13.7.20

Tính thời sự của Karl Polanyi

TÍNH THỜI SỰ CỦA KARL POLANYI
Alain Caillé[i]Jean-Louis Laville[ii]
Không ai có thể chối cãi tầm quan trọng của Karl Polanyi đối với khoa học xã hội và tư tưởng chính trị. Thật vậy, ông là một trong rất ít tác giả mà ý nghĩa của sự nghiệp khoa học, đặc thù, chỉ có thể được nhận thức dưới ánh sáng của dự án đạo đức và chính trị mà nó muốn khởi xướng, và vì vậy, với một ý đồ chính trị, cũng độc đáo không kém, chỉ có thể chấp nhận được nếu nó được kết nối với nhân học tổng quát, nền tảng trên đó nó được xây dựng, vốn sẽ được sự lao động thuần túy khoa học chứng thực. Ưu điểm của sự lựa chọn các bài mà Michele Cangiani và Jérôme Maucourant giới thiệu cho chúng ta là đã chứng thực cho sự nối kết chặt chẽ giữa hai chiều kích khoa học và đạo đức của tư tưởng của Polanyi. Một sự nối kết vừa là sức mạnh vừa là điểm yếu của nó. Điểm yếu vì tất cả những sự thất bại khoa học, tất cả những đề xuất cụ thể bị bác bỏ đều làm cho sự vững vàng của dự án tổng thể bị suy yếu. Nhưng cũng là cái sức mạnh của tư tưởng của Polanyi vì chính tầm sâu rộng của nó, cũng giống như tư tưởng của Karl Marx hay của Max Weber, tạo nên một sự miễn dịch đối với những sự phủ nhận chi tiết.

POLANYI, NHÀ NHÂN HỌC VÀ SỬ HỌC[1]

Marx, Weber và Polanyi
Karl Marx (1818-1883)
Max Weber (1864-1920)
Tất nhiên, không phải là ngẫu nhiên mà ta nhắc đến Marx và Weber. Trên nhiều phương diện, Polanyi có thể được xem như là người kế thừa độc đáo nhất của họ. Một kẻ kế thừa lai dựa trên người này để cố gắng vượt qua hay chế ngự người kia. Điểm chung của ba tác giả này khiến cho họ không có tính thời sự và làm cho họ lại càng đáng quý hơn nữa, là họ đã nêu lên sự hoài nghi đối với tính tự nhiên của khái niệm Con Người Kinh Tế (Homo Oeconomicus). Tất nhiên họ không phải là những người duy nhất làm điều này, nhưng ta không thấy ai, ngoại trừ Marcel Mauss, đã làm việc này với một sức mạnh như vậy. Tầm quan trọng của sự hoài nghi này cần phải được xác định một cách vắn tắt. Từ nay, một điều gần như là xác thực được ấn định gần như khắp mọi nơi được - trong diễn ngôn chính trị, kinh tế, sử học, xã hội học, cũng như trong lý lẽ thông thường thống trị -, điều cho rằng, luôn luôn và ở mọi thời đại, con người đã là một con người kinh tế, tức là một cá nhân biết tính toán chỉ nghĩ đến việc tối ưu hóa cái lợi ích của chính bản thân. Nói một cách khác, đó là một cá nhân, trong toàn bộ các mối quan hệ của mình, ứng xử giống như một người tiêu thụ hay nhà đầu tư trên thị trường sản phẩm và dịch vụ, muốn thu hoạch nhiều nhất đối với số tiền đã bỏ ra, hay, nói chung, cho năng lượng mà hắn đã tốn. Ý thức hệ thống trị (doxa) cho rằng nếu cái sự thật này đã không xuất hiện một cách rõ ràng cho đến nay, là vì trong các xã hội trước đây, sức nặng (mạnh) của tôn giáo, của những ảo tưởng, của những sự lừa phỉnh và của những sự thống trị đã cản trở sự biểu hiện toàn diện bản chất tính toán của con người. Nhưng tính hiện đại đã xé rách cái màn của những ảo tưởng này và cùng lúc cổ vũ cho nền dân chủ và thị trường, cái này là điều kiện của cái kia.
Print Friendly and PDF

12.7.20

Trung Quốc: Virus Corona đang làm suy mòn “Con đường tơ lụa mới” như thế nào?

TRUNG QUỐC: VIRUS CORONA ĐANG LÀM SUY MÒN “CON ĐƯỜNG TƠ LỤA MỚI” NHƯ THẾ NÀO
Trong quý đầu của năm 2020, số lượng những dự án được dán nhãn “Con đường tơ lụa mới” đã giảm 15,6%. (Nguồn: Asia Society)
Tiếp sau sự sụt giảm đáng kể các khoản đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc, sự tài trợ vào những dự án được dán nhãn “Con đường tơ lụa mới” cũng đã giảm mạnh kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng virus corona. Xu hướng lâu dài hay gián đoạn tạm thời?
Năm 2020, hai cột trụ của toàn cầu hóa đã sụp đổ. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự đoán kim ngạch thương mại thế giới sẽ giảm 30%, một mức giảm chưa từng có tiền lệ kể từ năm 1945. Tổ chức Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, United Nations Conference on Trade and Development), cơ quan đo lường các luồng đầu vào và đầu ra của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và thực hiện khảo sát các doanh nghiệp lớn về ý định đầu tư của họ, dự báo là sau khi giảm từ năm 2015 và phục hồi nhẹ vào năm 2019, các nguồn vốn FDI sẽ co lại 40% vào năm 2020 và, lần đầu tiên kể từ năm 2005, sẽ giảm xuống dưới mốc 1.000 tỷ US$. UNCTAD dự báo nguồn vốn FDI sẽ còn giảm thêm (từ 5 đến 10%) vào năm 2021.
Diễn biến này liên quan đến Trung Quốc. Từ năm 2010 đến năm 2019, quốc gia này đứng thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ về các luồng đầu vào nguồn vốn FDI – trung bình 122 tỷ US$ mỗi năm – và đứng thứ ba về các luồng đầu ra nguồn vốn FDI sau Hoa Kỳ và Nhật Bản – trung bình 129 tỷ US$. Trong quý đầu năm 2020, trong khi Trung Quốc tiếp tục thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, thì nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài đã sụp đổ cùng với các khoản vay mà các ngân hàng Trung Quốc được phép tài trợ cho các dự án của “Con đường tơ lụa mới”, “Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường” hay BRI, theo tên gọi chính thức.
Print Friendly and PDF

10.7.20

Cần dân chủ hoá doanh nghiệp để làm sạch hành tinh

“CẦN DÂN CHỦ HÓA DOANH NGHIỆP ĐỂ LÀM SẠCH HÀNH TINH”

DIỄN ĐÀN
Tập thể
Tám nhà nghiên cứu nữ, trong đó có Julie Battilana, Isabelle Ferreras và Dominique Méda, với sự tham gia của 3000 đồng nghiệp, kêu gọi đổi mới việc phân quyền trong các doanh nghiệp, điều kiện của chuyển đổi sinh thái thật sự.
Văn bản này, được phát hành trên 27 phương tiện truyền thông của 23 nước trên khắp năm châu, đã có trên 3000 nhà nghiên cứu nam và nữ thuộc 600 đại học ký tên, trong đó có Isabelle Berrebi-Hoffmann, Craig Calhoun, Christophe Dejours, Emmanuel Dockès, Nancy Fraser, Axel Honneth, Eva Illouz, Jean Jouzel, Lawrence Lessig, Chantal Mouffe, Thomas Piketty, Katharina Pistor, Dani Rodrik, Hartmut Rosa, Saskia Sassen, Pablo Servigne, Laurent Thévenot, Gabriel Zucman
Đọc danh sách đầy đủ và được thường xuyên cập nhật những người ký tên tại: www.democratizingwork.org
Diễn đàn. Cuộc khủng hoảng này dạy ta điều gì?
Trước tiên là không thể giản lược những người làm việc thành “nguồn lực”. Các thu ngân viên, người giao hàng, y tá, dược sĩ, bác sĩ, tất cả nam cũng như nữ tạo điều kiện cho chúng ta tiếp tục sống được trong thời gian cách ly là một minh chứng sinh động. Cơn đại dịch này cũng cho ta thấy bản thân lao động không thể bị giản lược thành một hàng hoá. Chăm sóc sức khỏe, bảo trợ và đồng hành cùng những người dễ bị tổn thương nhất đều là những hoạt động cần được bảo vệ tránh khỏi các quy luật duy nhất của thị trường, nếu không chúng ta vẫn có nguy cơ gia tăng bất bình đẳng đến độ hy sinh những người yếu thế nhất và nghèo túng nhất.
Để tránh xảy ra một kịch bản như vậy, cần phải làm gì? Dân chủ hóa doanh nghiệp - nghĩa là tạo điều kiện cho nhân viên tham gia vào việc ra quyết định. Và không còn xem việc làm là một hàng hoá - nghĩa là tập thể bảo đảm một việc làm hữu ích cho mọi người, nam cũng như nữ.
Print Friendly and PDF

9.7.20

Đại dịch virus corona: những gì khoa học có thể cho biết (và những gì không thể cho biết)

ĐẠI DỊCH VIRUS CORONA: NHỮNG GÌ KHOA HỌC CÓ THỂ CHO BIẾT (VÀ NHỮNG GÌ KHÔNG THỂ CHO BIẾT)

Tỷ lệ tử vong, lây nhiễm, miễn dịch, điều trị, vắc-xin... Các nhà nghiên cứu đã đạt được nhiều tiến bộ về tất cả các chủ đề nói trên, nhưng vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn.
Kể từ khi bắt đầu đại dịch virus corona, các nhà khoa học trên toàn thế giới đã tìm cách tìm hiểu rõ hơn về virus Sars-Cov2 và tìm cách chống lại sự lây nhiễm của Covid-19. Ảnh: SLAVEMOTION VIA GETTY IMAGES
TIN KHOA HỌC - Chỉ chưa đầy sáu tháng trước, vào ngày 23 tháng 1, thành phố Vũ Hán ở Trung Quốc đã bị phong tỏa để ngăn chặn sự lây nhiễm của một chủng virus mới, Sars-Cov2. Đến ngày 7 tháng 7, đại dịch virus corona đã lây nhiễm hơn 11,4 triệu người trên thế giới. Căn bệnh mà nó gây ra, Covid-19, đã dẫn đến sự tử vong của ít nhất 535.000 người, trong đó có hơn 200.000 người được thống kê ở châu Âu. Những số liệu tất yếu đã bị ước lượng thấp.
Một số quốc gia đã ngăn chặn thành công sự lây nhiễm của virus. Những quốc gia khác, như Hoa Kỳ, đang chứng kiến ​​dch bnh bùng phát tr li. Dù thế nào đi nữa thì đại dịch còn lâu mới kết thúc, và nguy cơ xảy ra một làn sóng dịch bệnh thứ hai vẫn luôn hiện hữu.
Từ hơn sáu tháng nay, phần lớn các nhà khoa học trên thế giới đã cố gắng tìm hiểu rõ hơn chủng virus mới này. Từng bước một, từng nghiên cứu một, họ đã bắt đầu tích lũy được một số bằng chứng, cho phép nhìn rõ vấn đề hơn một chút. Nếu các nhà khoa học có vẻ đồng thuận ở một số điểm cụ thể, thì vẫn còn điều không chắc chắn đối với nhiều vấn đề, và thế giới phải tin vào hoạt động của khoa học đương thời để chống lại đại dịch virus corona.
Print Friendly and PDF

8.7.20

Hợp Chúng Quốc của Tuyệt vọng

HỢP CHÚNG QUỐC CỦA TUYỆT VỌNG

Anne Case[1] - Angus Deaton[2]

Nước Mỹ đang phải đối đầu với hai nạn dịch, cả hai đều vạch trần những bất bình đẳng sâu sắc giữa các chủng tộc và trình độ học vấn. Với những cái “chết vì tuyệt vọng” ngày càng nhiều trong tầng lớp lao động da trắng và các tỷ lệ tử vong vì Covid-19 cao hơn trong cộng đồng Mỹ gốc châu Phi, sự suy giảm bất thường từ nhiều năm của tuổi thọ trung bình ở Mỹ sẽ còn tiếp tục.

Princeton - Đã từ lâu trước khi Covid-19 tấn công, một nạn dịch khác đã lan tràn ở Mỹ, giết còn nhiều người Mỹ hơn con số tử vong do coronavirus gây ra cho đến nay. Những cái “chết tuyệt vọng” - vì tự sát, vì bệnh gan do nghiện rượu, hay vì dùng ma tuý và thuốc giảm đau quá liều - đã tăng nhanh từ giữa thập niên 1990, từ khoảng 65.000 trường hợp năm 1995 lên đến 158.000 năm 2018.

Những cái chết ngày càng nhiều do nạn dịch thứ nhì này hầu như chỉ trong giới những người Mỹ không tốt nghiệp đại học. Các tỷ lệ tử vong tổng thể đã giảm cho người có trình độ cử nhân nhưng lại tăng cho người có trình độ học vấn thấp. Tuổi thọ khi sinh của toàn dân số Mỹ đã giảm từ 2014 đến 2017. Đây là lần đầu tiên sau đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918-19 tuổi thọ trung bình giảm trong 3 năm, và với hai nạn dịch cùng hoành hành một lúc hiện nay, sẽ lại còn đi xuống.
Print Friendly and PDF

6.7.20

Khi các nhà kinh tế học bị cách ly

KHI CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC BỊ CÁCH LY

Jean-François Ponsot[*]
Nhà kinh tế John Maynard Keynes ngồi giữa nhà toán học Bertrand Russel và nhà văn Lytton Strachey, đã lí thuyết hoá nguyên lí bất trắc triệt để. National Portrait Gallery
Các nhà kinh tế học một lần nữa bị dồn vào chân tường. Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chánh trên toàn thế giới đã bắt họ phải suy nghĩ lại về sự lặp lại của các cuộc khủng hoảng kinh tế trong lịch sử. Nhà kinh tế học Paul Krugman, giáo sư kinh tế ở MIT được “giải thưởng Nobel” đã tự hỏi: ”Vì sao các cuộc khủng hoảng lại trở lại với một khoảng cách đều đặn, hủy hoại sự thành công của những năm thịnh vượng, giống như dịch cúm theo mùa hay đúng hơn như là bệnh dịch tả hay bệnh dịch hạch?”.
Nếu câu hỏi này đồng vọng với thời sự, nó có vẻ hơi bị lỗi thời. Trước hết, với cuộc khủng hoảng gắn với Covid-19, là sự trừng phạt kép: ta vừa có khủng hoảng kinh tế và đại dịch trọng đại! Dịch tả và dịch hạch! Sau nữa là những bài học từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã không được rút ra. Bất chấp các diễn ngôn kêu gọi (sự ra đời của) một thế giới mới, không có bất cứ sự chuyển hướng nào đã khởi xướng sự hướng tới một mô hình kinh tế mới vứt bỏ (thoát khỏi) một chế độ tăng trưởng phát sinh những bất bình đẳng và sự bóc lột con người, với những hậu quả tàn phá đối với sự sống còn của hành tinh.
Sự phong tỏa ít nhất cũng có một lợi ích, đó là khiến chúng ta một lần nữa phải xét lại những cuộc khủng hoảng kinh tế. Nó buộc chúng ta phải “tự sáng tạo lại”, để lấy lại từ ngữ của lời tuyên bố của tổng thống Emmanuel Macron trong bài phát biểu được truyền hình ngày 13 tháng tư năm 2020.
Print Friendly and PDF

Ngày Độc lập Hoa Kỳ - nhìn từ phía khác

NGÀY ĐỘC LẬP HOA KỲ - NHÌN TỪ PHÍA KHÁC


Nguyễn Xuân Xanh
Tặng M.N.

Ngày 5 tháng 7, 1852, đúng 165 năm trước, trong lễ kỷ niệm sự ra đời của Bản Tuyên Ngôn Độc lập tại Rochester, New York, với những nguyên tắc bất tử: “Tất cả mọi người sinh ra được bình đẳng, rằng họ được phú cho, bởi Đấng tạo hóa của họ, một số quyền nhất định không thể chuyển nhượng được, rằng trong những quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc”, nhà đấu tranh dân quyền cho người da đen, Frederick Douglass, đã đọc một bài diễn văn nảy lửa, hùng hồn và rất cảm động, có lẽ nổi tiếng nhất của ông, và được lưu truyền trong sách sử Mỹ. Douglass đã chĩa “thanh sắt đỏ” của sự luận tội vào lương tâm của quốc gia.

Ông là một người nô lệ, rồi trốn thoát để trở thành một nhà hùng biện và đấu tranh cho quyền lợi người da đen. Ông sinh ra vào thời nô lệ khi mà việc đọc và viết đối với nô lệ là bất hợp pháp. Ai bị bắt gặp có thể bị trừng phạt nặng nề, hay bị tử hình. Các chủ nô nghĩ rằng, nếu nô lệ học, họ có thể nổi loạn và chống lại.

Đối với Douglass, và tất cả những người Mỹ da đen, ngày Bốn tháng Bảy không phải là ngày kỷ niệm để hoan hỉ về quyền và tự do đã được nền dân chủ thừa nhận. Đó là ngày xấu hổ nhất cho những người đã phản bội những trách nhiệm đạo lý cơ bản nhất đối với người đồng hương. “Những gì bất nhân không thể thiêng liêng được” như ông viết.

Frederick Douglass (1818-1895)

Print Friendly and PDF

4.7.20

Thế giới “sau” đại dịch: Giữ gì? Vứt gì? Thấy gì?

Tuần báo L'Obs phỏng vấn nhà triết học Bruno Latour.
Hồ sơ - Tranh luận báo L’OBS
THẾ GIỚI “SAU”

GIỮ GÌ? VỨT GÌ? THẤY GÌ?

Của thế giới trước, chúng ta vứt bỏ gì? giữ lại gì? Chúng ta tạo được cái gì mới. Để tư duy “thế giới sau”, nhà triết học Bruno Latour đã thiết kế một bảng câu hỏi gồm ba điểm mà báo L’Obs (người quan sát) quyết định gửi đến hai mươi lăm nhân vật thuộc mọi chân trời, từ Nicolas Hulot lãnh đạo “Đảng Xanh” đến bà thủ tướng Iceland Katrín Jakobsdóttir, thông qua nhà văn Nicolas Mathieu giải thưởng Goncourt, nhà kinh tế Thomas Piketty, bà Isabelle Kocher cựu giám đốc tổng công ty năng lượng Engie, bà Valérie Pécresse, chủ tịch miền Ile-de-France. Một định hướng nổi bật từ những câu trả lời: loại bỏ các hoạt động phá hoại môi trường, phá hoại sự cố kết xã hội. Tăng cường Nhà nước phúc lợi và những giao thương gần kề. Nghĩ ra các tiêu chuẩn kinh tế và kế toán khác, sử dụng tốt công nghệ kỹ thuật số. Thiết lập những quan hệ mới với Trung Quốc.
Print Friendly and PDF

3.7.20

Hãy hình dung những cử chỉ rào cản chống lại sự trở về với nền sản xuất trước khủng hoảng

HÃY HÌNH DUNG NHỮNG CỬ CHỈ RÀO CẢN CHỐNG LẠI SỰ TRỞ VỀ VỚI NỀN SẢN XUẤT TRƯỚC KHỦNG HOẢNG

Nếu mọi thứ bị dừng lại, mọi thứ có thể được xét lại, định hướng lại, lựa chọn, sắp xếp, bị dứt khoát gián đoạn hoặc ngược lại, tăng tốc. Bản tổng kết hàng năm phải được làm ngay bây giờ. Để đáp lại yêu cầu của lẽ thường: “Chúng ta hãy khởi động lại sản xuất càng nhanh càng tốt”, chúng ta phải hét lên: “Dứt khoát là không!” Điều cuối cùng cần làm là tiếp tục làm lại mọi thứ chúng ta đã làm trước đây.
Có một điều gì đó không phải phép để phóng chiếu vào thời kỳ hậu khủng hoảng khi các nhân viên y tế, như ta thường nói, đang đứng “trên chiến tuyến”, khi hàng triệu người mất việc và nhiều gia đình đang chịu tang thậm chí không thể chôn cất người thân của họ. Tuy nhiên, chính bây giờ là lúc chúng ta phải chiến đấu để sự phục hồi kinh tế, một khi cuộc khủng hoảng đã qua đi, không mang lại chế độ khí hậu cũ mà cho đến nay chúng ta đã cố gắng chống lại một cách tương đối vô hiệu.
Thật vậy, cuộc khủng hoảng y tế được lồng kết vào một cái không phải là khủng hoảng - vốn luôn luôn thoáng qua - mà là vào một sự biến đổi sinh thái lâu dài và không thể đảo ngược. Nếu chúng ta có cơ hội để “thoát khỏi” cái thứ nhất, tức là cái được gọi là khủng hoảng, chúng ta hoàn toàn không thể “thoát khỏi” sự biến đổi sinh thái. Hai tình huống không cùng quy mô, nhưng sự nối khớp chúng lại với nhau sẽ làm sáng tỏ nhiều điều. Dù thế nào đi nữa, thật là tiếc nếu không sử dụng cuộc khủng hoảng y tế để khám phá những cách, khác hơn là bằng sự mù loà, để đi vào sự biến đổi sinh thái.
Print Friendly and PDF

2.7.20

Buôn nô lệ kiểu mới trong thời đại văn minh

BUÔN NÔ LỆ KIỂU MỚI TRONG THỜI ĐẠI VĂN MINH

Tác giả: Tôn Thất Thông, tháng 6.2020
Vừa mới giảm hạn chế tiếp xúc, ở Đức đã xảy ra nhiều ổ dịch Covid-19 trong các lò mổ thịt (abattoir) từ nam chí bắc. Trong lúc điều tra, các ký giả chuyên nghiệp phát hiện và đưa ra công luận một sự thực kinh hoàng khác, đáng quan tâm hơn cả Covid-19, ấy là điều kiện làm việc và sinh sống của công nhân mổ thịt, mà tuyệt đại đa số là lao động lương thấp đến từ các xứ nghèo ở Đông Âu. Vào thế kỷ 21, trong một đất nước giàu có bậc nhất châu Âu, mà vẫn tồn tại tình trạng sinh sống thiếu nhân phẩm như thế, nó nói lên điều gì?
Thợ Đông Âu trong các lò mổ thịt
(Nguồn tin lấy từ các báo online hàng ngày đáng tin cậy: Spiegel, Focus, Zeit, Welt, NZZ, Tagesschau, Heute).
Chỉ hai tuần sau khi lệnh giãn cách được nới lỏng, hàng loạt lò mổ thịt ở Đức trở thành những ổ dịch gây chấn động: Thí dụ Westfleisch ở Coesfeld với 250 ca nhiễm, Vion ở Bad Bramstedt với 110, Müller Fleisch ở Birkenfeld với 300, nhiều xí nghiệp thuộc tập đoàn Wiesenhof với 525 ca nhiễm v.v. và chấn động nhất gần đây là công ty Tönnies ở Rheda, ngoại thành Gütersloh với 1553 ca dương tính (ngày 23.6), đấy là chưa kể còn 2000 nhân viên chưa thử xong.
Tönnies là lò mổ thịt lớn nhất của Đức, chiếm 30% công suất sản xuất thịt toàn quốc, mỗi năm mổ hơn 18 triệu con lợn. Tönnies có tổng cộng 6500 nhân viên, đại đa số thợ đến từ Đông Âu, đặc biệt là trong phân đoạn giết lợn, xẻ và phân loại thịt. Những nhóm thợ đông nhất bao gồm 2500 người từ Romania, 1500 từ Ba Lan, 500 từ Bulgaria. Tổng số thợ Đông Âu chiếm hết 80% toàn bộ nhân viên công ty. Khổ thay, họ không phải là nhân viên ăn lương của Tönnies, mà được những công ty môi giới lao động gởi đến làm việc theo thời vụ và theo nhu cầu của Tönnies. Họ làm việc dưới những hợp đồng hết sức tồi tệ với các môi giới lao động. Nhiều người không hề có một hợp đồng nào trong tay.
Print Friendly and PDF