9.6.21

Nhà sử học của hai thế kỉ

PTKT: Eric Hobsbwam (1917-2012) là sử gia lỗi lạc mà bản dịch chương 2chương 18 trong tác phẩm Thời đại thái cực 1914-1991 của ông đã được PTKT giới thiệu. Chúng tôi sẽ lần lượt đăng toàn bộ các chương còn lại bản dịch của kiệt tác này. Để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của ông, bạn đọc có thể tham khảo phim tài liệu Eric Hobsbwam: The Consolations of History của Anthony Wilks (London Review of Books) và bài viết “Nhà sử học của hai thế kỉ” dưới đây của dịch giả Nguyễn Ngọc Giao cùng với bản dịch bài viết của Nguyễn Quang.
 

============

NHÀ SỬ HỌC CỦA HAI THẾ KỈ

Nguyễn Ngọc Giao

Eric J. Hobsbawm đã từ trần ngày mồng 1 tháng 10 năm 2012, thọ 95 tuổi. Ông là sử gia lớn, nếu không nói là sử gia lớn nhất về lịch sử thế giới hai thế kỉ XIX và XX, đồng thời là một trí thức dấn thân từ thuở niên thiếu cho đến trọn đời.


Uy tín của Hobsbawm đã được xác lập với ba bộ sử về Thế kỉ XIX: The Age of Empire, 1875-1914 (Thời đại Đế chế 1875-1914, xuất bản lần đầu năm 1987), The Age of Revolution: Europe 1789-1848 (Thời đại Cách mạng: Châu Âu 1789-1848) và The Age of Capital: 1848-1875 (Thời đại Tư bản: 1848-1875).

Đối với nhà sử học (mác xít, tất nhiên) này, căn cứ vào các cuộc vận động lớn của lịch sử thế giới, Thế kỉ XIX bắt đầu từ 1789 (Cách mạng Pháp), và kết thúc vào năm 1914, khi Thế chiến lần thứ nhất bùng nổ, mở đầu sự cáo chung của “Thời đại Đế chế”. Vì thế, ông đã tạo ra tên gọi “Thế kỉ Dài” để nói về Thế kỉ XIX.

Thế kỉ XX, dưới nhãn quan sử học, bắt đầu từ năm 1914. Hobsbawm coi như nó kết thúc, không phải vào năm 2000 theo lịch, mà vào năm 1991, khi Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, kết thúc chiến tranh lạnh. Trăm năm thu gọn vào 77 năm, nên ông gọi nó là “Thế kỉ ngắn”. Thời đại của những Thái cực: Lịch sử Thế kỉ ngắn 1914-1991 chính là đầu đề bộ sử lớn thứ tư của Hobsbawm, nói về Thế kỉ XX mà chúng ta vừa từ biệt.

Viết về lịch sử đương đại là điều khó. Viết một bộ sử tổng quan về Thế giới đương đại là điều không thể. Hobsbawm, và có lẽ chỉ Hobsbawm, đã làm được điều không thể ấy. Ông là người uyên bác, trí nhớ phi phàm, một tầm nhìn xa, và cái nhìn sắc sảo. Con người bách khoa ấy không chỉ quan tâm tới lịch sử, mà còn đam mê văn học nghệ thuật: dưới bút danh Francis Newton, ông là nhà phê bình nhạc Jazz có uy tín của tạp chí New Statesman. Hội đồng Giải thưởng Balzan năm 2003 (dành cho những công trình sử học Âu châu từ năm 1900) trao giải cho ông vì “phân tích xuất sắc lịch sử đau thương của Châu Âu thế kỉ XX, kết hợp nhuần nhuyễn những công trình nghiên cứu sâu sắc của mình và tài năng văn học lớn lao”. Bộ ba lịch sử “Thế kỉ Dài” được tạp chí The New York Review of Books đánh giá là “một trong những bộ sử tổng quan vĩ đại nhất từ mấy chục năm nay”. Đối với sử gia David Caute (sử gia, nhà văn, nhà báo, giáo sư đại học, không mác-xít), Hobsbawm có lẽ là “nhà sử học đương thời lớn nhất -- không những của Vương quốc Anh, mà của toàn thế giới”.

Print Friendly and PDF

8.6.21

Tầng lớp tư sản trí thức, thành phần tinh hoa gia truyền

TẦNG LỚP TƯ SẢN TRÍ THỨC, THÀNH PHẦN TINH HOA GIA TRUYỀN

Khi một nhóm xã hội bá chiếm cả kiến ​​thức, quyền lực và tiền bạc

Người ta thường nói xã hội bị phân chia thành 1% những người giàu nhất và 99% là số còn lại. Nhưng công thức tóm tắt gây sốc này đã loại bỏ những bất bình đẳng liên quan đến bằng cấp. Và che giấu vai trò của tầng lớp tư sản trí thức vốn, ngay cả khi họ phục vụ nhóm 1%, vẫn thích thể hiện mình trong phe của những người bị áp bức. Tầng lớp xã hội này xuất thân từ “chế độ tài đức/méritocratie” truyền lại những đặc quyền của nó cho con cháu, giống như tầng lớp quý tộc xưa.

Pierre Rimbert[*]

Tống Huy Tông (宋徽). — “Buổi họp các nhà nho”, thế kỉ XII

© National Palace Museum, Taipei, Taïwan - RMN-Grand Palais

Michael Young (1915-2002)

Vào mùa hè năm 1957, nhà xã hội học người Anh Michael Young dạo chơi trên một bãi biển ở xứ Wales. Là một nhà nghiên cứu lâu năm trong Đảng Lao động Anh mà bản tuyên ngôn năm 1945 đã được ông soạn thảo, ông đã có bước rẽ ngoặt. Trên bãi cát, ông ta nghiền ngẫm: mười một nhà xuất bản đã từ chối bản thảo mới nhất của ông. Đột nhiên, ông ta nhìn thấy một cặp bạn bè ở bờ biển, dừng lại, gợi lên với họ văn bản mà không ai muốn. Thật trùng hợp, các người bạn của ông là nhà xuất bản sách nghệ thuật; và họ quyết định đưa cuốn sách vào danh mục của họ. Tiêu đề của nó: Sự trỗi dậy của chế độ tài đức/L’Ascension de la méritocratie[1]. Với thuật ngữ này được ghép từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp, Young dự đoán được những lời mỉa mai. Năm trăm nghìn bản được bán ra trong vài năm đã đưa thuật ngữ “chế độ tài đức” vào ngôn ngữ hàng ngày. Điều đã phải trả giá bằng một sự hiểu lầm khổng lồ.

Print Friendly and PDF

6.6.21

Sự sụp đổ của đồng Bitcoin: tội phạm mạng và mức tiêu thụ điện năng quá mức, mặt ẩn của tiền mã hoá

SỰ SỤP ĐỔ CỦA ĐỒNG BITCOIN: TỘI PHẠM MẠNG VÀ MỨC TIÊU THỤ ĐIỆN NĂNG QUÁ MỨC, MẶT ẨN CỦA TIỀN MÃ HOÁ

Ngày 21 tháng 5 năm 2021

Donia Trabelsi

Phó Giáo sư về Tài chính, Trường Kinh doanh thuộc Học viện Institut Mines-Télécom (IMT)

Michel Berne

Nhà kinh tế, Giám đốc nghiên cứu (đã nghỉ hưu), Trường Kinh doanh thuộc Học viện Institut Mines-Télécom (IMT)

Sondes Mbarek

Phó Giáo sư về Tài chính, Trường Kinh doanh thuộc Học viện Institut Mines-Télécom (IMT)

Mức độ phổ biến của tiền mã hoá không ngừng tăng lên, trong số đó đặc biệt là đồng Bitcoin nổi tiếng nhất. Karen Bleier/AFP

-20% đối với đồng dogecoin, - 19% đối với đồng ethereum, - 22% đối với đồng definity, công nghệ blockchain, với tham vọng vô bờ bến, thế mà lần huy động gần đây từng được coi như là một khởi đầu nhanh như chớp: hôm thứ Tư, ngày 19 tháng 5, sẽ được ghi nhận là ngày xảy ra sự sụp đổ nghiêm trọng của tiền mã hoá. Trong số đó, đồng Bitcoin, được biết đến nhiều nhất, đã giới hạn thiệt hại ở mức 8,5% ($ 39.587) sau khi đã giảm -30% trong ngày. Nó đã mất 39% giá trị so với giá trị kỷ lục đạt được vào tháng Tư.

Elon Musk, từ một thần tượng, đã trở thành kẻ tội đồ trên thị trường tiền mã hoá. Odd Andersen/AFP

Ngày nay, rất ít đồng mã hoá, trong số 5.000 đồng coin có thể thống kê được, có được một mức tăng trưởng cao. Những lần mới ra đời nhất? Đồng “FuckElon” hoặc đồng coin “StopElon”, tên gọi của chúng nói rất nhiều về danh tính của người chịu trách nhiệm cho đợt giảm giá lần này mà trên thực tế, đã bắt đầu từ hơn một tuần qua.

Cựu thần tượng của thế giới tiền mã hoá, Elon Musk, nhà lãnh đạo mang tính biểu tượng của công ty ô-tô Tesla, từ nay có vẻ như bị các thị trường [tiền mã hoá] coi là một Judas [kẻ phản bội] mới. Thậm chí, những người sáng lập đồng coin “StopElon” còn tuyên bố có tham vọng làm tăng giá đồng mã hoá mới của họ với mục đích mua lại các cổ phiếu [của công ty] Tesla và trục xuất [Elon Musk] khỏi vai trò lãnh đạo công ty. Tuy nhiên, mức giảm giá tương đối nhỏ của đồng Bitcoin dường như có thể được giải thích bởi các tín hiệu trấn an từ nó.

Print Friendly and PDF

4.6.21

Khoảng cách chênh lệch về giới trong ngành kinh tế là rất lớn - thậm chí còn tồi tệ hơn trong ngành công nghệ

KHOẢNG CÁCH CHÊNH LỆCH VỀ GIỚI TRONG NGÀNH KINH TẾ LÀ RẤT LỚN - THẬM CHÍ CÒN TỒI TỆ HƠN TRONG NGÀNH CÔNG NGHỆ

Tác giả: Veronika Dolar

Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen là người phụ nữ duy nhất đã làm chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang trong lịch sử hơn 100 năm của nó. Ảnh AP/Annie Rice

Không thiếu những chuyên ngành khoa học và ngành nghề kinh doanh đầy rẫy phân biệt đối xử vì giới tính. Các lĩnh vực STEM - khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học - đặc biệt nổi tiếng với các nền văn hóa có ác cảm với nữ giới.

Nhưng dựa trên kinh nghiệm cá nhân của tôi, kinh nghiệm của các nhà kinh tế học nữ đồng nghiệp của tôi dữ liệu cứng, tôi tin có lý do chính đáng để tranh luận rằng kinh tế học là lĩnh vực học thuật tồi tệ nhất đối với nữ giới.

Và hậu quả thì không chỉ nữ giới làm việc trong lĩnh vực này và phải chịu đựng các chính sách phân biệt đối xử vì giới tính và hành vi thù địch mới cảm nhận được. Các chính sách của chính phủ có thể sẽ rất khác nếu có nhiều phụ nữ hơn tham gia vào việc soạn thảo.

Print Friendly and PDF

3.6.21

Xây dựng lại một tiền sử của toán học (H. G. Zeuthen, 1893)

LÀM THẾ NÀO XÂY DỰNG LẠI MỘT TIỀN SỬ CỦA TOÁN HỌC? (1893)

Tác giả: Hieronymus Georg Zeuthen[*]
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Hieronymus G. Zeuthen (1839-1920)

Trong một khóa học sử, câu hỏi này luôn luôn được đặt ra: phải bắt đầu từ đâu?

Chúng ta có thể bắt đầu từ thời điểm có được những dữ liệu thực hiệu, đáng tin cậy, có thể dẫn tức khắc đến một tri ​​thc thc chng và chc chn: lúc đó công vic ca s gia là thiết lập một cách thật chính xác những công đoạn tiếp theo.

Chúng ta cũng có thể bắt đầu từ thời tiền sử, một khởi đầu lúc đó phải được suy ra từ không biết cơ man nào là thông tin và sự kiện hết sức tạp nhạp, mà nếu rút ra từng cái riêng lẻ, sẽ không thể có giá trị như một nguồn sử liệu đích thực. Trong trường hợp này, những dữ liệu gần gũi nhất với Lịch sử đúng như tên gọi, là các truyền thống và truyền thuyết về những phong tục, tập quán và biến cố được truyền tải bởi những tài liệu lâu đời nhất, và liên quan tới các thời đại còn xa xưa hơn nữa. Việc giải thích các truyền thuyết này phải dựa trên sự phát hiện ra những vật thể đã được sản xuất và sử dụng ở những thời điểm xa xôi ấy, những phát hiện mà ý nghĩa chỉ được làm sáng tỏ bằng cách so sánh, định vị loại vật thể này trong thời gian và không gian, để chính chúng sẽ góp phần làm sáng tỏ ngược lại những quan hệ từng tồn tại giữa những nơi chúng đã được tạo ra, đồng thời xác định sự tiếp nối của các chủng tộc đã sử dụng chúng trong thời gian. Và, những gì ta có thể nói, theo nhiều quan điểm khác nhau, về những vật thể đã được cứu giữ từ quá khứ này, thì ta cũng có thể nói về những ngôn từ mà chúng ta đã bắt gặp trong các sinh ngữ hoặc cổ ngữ khác nhau được biết, và nhờ vậy có thể xác định được tuổi tác của chúng: loại ngôn từ này xác nhận nội dung của các ý niệm tương ứng với những ý tưởng thời xưa [...]

Như vậy, chúng ta có thể thấy những sử gia và nhà khảo cổ học chuyên nghiệp, các nhà tự nhiên học và ngữ văn học đã phân loại – hoặc những phát hiện đầu tiên của họ, hoặc những từ vựng họ bắt gặp – theo niên đại của chúng, và những quan hệ giữa chúng với nhau. Tóm lại, mọi nhà giáo dục, tâm lý, dân tộc học, hay lý thuyết gia về nhận thức, … tất cả đều phải đóng góp phần của mình vào việc nghiên cứu tiền sử. Và nếu nó liên quan đến một chuyên ngành nào, thì chính chuyên gia của ngành ấy phải tự mình thiết lập cái quan hệ mật thiết giữa những sự kiện được cung cấp cho ông ta một cách hết sức hỗn độn ấy. [...]

Toán học cũng có tiền sử của nó, và không phải là cái ít quan trọng nhất. (...)

Print Friendly and PDF

2.6.21

Covid-19: một mình Trung Quốc cung cấp 70% liều vắc-xin cho các nước đang phát triển

COVID-19: MỘT MÌNH TRUNG QUỐC CUNG CẤP 70% LIỀU VẮC-XIN CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Hubert Testard

Vắc-xin Sinopharm của Trung Quốc đã được Tổ chức Y tế Thế giới phê chuẩn vào ngày 7 tháng 5 năm 2021. (Nguồn: CFR)

Ngày nay, với ba loại vắc-xin mà nước này xuất khẩu, Trung Quốc là nhà cung cấp [vắc-xin] hàng đầu cho các nước đang phát triển: với hơn 700 triệu liều đã hứa, và 231 triệu liều được cung cấp. Hội nghị thượng đỉnh y tế thế giới, ngày 21 tháng 5, là cơ hội để Tập Cận Bình nhắc lại đề xuất một năm trước đó về việc biến việc tiêm ngừa coronavirus thành “sản phẩm công cộng toàn cầu”. Tuy nhiên, mức đóng góp của Trung Quốc vào nỗ lực đa phương do WHO khởi xướng với chương trình Covax còn ở mức khiêm tốn. Trung Quốc vừa thông báo sẽ cung cấp cho chương trình Covax 10 triệu liều vắc-xin Sinopharm vừa được WHO phê chuẩn. Nhưng Trung Quốc không có đóng góp tài chính nào, trong khi các cam kết đóng góp tài chính của các nước phương Tây đã lên đến 9 tỷ US$. Thực ra, Châu Á nói chung đang chơi rất ít con bài đa phương, ngoại trừ Nhật Bản.

Thiết chế đa phương được triển khai để chống lại đại dịch dựa trên một kiến ​​trúc công-tư bao gồm một cơ chế khung, ACT (Access to COVID-19 Tools, cơ chế làm tăng tốc khả năng tiếp cận các công cụ ngừa Covid-19). Thiết chế này có bốn trụ cột: vắc-xin, liệu pháp, chẩn đoán và trang thiết bị bảo vệ. Trụ cột vắc-xin được gọi là Covax. Nó được đồng điều hành bởi WHO và GAVI [Global Alliance for Vaccines and Immunisation], Liên minh Toàn cầu về Vắc xin và Tiêm chủng được thành lập vào năm 2006, với các đối tác chính là WHO, UNICEF, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bill và Melinda Gates.

Print Friendly and PDF

31.5.21

Mức sinh bị ngưng trệ, có lẽ Trung Quốc không còn là nước đông dân nhất thế giới

MỨC SINH BỊ NGƯNG TRỆ, CÓ LẼ TRUNG QUỐC KHÔNG CÒN LÀ NƯỚC ĐÔNG DÂN NHẤT THẾ GIỚI

Tác gi: Pierre-Antoine Donnet

Tỷ suất sinh của Trung Quốc đang ở mức thấp nhất trong lịch sử. Sự kết thúc của chính sách một con vào năm 2015 đã không giúp gây ra một sự bùng nổ mức sinh. (Nguồn: SCMP)

Tiếng đồn râm ran ngày càng mạnh ở Bắc Kinh. Việc trì hoãn thông báo số liệu của Cục Thống kê quốc gia tiếp sức cho tiếng đồn này. Mức sinh sản đang hạ thấp và có lẽ Trung Quốc không còn là nước đông dân nhất thế giới, bị thay thế bởi Ấn Độ. Tình trạng chưa hề xảy ra này là rất quan trọng, vì nếu nó được kiểm chứng thì nó sẽ xác nhận điều người ta đã nghi ngờ bấy lâu: Trung Quốc sẽ không còn khả năng chi trả tiền hưu trí. Hiện tượng này lt ngược tình hình trên phương diện địa chiến lược: “giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình có bị nguy hại không?

Nhà cầm quyền Trung Quốc đã hứa sẽ thông báo vào ngày 10 tháng tư các kết quả đang được hết sức mong chờ của cuc tổng điều tra dân số quốc gia được thực hiện năm 2020. Cứ mỗi mười năm, các số liệu phải xác định dân số của cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới này. Thế nhưng đã không có gì cả. Từ đó có sự nghi ngờ có thể nhng số liệu này hàm chứa nhiều tai họa hơn dự kiến. Sau nhiều tuần có những suy luận như vậy, Cục Thống kê quốc gia lại một lần nữa trễ hạn, càng nung nấu thêm giả thuyết về một cuộc khủng hoảng dân số sâu sắc hơn dự đoán, với những hậu quả nặng nề về xã hội, kinh tế và địa chính trị đối với Trung Quốc vừa mới phục hưng của chủ tịch Tập Cận Bình, đã già nua trước khi giàu có.

Điều đó có nghĩa là các số liệu rất xấu. Và Cục Thống kê cần có thời gian đề điều chỉnh chúng”, những người sử dụng mạng Weibo, mạng tương đương với Twitter ở Trung Quốc đã chế giễu như vậy, theo trích dẫn của Le Figaro.
Print Friendly and PDF

30.5.21

Trung Quốc: Các nghị sĩ châu Âu đóng băng thỏa thuận đầu tư, một cái tát vào mặt Bắc Kinh

TRUNG QUỐC: CÁC NGHỊ SĨ CHÂU ÂU ĐÓNG BĂNG THỎA THUẬN ĐẦU TƯ, MỘT CÁI TÁT VÀO MẶT BẮC KINH

Pierre-Antoine Donnet

Nghị viện châu Âu “gắn việc dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt của Trung Quốc với thỏa thuận đầu tư”, theo nghị quyết được thông qua vào ngày 20 tháng 5 năm 2021. (Nguồn: La Croix)

Vào hôm thứ Năm, ngày 20 tháng 5, với đa số 599 phiếu thuận và 30 phiếu chống (58 phiếu trắng), Nghị viện châu Âu đã quyết định đóng băng vô thời hạn việc xem xét hiệp định Trung-Âu về đầu tư đã được ký kết vào ngày 30 tháng 12 năm ngoái, kết thúc các cuộc đàm phán kiên trì kéo dài suốt bảy năm qua. Một thất bại lớn về chính trị và ngoại giao đối với chế độ Trung Quốc.

Hiệp định Toàn diện về Đầu tư (CAI, Comprehensive Agreement on Investment), được Bắc Kinh và Brussels công bố ầm ĩ, cần phải được Nghị viện Châu Âu bỏ phiếu phê chuẩn để trở thành luật. Nhưng các Nghị sĩ của Nghị viện châu Âu (MEP, Member of the European Parliament) đã bỏ phiếu không xem xét cho đến khi Trung Quốc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt áp đặt lên các yếu nhân châu Âu. Nghị viện “gắn việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt của Trung Quốc với việc Liên minh châu Âu xem xét thỏa thuận về đầu tư”, điều này được chỉ rõ trong nghị quyết.

Trên thực tế, động thái này đã tập hợp được toàn bộ các đảng phái lớn đại diện trong Nghị viện châu Âu, bao gồm Đảng Nhân dân châu Âu (EPP), đảng của nhóm xã hội chủ nghĩa và dân chủ, cũng như Đảng Phục hưng và Đảng Xanh, trong một sự thống nhất hiếm thấy ở Brussels.

Print Friendly and PDF

29.5.21

Vòng đời sản phẩm

VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM

Product life cycle

Khái niệm vòng đời của một sản phẩm được sử dụng một cách thông thường trong phân tích công ti, và đặc biệt là kể từ việc công bố một bài viết của Vernon (1966) trên tạp chí Quarterly Journal of Economics. Thật vậy, một sản phẩm bán chạy được là do quyết tâm của một tổ chức. Do đó phải có một khởi đầu cho sự thương mại hoá này, coi như sự ra đời trên thị trường. Thường người ta xem là nếu một sản phẩm thoả mãn được một người tiêu dùng thì sẽ có thể thoả mãn những người tiêu dùng khác, và điều này đưa đến một số sản phẩm được doanh nghiệp bán ra. Tuy nhiên việc nhân bội người tiêu dùng không phải là không có giới hạn và thường đến một thời điểm thống kê số hàng bán đạt đến đỉnh và ở thế ổn định. Như thế, nếu không có gì thay đổi trong cung thì một sụt giảm số bán sẽ tiếp theo sự ổn định, rồi tiếp đó là biến mất hẳn. Chính như thế mà lí thuyết vòng đời sản phẩm đã xuất hiện trong thế giới của khoa học kinh tế và quản lí.

Lí thuyết này xuất phát từ một quan sát đơn giản: một sản phẩm ra đời, tăng trưởng, sống, suy tàn và chết đi như một hệ thống sinh động. Lợi thế chính của khái niệm là tạo điều kiện dễ dàng cho việc dự báo, chỉ cho những nhà ra quyết định trong một doanh nghiệp đâu là những mức thành tựu thương mại họ có thể đạt được trong tương lai với sản phẩm của mình. Tuy nhiên, nếu khái niệm cơ bản là khá đơn giản thì những phát triển dẫn đến việc cấu trúc hoá lí thuyết phải tính đến một số lớn tham số. Phải vô cùng thận trọng vì không có một mô hình chung áp dụng nguyên si được cho mọi sản phẩm. Mặt khác không ai tránh được những điều kiện của môi trường có thể làm gián đoạn trước thời hạn đời sống của một sản phẩm, đó là chưa tính đến là ngay chính trong nội bộ của tổ chức có thể có những lí do để can thiệp vào đường biểu diễn vòng đời của một sản phẩm. Do đó, không thể có những xác suất chính xác về những tuổi thọ của sản phẩm. Cung sản phẩm là quá đa dạng và chịu những thay đổi thường xuyên, những điều kiện cạnh tranh cũng thay đổi và trong dài hạn tiến hoá của thị trường là không dự báo được.

Print Friendly and PDF

27.5.21

Miến Điện: Nhóm đảo chính được giới tướng lãnh Thái Lan hậu thuẫn một cách kiên định

MIẾN ĐIỆN: NHÓM ĐẢO CHÍNH ĐƯỢC GIỚI TƯỚNG LÃNH THÁI LAN HẬU THUẪN MỘT CÁCH KIÊN ĐỊNH

Francis Christophe

Thống tướng Miến Điện Min Aung Hlaing được Thủ tướng Thái Lan Prayuth Cha-ocha tiếp đón tại Tòa nhà Chính phủ ở Bangkok vào ngày 3 tháng 9 năm 2019. (Nguồn: Southeast Asia Globe)

Các đơn vị quân đội Thái Lan được triển khai ở biên giới Miến Điện, là sự giúp sức cho nhóm đảo chính chống lại các phong trào ủng hộ dân chủ, bắt giữ các nhân vật đối lập tị nạn... Sự ủng hộ về chính trị của giới tướng lãnh Thái Lan dành cho những người đồng cấp ở Miến Điện diễn ra dưới nhiều hình thức. Sự đoàn kết đó cũng liên quan đến vấn đề tài chính: hai nhóm đảo chính là đối tác trong một tập đoàn ở Bermuda, do tập đoàn dầu khí Total của Pháp hợp doanh với tập đoàn Unocal của Mỹ, và sau này là tập đoàn Chevron, thành lập.

Một trăm ngày sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 2 ở Miến Điện, cuộc đàn áp đã khiến 800 người chết. Số người bị thương, người bị bắt giữ và người mất tích đã vượt con số chục nghìn người. Do mọi hoạt động bị tê liệt, Miến Điện đang trên bờ vực một cuộc nội chiến toàn diện, nơi gần như toàn bộ 54 triệu người dân, đoàn kết như chưa từng có trước đây, chống lại quân đội. Về phần giới tướng lãnh đảo chính, họ hưởng lợi từ sự hậu thuẫn kiên định và nhiều mặt của giới tướng lãnh Thái Lan.

Bản thân Thủ tướng Thái Lan hiện tại, Tướng Prayuth Chan Ocha, cũng lên nắm quyền vào năm 2014, khi dẫn đầu một cuộc đảo chính quân sự. Ông cũng đã chỉ đạo cuộc đàn áp diễn ra vào giữa những năm 2010 chống lại các nhân vật đối lập dân chủ bao gồm các vụ ám sát người trí thức tị nạn ở Lào[*], mà xác chết có nhiều vết tổn thương được vớt lên từ sông Mekong. Ở Campuchia, người tị nạn Thái Lan đã biến mất sau khi bị bắt cóc ở giữa phố Phnom Penh. Các nhân vật đối lập người Thái Lan khác, may mắn thoát khỏi bọn tay sai của Tướng Prayuth, thường đã xin tị nạn chính trị, đặc biệt ở Pháp. Giới lãnh đạo phương Tây đã đưa ra những lời phản đối chính phủ Thái Lan. Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã kết luận các cơ quan mật vụ quân sự của Bangkok có liên quan trong các vụ nói trên.

Print Friendly and PDF