữu ích nếu có thêm nhiều nhà toán học và nhà thống kê học được đào tạo chéo về nghiên cứu pháp lý và ngược lại. Khi nhân quyền hoặc tính mạng con người bị đe dọa, việc có cả số liệu lẫn luật pháp đứng về phía mình có thể giúp củng cố các lập luận, bà nói.

Mary Gray được truyền cảm hứng để theo đuổi tấm bằng ngành luật sau khi phát hiện ra sự phân biệt đối xử theo giới tính trong các chính sách quyền lợi hưu trí dành cho giới học thuật Hoa Kỳ.

Khi sự kiên trì gặp trở ngại

Char Mollison, chuyên gia về quản lý các tổ chức phi lợi nhuận tại Trung tâm Nghiên cứu Tổ chức Phi lợi nhuận, Thiện nguyện và Doanh nghiệp Xã hội thuộc Đại học George Mason ở Fairfax, bang Virginia, nhận xét Gray là người sứ mệnh” và “không làm để tự đánh bóng bản thân”.

Hai người gặp nhau vào khoảng năm 1980 thông qua một tổ chức vì quyền phụ nữ có tên là Women's Equity Action League (WEAL). Lúc này, bà Mollison đang giữ chức giám đốc điều hành của WEAL, còn Gray là chủ tịch ban quản trị do thành viên bầu ra. Gray nổi tiếng với việc “đưa phụ nữ vào ngành toán học” và “thường làm chứng với tư cách chuyên gia trong các vụ kiện tập thể đòi bình đẳng cho phụ nữ”, Mollison cho biết. Bà rất ấn tượng với khả năng của Gray trong việc khuyến khích sự hợp tác và đối thoại trên tinh thần tôn trọng, đồng thời giúp nhóm tránh bị sa lầy vào những cuộc tranh luận bất tận về các vấn đề gây chia rẽ liên quan đến chính sách công và vận động lập pháp.

“Trong một tổ chức vận động như WEAL, bạn sẽ thấy đủ loại quan điểm khác nhau về những việc cần làm tiếp theo,” Mollison nói. Các cuộc họp ban quản trị có thể trở nên căng thẳng khi nhóm thảo luận về những thỏa hiệp cần thiết để đạt được những thay đổi chính sách hoặc pháp mong muốn. Mollison cho biết Gray nổi tiếng là người lắng nghe công bằng và đầy thấu cảm, nhưng bà cũng luôn kéo các cuộc họp – và các cuộc biểu quyết khỏi cảnh sa lầy. “Bà ấy hiểu rằng với tư cách là một tổ chức, chúng tôi phải đưa ra quyết định và tiến về phía trước.”

Gray coi công việc chống phân biệt đối xử, cả trong học thuật lẫn hoạt động tình nguyện, là thành tựu lớn nhất của mình, góp phần mang lại “một đội ngũ giảng viên đại học khác hẳn so với 50 năm trước” ở Hoa Kỳ và có tính đại diện xã hội cao hơn. Bà nói thêm: “Nói vậy là tôi đang chạm đến một cuộc thảo luận chính trị đương đại về việc liệu thành quả này sẽ kéo dài được bao lâu”, nhưng cho đến nay, những thay đổi đạt được đều tích cực và đáng chú ý.

Một số thay đổi này thậm chí còn ảnh hưởng đến cả lựa chọn nghề nghiệp của bà. Ví dụ, thông qua công việc của bà với một ủy ban khoa học do Quốc hội bổ nhiệm, luật pháp Hoa Kỳ đã được sửa đổi vào năm 1994 để các giáo sư trong biên chế không thể bị chủ lao động ép buộc nghỉ hưu khi tới độ tuổi nhất định. “Đó là lý do tại sao tôi vẫn đang đi dạy,” bà nói.

Ngược lại, trong công việc cải thiện các quyền con người cơ bản của bà, kết quả thường bị chính trị làm cho nhập nhằng. Ví dụ, sau vụ diệt chủng Rwanda năm 1994, chính phủ nước này đã bỏ tù “một tỷ lệ rất lớn dân số”, trong đó trong đó ít nhất là có một số người không được thụ lý theo đúng trình tự pháp lý hoặc được xét xử công bằng, bà nói. “Người ta bị bỏ tù nhưng không bao giờ được thả ra – trừ khi họ chết.”

Gray tham gia vào dự án khi được yêu cầu thực hiện một cuộc khảo sát lấy mẫu thống kê để xác định xem có bao nhiêu người bị giam giữ ở Rwanda bị nghi ngờ phạm tội là dựa trên căn cứ hợp lý. Mục tiêu là để chính phủ sử dụng thông tin này lên kế hoạch xét xử một số người bị giam cầm và xem xét trả tự do cho một số người vô tội đang bị giam giữ. “Có quá nhiều người trong tù nên không thể đưa tất cả ra xét xử,” bà nói.

Tuy nhiên, khi kết quả nghiên cứu, các vấn đề chính trị liền nảy sinh. “Chính phủ Rwanda thực sự không muốn thả một số người,” bà nói. Chính phủ quyết định không làm theo những đề xuất dựa trên số liệu thống kê của bà mà chuyển sang áp dụng các phiên tòa cộng đồng tại làng. “Nhưng điều mà dự án của tôi đã làm được là buộc chính phủ Rwanda thời hậu diệt chủng phải suy nghĩ về cách họ sẽ giải quyết vấn đề nhân quyền,” bà nói.

Tại nước nhà, Gray cũng đã lên tiếng phản đối án tử hình trong các cuộc gặp với các quan chức dân cử khi còn là chủ tịch phân bộ Hoa Kỳ của Tổ chức Ân xá Quốc tế. Khi gặp gỡ các tổng chưởng lý và thống đốc bang của Hoa Kỳ, Gray đã dựa vào những nghiên cứu “cho thấy án tử hình không chỉ là một ý tưởng tồi mà còn phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc”, bà nói. Mặc dù chỉ có khoảng 12% dân số Hoa Kỳ là người da đen, nhưng 40% số người đang bị kết án tử hình trong các nhà tù ở Hoa Kỳ là người da đen. Và mặc dù có 23 tiểu bang của Hoa Kỳ đã cấm án tử hình, “đó vẫn là một cuộc chiến còn tiếp diễn”, bà nói. Bà nhận thấy rằng việc nhìn nhận các vấn đề xã hội phức tạp từ góc độ dài hạn và hiểu rằng tiến bộ thường không diễn ra tuyến tính là rất hữu ích.

Cứ mỗi bước tiến lên bạn lại sợ rằng sẽ phải lùi hai bước”, chuyện này tất nhiên đôi khi vẫn xảy ra, Gray nói. “Nhưng đó cũng là một trong những lý do khiến tôi thích gắn bó với nghề giáo. Bạn có thể làm việc với những người trẻ và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn.”

Hỏi đáp nhanh

hy vọng sẽ truyền lại những bài học nào từ sự nghiệp của mình cho thế hệ tiếp theo?

Tôi nghĩ điều quan trọng cần ghi nhớ là: công việc của bạn đang được sử dụng vào mục đích gì? Không phải chỉ đơn giản là “đừng làm việc cho quân đội” hay “chỉ nên dạy học ở các trường học thành thị”. Thay vào đó, hãy tự hỏi bản thân, liệu có điều gì bạn có thể làm hoặc có thể đào tạo người khác làm để giúp cuộc sống của họ và của những người khác tốt đẹp hơn không?

Ví dụ, một trong những sinh viên của tôi đã thực hiện khảo sát về đường dành cho xe đạp ở Washington DC. Một sinh viên khác chỉ ra rằng có rất nhiều người khuyết tật không thể đi xe đạp. Các sinh viên của tôi đã phản ánh lên đại diện của họ tại chính quyền thành phố để cố gắng tìm ra giải pháp tốt hơn cho người khuyết tật.

Nếu bạn cho rằng điều gì đó quan trọng, hãy kiên trì theo đuổi, nỗ lực hết mình và cố gắng mời gọi người khác cùng tham gia.

đã gặp phải những thử thách lớn nào trong sự nghiệp của mình?

Vẫn còn những người rõ ràng đang theo đuổi một lối sống rất khác với tôi. Vẫn có những người nghĩ rằng chỉ những người giống họ mới có thể làm toán giỏi. Nỗ lực mở rộng tầm ảnh hưởng của công việc mình làm là bài toán chưa có lời giải, nhưng bạn cứ phải làm tiếp.

Nếu có khả năng giải quyết một vấn đề ngay hôm nay, sẽ chọn vấn đề nào và tại sao?

Tôi nghĩ đó là phải đảm bảo chúng ta có được quyền tự do ngôn luận theo Tu chánh án thứ nhất, điều ta vẫn luôn đinh ninh là mình đang có ở Hoa Kỳ. Nếu tôi có thể làm một điều để ngăn chặn quyền này biến mất, tôi sẽ thực hiện nó.

Chuyên môn về nhân quyền và luật pháp đã giúp bà trở thành một nhà toán học, nhà thống kê giỏi hơn ra sao?

Nó giúp bạn luôn ý thức được những tác động mà hành động của mình có thể gây ra.

doi: https://doi.org/10.1038/d41586-026-02079-2

Huỳnh Thị Thanh Trúc dịch

Nguồn: How I use statistics and my law degree to fight human-rights abuses, Nature, 30 July 2026. Print Friendly and PDF