27.10.26

Quyền lực và bất bình đẳng trong kinh tế chính trị học toàn cầu



QUYỀN LỰC VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC TOÀN CẦU
Nicola Phillips
International Affairs (Các Vấn đề Quốc tế), Tập 93, Số phát hành 2, ngày 01 Tháng 03 năm 2017, Các trang 429 — 444, https://doi.org/10.1093/ia/iix019
Ngày phát hành: ngày 01 tháng 03 năm 2017
Tóm tắt
Martin Wight (1913-1972)
Bất bình đẳng dưới mọi hình thức được xác định là vấn đề có tính then chốt toàn cầu và ngày càng trở thành vấn đề chính trị có tính quyết định của thời đại chúng ta. Có một bộ phận khổng lồ trong nghiên cứu học thuật nhằm tìm hiểu các động cơ ẩn sau những mô hình ngày càng nhiều về những bất bình đẳng kinh tế-xã hội trong nền kinh tế chính trị toàn cầu. Bài viết này, một phiên bản được chỉnh sửa của Bài Tưởng niệm Martin Wight vào năm 2016, đóng góp vào nỗ lực nghiên cứu về vấn đề này bằng cách tập trung vào một khía cạnh của bức tranh mà ngạc nhiên thay ít thu hút sự chú ý, đó là những hệ quả đối với những bất bình đẳng kinh tế-xã hội của một hình thức tổ chức công nghiệp cụ thể vốn đã trở thành nền tảng của nền kinh tế toàn cầu hiện nay – một nền kinh tế được tổ chức xung quanh các chuỗi giá trị toàn cầu và các mạng lưới sản xuất toàn cầu. Bài viết đề xuất một cách tiếp cận nhìn nhận bất bình đẳng sinh ra từ giao điểm của ba chiều kích về bất đối xứng - đó là các bất đối xứng về quyền lực thị trường, bất đối xứng về quyền lực xã hội và bất đối xứng về quyền lực chính trị - cả ba chiều kích trên đặt nền móng cho và kết tinh xung quanh chuỗi giá trị toàn cầu. Bài viết này giúp khám phá các cơ năng trên trong trường hợp cụ thể của lao động và bóc lột lao động trong các chuỗi giá trị toàn cầu, giống như một phương tiện đưa ra một góc nhìn rộng có giá trị liên quan đến các vấn đề lớn về quyền lực và bất bình đẳng trong kinh tế chính trị học toàn cầu hiện nay.
Phần phát hành: Bài nghiên cứu
Khi cuộc họp Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) được triệu tập tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 01 năm 2017, các chủ đề cuộc họp đã bị chi phối bởi các báo cáo từ Oxfam, bóc trần quy mô đáng kinh ngạc – và ngày càng tăng – của bất bình đẳng trong nền kinh tế chính trị toàn cầu. Tiếp nối một chủ đề nghiên cứu của tổ chức này trong nhiều năm qua, Oxfam trình bày những số liệu cập nhật cho thấy mức độ giàu có của 8 vị tỉ phú giàu nhất trên thế giới lớn hơn 50% tổng dân số trên thế giới nghèo nhất gộp lại.[1] Số liệu tương ứng cho năm 2016 là 62 người giàu nhất cho thấy sự gia tăng bất bình đẳng trong năm đó chủ yếu là do sự gia tăng các mức độ nghèo khổ ở Trung Quốc và Ấn Độ.[2] Các tổ chức quốc tế cho chúng ta biết rằng tình trạng đói nghèo cùng cực đã giảm đi đáng kể trong giai đoạn 1990 và 2015, ước tính rằng trong giai đoạn này số lượng người sống trong cảnh đói nghèo cùng cực (đây là những người có thu nhập 1,25 đô la Mỹ hoặc ít hơn trong một ngày) đã giảm hơn một nửa so với năm 1990, xuống dưới mức 10% dân số toàn cầu.[3] Tuy nhiên, những con số tổng hợp này đã che giấu bản chất về kết quả không đồng đều của những cải tiến trên toàn thế giới. Ngoài Trung Quốc, sự phát triển trên toàn cầu diễn ra không đồng đều, và việc suy giảm sự đói nghèo cùng cực xét trên tổng thể là chưa đủ để làm giảm số người sống trong điều kiện như vậy. Có lẽ đáng kể nhất, trong khi tỉ lệ đói nghèo giảm, thì tỉ lệ đói nghèo nói chung không có nhiều cải thiện: trên thực tế, từ năm 1981 đến năm 2008, số người sống dựa vào mức thu nhập hàng ngày nằm giữa ngưỡng chuẩn nghèo đói cùng cực là 1,25 đô la Mỹ và ngưỡng nghèo đói 2 đô la Mỹ mỗi ngày đã tăng lên gấp đôi.[4]
Jan Nederveen Pieterse (1946-)
Một cộng đồng nghiên cứu học thuật lớn đã phác họa các xu hướng bất bình đẳng theo thời gian và có quy mô trên toàn thế giới,[5] và tiến hành các công trình nghiên cứu năng động, cả thực nghiệm lẫn lí thuyết, nhằm tìm hiểu các nhân tố ẩn đằng sau sự chênh lệch lớn về kinh tế xã hội này, mà gần đây Jan Nederveen Pieterse mô tả một cách đúng đắn là “không có tiền lệ nào trong lịch sử và không có lí lẽ biện minh nào - về mặt kinh tế học, đạo đức hay về phương diện nào khác nữa”[6], và các nghiên cứu này về mặt chính trị theo nhiều cách đã tạo nên những chấn động và chấn thương. Không chỉ vì lí do đó, nhiệm vụ nghiên cứu về những động thái trên càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đóng góp của tôi cho nỗ lực này là tập trung vào một khía cạnh của bức tranh toàn cảnh vốn ít được chú ý: đó là các hệ lụy đối với bất bình đẳng về kinh tế-xã hội của một loại hình tổ chức công nghiệp cụ thể đã góp phần củng cố nền kinh tế toàn cầu hiện nay — một thứ được tổ chức xung quanh cấu trúc của chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và mạng lưới sản xuất toàn cầu (GPN).[7]
Các khái niệm GVC/GPN đề cập đến một mô hình sản xuất trên toàn cầu và trong từng khu vực, do các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) phối hợp và kiểm soát, mô hình sản xuất này được phân mảng theo chức năng và theo vùng địa lí.[8] Trong sự phân mảng theo chức năng của quá trình sản xuất, thương mại không còn là về trao đổi quốc tế sản phẩm cuối cùng nữa, mà là về các sản phẩm và dịch vụ trung gian, hay “thương mại theo nhiệm vụ”.[9] Sự phân mảng theo chức năng liên quan đến sự phân mảng theo địa lí, khi các công ty dẫn đầu từng bước sử dụng dịch vụ thuê ngoài và/hoặc chuyển bộ phận sản xuất ra nước ngoài, từ đó định hình các mô hình chuyên môn hóa mới trên phạm vi toàn cầu, và cũng định hình một chính sách toàn cầu mới về phân phối. Điều ngày càng được chấp nhận rộng rãi là chúng ta đang sống trong một thế giới có thể gọi là “Thế giới GVC” [thế giới của chuỗi giá trị toàn cầu – ND].[10] Đối với một nhóm các nhà quan sát, các GVC đã thực sự trở thành “xương sống và hệ thống thần kinh trung ương của nền kinh tế thế giới”.[11] Báo cáo Đầu tư Thế giới năm 2013 do Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên Hiệp Quốc ước tính rằng có khoảng 80% dòng chảy thương mại toàn cầu hiện đang chảy qua các GVC do các TNC kiểm soát.[12] Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính rằng cứ năm việc làm trên toàn thế giới thì có một việc làm liên quan đến quá trình sản xuất trong các GVC.[13] Hầu hết các tổ chức quốc tế chủ yếu tập trung vào việc phát triển kinh tế đều chọn và triển khai tích cực, theo những cách khác nhau, khái niệm và ngôn ngữ của các GVC, song song cùng với chính phủ của các quốc gia đang phát triển.[14] Theo chiều hướng này, chúng ta đã đạt đến một giai đoạn mà có lẽ có thể gợi ý rằng “mục tiêu nâng cấp ngành công nghiệp trong các GVC đã trở thành gần như đồng nghĩa với chính ngay sự phát triển kinh tế”.[15]
Trong mức độ mà lĩnh vực rộng lớn của kinh tế chính trị học quốc tế chậm chạp tính đến những gì đã trở thành một cuộc tranh luận lớn về chính sách và học thuật về GVC/GPN, thì điều có lẽ không thể tránh khỏi là các cơ năng liên quan đến “thế giới GVC” hiếm khi có mặt trong các cuộc tranh luận sôi nổi về bất bình đẳng vốn nở rộ suốt nhiều năm qua trong lĩnh vực nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, điều nổi bật là phần nhiều tài liệu nghiên cứu về GVC/GPN cũng cho thấy rất ít sự quan tâm trực tiếp đến vấn đề bất bình đẳng, mặc dù có những ước mong trong kinh văn trên muốn vượt khỏi phạm vi của sự phối hợp về mặt kinh tế giữa các doanh nghiệp để hướng đến điều ta có thể xem như là một kinh tế chính trị học có tính phê phán và bao trùm hơn về các GVC/GPN. Thực vậy, đôi lúc đã có nhận xét rằng việc nghiên cứu học thuật chuyên sâu về GVC/GPN đã “hội tụ với các cách tiếp cận thông thường về khả năng cạnh tranh và mất liên hệ với nguồn gốc phê phán của nó”[16], mặc dù có các trường hợp ngoại lệ cho sự khái quát hóa này.
Trước thực trạng này, trọng tâm bài viết này của tôi là tìm hiểu bằng cách nào động thái của một nền kinh tế toàn cầu do các GVC/GPN chi phối đã góp phần vào các mô thức bất bình đẳng mà chúng ta quan sát trên khắp thế giới. Mục đích của tôi là nhằm chứng minh rằng bất bình đẳng không phải là một “lỗi trong hệ thống” của thế giới GVC;[17] mà đúng hơn chứng minh rằng, một mặt, các động thái cơ bản của nền kinh tế toàn cầu được tổ chức theo cách này trực tiếp tạo ra những kết quả trên, nhưng mặt khác các động thái này lại phụ thuộc vào việc kiểm soát các bất bình đẳng hiện có để chúng có thể nổi lên và phát triển. Nói một cách khác hơn, các mô thức bất bình đẳng trên toàn cầu có tính quyết định để hiểu thế giới GVC được hình thành như thế nào từ những năm 1970 trở lại đây và cách mà nó tiếp tục phục vụ những lợi ích kinh tế và chính trị mạnh mẽ hưởng lợi từ hình thức tổ chức kinh tế toàn cầu này. Ngược lại, bản chất và hoạt động của thế giới GVC là thiết yếu để hiểu được các nhân tố của các mô thức bất bình đẳng mà chúng ta đã quan sát là đã được củng cố trong thời kì này, và xa hơn nữa là để hiểu được điểm nối giữa chính trị và kinh tế mà chúng ta tự nhận từ đầu năm 2017, một điểm bị chi phối bởi việc chuyển đổi mạnh mẽ của tình hình chính trị trong nước và quốc tế.
Những thành tố của các tài liệu nghiên cứu về GVC/GPN cung cấp một điểm khởi đầu nghiên cứu có giá trị qua việc nhận thức rằng hình thức tổ chức công nghiệp toàn cầu đặc biệt này đặt cơ sở trên các chiến lược của công ty để khai thác các bất đối xứng toàn cầu nghiêm trọng về quyền lực thị trường nhằm tạo ra và chiếm dụng lợi nhuận.[18] Nói cách khác các GVC tồn tại vì một lí do: chúng cho phép các công ty dẫn đầu huy động và khai thác những mối quan hệ quyền lực rất lớn của bất đối xứng giữa các công ty và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị, để kiểm soát cách thức, nơi và ai tạo ra giá trị, cũng như kiểm soát cách thức, nơi và ai thu được giá trị. Việc huy động các mối quan hệ bất đối xứng này của quyền lực thị trường đã tạo ra một nền kinh tế toàn cầu được đánh dấu bởi sự tích lũy đáng kể của cải và tài sản hiện nay đã được ghi nhận đầy đủ.[19]
Tuy nhiên, đề xuất của tôi ở đây là việc tập trung vào quyền lực thị trường vẫn còn quá hạn chế để làm cơ sở cho sự hiểu biết rộng hơn về việc làm thế nào mà bất bình đẳng đã được tạo ra và nhân rộng trong thế giới GVC. Thay vào đó tôi đề xuất là một cách nhìn nhận về bất bình đẳng phát sinh ở các giao điểm của ba chiều kích của bất đối xứng về quan hệ quyền lực được kết tinh trong và xung quanh các GVC — đó là các bất đối xứng về quyền lực thị trường, bất đối xứng về quyền lực xã hội và bất đối xứng về quyền lực chính trị. Bất đối xứng về quyền lực thị trường liên quan đến vị trí tương đối của các công ty trong cấu trúc của GVC, đặc trưng bởi quyền lực độc quyền của các công ty dẫn đầu và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung cấp,[20] và cách thức mà các vị trí tương ứng với mức độ kiểm soát sản xuất và việc chiếm dụng giá trị. Bất đối xứng về quyền lực xã hội đề cập đến các mô thức rộng hơn về đói nghèo, giàu có và bất bình đẳng trong các bối cảnh xã hội, trong đó các GVC sinh ra, cũng như giữa các tác nhân trong các GVC, và cách thức huy động các hình thức quyền lực xã hội để củng cố các mô thức này. Bất đối xứng về quyền lực chính trị đề cập đến các cơ năng chính trị rộng lớn hơn nhằm định hình việc quản lí các GVC, làm nổi bật sự tương tác giữa các lợi ích chính trị trong việc định hình cách quản lí các GVC, và xa hơn nữa là định hình nền tảng xã hội, ở quy mô địa phương, khu vực và trên toàn cầu. Ba chiều kích này của bất đối xứng được biểu trưng và cách điệu hóa trong hình 1, và nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi là nắm bắt cách mà các chiều kích này liên kết nhau và giao nhau nhằm tạo ra các mô thức quan sát được về các bất bình đẳng kinh tế xã hội.
Hình 1:
Chính trị kinh tế học về các chuỗi giá trị toàn cầu
Cách tiếp cận như thế mở ra một loạt các câu hỏi mở rộng và một phạm vị rộng mở cho việc nghiên cứu, cả hai đều vượt quá khả năng của một bài viết đơn lẻ. Do đó, tôi muốn có một mô hình thu nhỏ của những cơ năng này, thăm dò những khái niệm tất yếu có tính minh họa về cách tiếp cận theo mô hình tam giác này, cả trong lí thuyết lẫn trên thực tế, trong lĩnh vực lao động và bóc lột lao động cụ thể ở các GVC. Các mối quan hệ lao động là chìa khóa để hiểu cơ năng của việc tạo ra và chiếm dụng giá trị trong các GVC, cả về mặt tích tụ của cải lẫn đói nghèo và tính dễ bị tổn thương. Sự tập trung này đã làm sáng tỏ một góc nhìn rộng có giá trị về các vấn đề lớn về quyền lực và bất bình đẳng trong kinh tế chính trị học toàn cầu hiện nay. Bằng cách lần lượt xem xét từng chiều kích của bất đối xứng và khám phá những tương tác của chúng, tôi hi vọng sẽ làm sáng tỏ làm thế nào mà sự diễn tiến của các GVC lại tạo ra một phương pháp quan trọng mang tính phản biện qua đó các bất bình đẳng về kinh tế xã hội đã trở thành một nét đặc trưng của kinh tế chính trị học toàn cầu hiện nay.
Bất đối xứng về quyền lực thị trường
Hình 2 (bên dưới) minh họa sự phân bố giá trị trong quá trình sản xuất iPhone của Apple, cho chúng ta biết chỉ bằng thoáng nhìn về những gì cần biết về nơi mà giá trị được tạo ra và chiếm dụng trong các GVC, và bởi ai hoặc giá trị nào. Cái đập ngay vào mắt ta chính là hơn một nửa tổng giá trị về lợi nhuận, trong toàn bộ quá trình sản xuất, do công ty dẫn đầu - tập đoàn Apple - thu được. Mặt khác, các số liệu về chi phí lao động cho thấy mối quan hệ giữa vốn và lao động trong nền kinh tế toàn cầu với các tỉ lệ tương đối của từng nhân tố. Các chi phí nguyên vật liệu liên quan đến quá trình sản xuất lớn hơn rất nhiều so với chi phí đầu vào của con người liên quan đến lao động. Tỉ lệ lợi nhuận chảy vào các quốc gia mà iPhone được sản xuất ra là không đáng kể so với lợi nhuận chảy vào một công ty tư nhân duy nhất — nói theo ngôn ngữ của GVC/GPN là “công ty dẫn đầu” [tập đoàn Apple – ND].
Hình 2:
Nguồn: Kenneth L. Kraemer, Greg Linden and Jason Dedrick, ‘Capturing value in global networks: Apple’s iPad and iPhone’, July 2011; sao chép lại với sự cho phép
Tác động hạn chế của tài chính và đầu tư của Trung Quốc đối với quyền lực đàm phán của các nhà tài trợ truyền thống
Người ta cũng biết rằng chuỗi giá trị iPhone trải dài trên một phạm vi địa lí rộng lớn, với sự tập trung lớn nhất vào các nhà cung cấp ở khu vực Đông Á. Tuy nhiên, các mô tả thông thường của chuỗi giá trị chỉ tập trung vào các tầng trên của nó, cụ thể là các nhà máy đã đăng kí và các công ty cung cấp khổng lồ đang phát triển ở khu vực Đông Á, trong số đó tập đoàn Foxconn là nổi bật nhất trong lĩnh vực điện tử.[21] Chuỗi giá trị thực tế bao gồm hàng nghìn công ty và doanh nghiệp tham gia sản xuất cho Apple, nhưng không phải là nhà cung cấp đã đăng kí và không có quan hệ chính thức với tập đoàn Apple. Thường sẽ là các nhà thầu phụ cho các nhà cung cấp ở tầng thứ nhất hoặc tầng thứ hai, hoặc các bên không chính thức đang hoạt động trong những phần khó thấy nhất trong chuỗi giá trị. Việc mở rộng này đến các tầng liên quan đến quá trình sản xuất nguyên liệu thô cho ngành công nghiệp điện tử, mà trong quá trình sản xuất điện thoại di động bao gồm khoáng sản Coltan. Điều đáng chú ý là các lĩnh vực sản xuất này hầu như luôn bị loại khỏi các mô tả về chuỗi giá trị, và thường cũng bị loại khỏi các định nghĩa của chính các công ty về quy mô chuỗi cung ứng của họ. Đặc biệt điều này thường xảy ra trong các chuỗi giá trị được mô tả bằng các mối quan hệ lỏng lẻo giữa các công ty dựa trên các thoả thuận thầu phụ và không có quan hệ sở hữu với nhau, khác với những quan hệ được tổ chức trên quyền sở hữu và sự kiểm soát trực tiếp của một công ty dẫn đầu một mạng lưới các đơn vị trực thuộc. Thật vậy, độ dài và sự phức tạp của các chuỗi giá trị được tổ chức quanh các hợp đồng thầu phụ, trong lĩnh vực điện tử cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, có nghĩa là các hoạt động sản xuất ở các tầng thấp hơn bị loại bỏ, theo mọi nghĩa, khỏi thế giới của các nhà cung cấp đầu tiên và các công ty dẫn đầu. Điều phổ biến là người lao động ở các tầng thấp hơn của chuỗi giá trị, đặc biệt là trong các đơn vị không chính thức và môi trường xung quanh nó, hoàn toàn không biết đến các điểm đến cuối cùng của sản phẩm mà họ đóng góp để sản xuất hoặc của sản phẩm do công ty dẫn đầu hay nhà cung cấp kiểm soát việc sản xuất quá trình mà họ tham gia.
Việc bắt đầu với ví dụ minh họa của iPhone giúp nhấn mạnh đến điểm cốt lõi là quá trình toàn cầu hóa quá trình sản xuất theo những hướng trên không phải là ngẫu nhiên: các GVC đã được xây dựng có mục đích theo các lợi ích kinh tế và chính trị mạnh mẽ để mang lại một mô hình sản xuất toàn cầu hóa. Chúng tôi đã xác định rằng mô hình sản xuất này được điều khiển bởi các công ty dẫn đầu muốn tạo ra và khai thác các bất đối xứng về quyền lực thị trường trên toàn cầu vì lợi ích của việc tạo ra và thu được lợi nhuận, và nó cũng được các Nhà nước và các tác nhân chính trị khác tạo điều kiện và củng cố. Với sự trưởng thành của các GVC, hiện tại chính các công ty, chứ không phải nhà nước, đóng vai trò chính trong việc xác định sản phẩm sẽ được sản xuất ở đâu và theo những điều kiện nào, cũng như những gì sẽ được mua bán theo những điều kiện nào. Vì vậy, trong một mức độ lớn, các mô hình sản xuất toàn cầu, vốn trước đây từng được hình thành mạnh mẽ từ các chính sách của nhà nước, bây giờ trở thành các sản phẩm của sự quản lí chuỗi giá trị. Nhưng các nhà nước không phải là những tác nhân thụ động đứng ngoài cuộc: ngược lại, cùng với các lợi ích của các công ty đầy quyền lực, họ là các kiến ​​trúc sư của thế giới GVC, cung cấp các chức năng quản lí thuận lợi thông qua chính sách thương mại, chính sách phát triển, chính sách thuế doanh nghiệp, chính sách cạnh tranh và các chính sách khác.[22]
Chính sách cạnh tranh có lẽ là đặc biệt quan trọng. Việc nới lỏng chính sách cạnh tranh trên toàn thế giới phản ánh sự khoan dung chính trị lớn hơn nhiều đối với mức độ tập trung cao của thị trường cũng như mức độ cao của quyền lực thị trường vốn đặc trưng cho các công ty dẫn đầu trong các GVC, và kết quả là có các xu hướng tập trung của sự giàu có khổng lồ tạo thành một đặc điểm cốt lõi của kinh tế chính trị học toàn cầu về bất bình đẳng. Sự tập trung ngày càng tăng của quyền lực thị trường biểu hiện rõ ràng trong nhiều lĩnh vực. Ví dụ như trong các lĩnh vực bán lẻ (các tập đoàn Walmart, Amazon, Alibaba), phần mềm văn phòng và hệ điều hành (tập đoàn Microsoft), điện thoại thông minh (các tập đoàn Apple và Samsung), máy bay thương mại lớn (các tập đoàn Boeing và Airbus), nước giải khát (tập đoàn Coca-Cola) và các mạng lưới thẻ tín dụng (các tập đoàn Visa và MasterCard).[23] Một chính sách chủ yếu hỗ trợ cho xu hướng này là mở rộng sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao.[24]
Việc củng cố và huy động các bất đối xứng thị trường này dựa trên cơ cấu sản xuất, trong đó không ít doanh nghiệp rất lớn đứng đầu, trong nhiều trường hợp là các nhà bán lẻ mang thương hiệu có vị thế độc quyền, tức là các vị thế thống lĩnh thị trường và trong đó các cấp thấp hơn của quá trình sản xuất được đặc trưng bởi các thị trường đông dân và thị trường cạnh tranh khốc liệt.[25] Trong bối cảnh tập trung thị trường cao độ, bất đối xứng về quyền lực thị trường được củng cố bởi thực tế đơn giản là các nhà cung cấp phải đối mặt với lượng người mua hạn chế, dẫn đến một tình thế độc quyền mua, khi người mua thường có nhiều nhà cung cấp tiềm năng và có thể sử dụng quyền lực thị trường của mình để tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà cung cấp, đặc biệt là về điều kiện giá cả và điều kiện cung cấp.[26]
Các chiến lược của nhà sản xuất và nhà cung cấp để quản lí những áp lực thương mại này thường dựa trên các cơ chế về chi phí lao động và thực tiễn lao động, đặc biệt là ở những ngành sử dụng nhiều lao động và nhạy cảm về giá. Đặc biệt là khi các tiêu chuẩn chất lượng được yêu cầu cao, thì lực lượng lao động trở thành sân khấu chính để cắt giảm chi phí đầu vào; cũng như thế, trong các lĩnh vực mà ở đó các yêu cầu chính yếu là tính linh hoạt khi đối mặt với rủi ro thương mại đáng kể (dù vì các lí do là động thái theo mùa vụ hay là các điều kiện thương mại mang tính thay đổi cao), các mô hình kinh doanh được xây dựng xung quanh sự quản lí tích cực cung lao động, các điều kiện lao động và tiền lương. Đặc biệt trường hợp này xảy ra khi những khuyến khích để các bên liên quan từ bên ngoài tuân thủ các quy định về lao động và tiêu chuẩn xã hội là thấp: đối với phần lớn các công ty và doanh nghiệp “vô hình” trong nền kinh tế phi chính thức trong các lĩnh vực như may mặc, các biện pháp khuyến khích mà họ đối diện hướng đến chiều ngược lại, đặc biệt khi thị phần tiêu dùng của họ dựa vào sự cạnh tranh bằng giá cực thấp.[27] Các công ty và nhà cung cấp dẫn đầu đều có xu hướng theo đuổi các chiến lược định vị cho phép tiếp cận các môi trường như vậy để tiến hành sản xuất. Các công ty ở các lĩnh vực nhạy cảm về giá và thâm dụng lao động, cũng như các công ty dựa vào các chiến lược bán lẻ, đều ưa thích có ít quy định chặt chẽ và sẽ nỗ lực để tìm cách có được những điều kiện đó.[28]
Hậu quả là các công việc bấp bênh, không an toàn và bị bóc lột bùng nổ trong quá trình sản xuất toàn cầu trên khắp thế giới, điều này biểu hiện trong bức tranh lao động với một lực lượng lao động đáng kể tham gia vào quá trình này bao gồm lao động không chính thức, người di cư, lao động hợp đồng và lao động nữ,[29] và mở rộng ra đến cuối bức tranh lao động với việc sử dụng có mục đích lao động cưỡng bức.[30] Để quay trở lại ví dụ minh họa về tập đoàn Apple, các điều kiện được công bố và công khai trong chuỗi giá trị của nó minh họa cho một số hình thức bóc lột. Chúng ta biết rằng các hình thức bóc lột lao động đa dạng được ghi nhận trong chuỗi cung ứng của tập đoàn Apple và của các nhà sản xuất điện tử khác, đặc biệt từ nhiều tiết lộ về việc sử dụng lao động cưỡng bức, lao động sinh viên nhập cư và lao động trẻ em không được trả lương trong các nhà máy gia công sản phẩm cho các tập đoàn Apple, Samsung, HP, Dell và các công ty khác.[31] Khi theo dõi các điều kiện lao động trong chuỗi giá trị, chúng tôi bắt gặp hệ thống “kí túc xá” nổi tiếng ở Trung Quốc,[32] nơi người lao động thường làm việc trong không gian giới hạn của các nhà máy và phải sống trong nhà xưởng, đặc biệt để việc làm thêm giờ bắt buộc được dễ dàng; họ thường bị nhốt vào ban đêm, và làm việc trong những điều kiện mà ngành may mặc thường gọi là “sweatshop” (bóc lột thậm tệ). Tình trạng bóc lột và lao động cưỡng bức cũng được phổ biến xuống chuỗi giá trị trong sản xuất nguyên liệu. Việc khai thác mỏ Coltan ở Congo và các khu vực khác của châu Phi và Nam Mỹ liên quan mật thiết đến việc lạm dụng các quyền con người và lao động cưỡng bức; việc khai thác mỏ Coltan chủ yếu không bị quy định, và thường là bất hợp pháp và/hoặc liên quan đến việc mua bán trái phép và buôn lậu.[33]
Những điều kiện như trên trong quá trình sản xuất toàn cầu thường được mô tả như là một vấn đề trong và của thế giới “đang phát triển”. Chúng tôi thường tập trung vào các điều kiện trong các nhà máy may mặc ở Bangladesh, các nhà máy điện tử tại Đài Loan, ngành trồng trọt ở Nam Phi hoặc ngành hoa cắt cành ở Ecuador. Sự linh hoạt của lực lượng lao động và sự xói mòn các tiêu chuẩn lao động tại những nước theo truyền thống được xem là những nền kinh tế công nghiệp phát triển tiên tiến được quan sát và lí thuyết hóa đầy đủ, nhưng trong các cuộc tranh luận điều này thường có xu hướng ít được liên kết với các mối quan tâm đến quá trình sản xuất toàn cầu và đến các GVC/GPN. Tuy nhiên, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ, cơ năng của các GVC mở rộng đến các vị trí địa lí và xã hội thường không được bao gồm trong kinh văn trên, ở khu vực Bắc Mỹ hoặc Châu Âu, nơi chúng mang lại các xu hướng song song liên quan đến các chiến lược chuyển bộ phận sản xuất ra nước ngoài, thực tiễn lao động bao gồm cả áp lực lên tiền lương, hợp đồng và các điều kiện lao động, cũng như quy mô đáng kể của lao động cưỡng bức. Lao động di cư ở những địa điểm này đặc biệt dễ bị tổn thương trước các hình thức bóc lột thường được các tài liệu ghi nhận ở các “quốc gia đang phát triển” trong các GVC. Tất cả các hiện tượng này đều định hình những mô hình bất bình đẳng trong các bối cảnh trên, cả về phương diện làm thế nào mà các bất bình đẳng hiện nay tạo thuận lợi cho những cách làm này, lẫn về phương diện các kết quả của bất bình đẳng tác động đến việc sản xuất hoặc củng cố cho chính chúng.
Tuy nhiên chúng ta phải cảnh giác với sự khái quát hóa quá mức. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng những hình thức trên về bóc lột và lạm dụng các quyền lao động là không đồng đều hoặc phổ biến trong quá trình sản xuất toàn cầu, và có rất nhiều ngẫu nhiên gắn với bản chất và cấu trúc của chuỗi giá trị, mô hình sở hữu, loại hình và điều kiện thị trường lao động, môi trường chính trị và bối cảnh thể chế, hình thức của các sáng kiến ​​quản lí công và tư, bản chất của các thị trường tiêu dùng cuối cùng và các khả năng của trung gian lao động. Nghiên cứu thực nghiệm đáng nể đã tìm cách xác định những mô thức khả dĩ này và đề xuất những nơi nào, khi nào và trong trường hợp nào các quyền và tiêu chuẩn lao động có nhiều khả năng được bảo vệ hơn, và khi nào và dưới những hoàn cảnh nào chúng có thể bị vi phạm hơn.[34] Trong ý nghĩa này, không dễ dàng khẳng định rằng các GVC luôn và ở khắp nơi gắn liền với một kiểu logic cuộc “đua xuống đáy”, tạo ra hoặc đào sâu bất bình đẳng theo những cách thức giống hệt nhau.
Tuy nhiên, ở đây chúng ta đã thiết lập một tình huống cho sự hiểu biết cơ bản về các GVC như là việc xây dựng có chủ đích tạo điều kiện cho các công ty dẫn đầu để huy động các bất đối xứng về quyền lực thị trường nhằm tạo ra và chiếm dụng giá trị hoặc lợi nhuận và việc bóc lột lao động phát sinh trong và ngoài “các quy trình bình thường của quyền lực trong sản xuất”.[35] Chúng ta hiểu sâu sắc về sự tách biệt giữa nơi, cách thức và do ai và giá trị nào được tạo ra, cũng như chiếm dụng, trong nền kinh tế toàn cầu - nói cách khác là làm thế nào mà các cơ năng thương mại trong các GVC tạo ra và đào sâu hơn các bất bình đẳng về kinh tế xã hội trên toàn thế giới thông qua hai cơ chế sinh đôi tạo điều kiện tập trung mạnh mẽ quyền lực thị trường và cho phép sự sinh sôi nảy nở của các mô hình kinh doanh được hình thành dựa trên các chiến lược về bóc lột lao động. Đồng thời, các bất bình đẳng này không chỉ đơn thuần là kết quả, như chúng thường được hiểu trong những cuộc tranh luận về các tiêu chuẩn lao động. Chính xác hơn, nó gợi nhớ đến một tầm nhìn được thiết lập trong các lí thuyết kinh tế chính trị học cổ điển, rằng tiến triển của sản xuất phụ thuộc vào một tập hợp các điều kiện tạo thuận lời ban đầu cho bất bình đẳng — và điều này đưa chúng ta đến chiều kích thứ hai của cấu trúc tam giác được mô tả trong hình 1.
Bất đối xứng về quyền lực xã hội
Richard B. Freeman (1943-)
Làm thế nào mà những điều này cho phép bất đối xứng xã hội xảy ra, và những hình thức nào mà chúng hiện diện trong đó? Có ba khía cạnh đáng được chú ý. Thứ nhất là một xu hướng cấu trúc được thừa nhận rộng rãi, được Richard Freeman gọi là “great doubling” (sự nhân đôi vĩ đại) của lực lượng lao động trên thế giới do sự tham gia của Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ trong những năm 1990 vào nền kinh tế toàn cầu.[36] Trong thời kì thay đổi chính trị ở các quốc gia này, cùng với quá trình tự do hóa nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và các xu hướng nhân khẩu học, ông Freeman ước tính quy mô của lực lượng lao động toàn cầu đã tăng từ xấp xỉ 1,46 tỉ lên đến 2,93 tỉ nhân công trong giai đoạn 2000 – 2010, tạo ra một “sự điều chỉnh toàn cầu về lao động và vốn”.
Khía cạnh thứ hai là xu hướng song song trong việc thông qua khung chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hóa và gỡ bỏ kiểm soát liên quan đến quá trình toàn cầu hóa. Trên toàn thế giới, ở Vương quốc Anh và Hoa Kì cũng như ở Ấn Độ, Argentina, Mexico hoặc Nam Phi, các luật mới đã được thông qua để xóa bỏ các chế độ bảo vệ người lao động trước đây và để mang đến sự linh hoạt tối đa cho người sử dụng lao động trong việc giải quyết vấn đề lao động. Đồng thời, các cấu trúc nhà nước phúc lợi hiện có đã được tháo gỡ hoặc thu nhỏ trở lại, dẫn tới sự bùng nổ công việc tạm thời, bấp bênh, việc tôn vinh “tính dễ loại bỏ” là thuộc tính cốt lõi của lực lượng lao động mới toàn cầu này,[37] và vấn đề toàn cầu không chỉ là vấn đề thất nghiệp mà còn là các vấn đề bên dưới-việc làm.
Robert W. Cox (1926-)
Trong một đóng góp vào năm 1976, Robert W. Cox đã xác định một cấu hình xã hội ba lớp mới, bị một “lớp quản lí xuyên quốc gia” ở trên đỉnh thống trị, bên dưới lớp này là một lớp đông đảo “lao động được thiết lập” mà vào lúc bấy giờ bắt đầu được hiểu là thị trường lao động sơ cấp và cuối cùng là lớp “bên lề xã hội” là những người đã bị loại khỏi sản xuất công nghiệp hoặc bị buộc tham gia vào thị trường lao động thứ cấp thông qua các hình thức lao động bấp bênh rõ nét.[38] Ngày nay, trong khi tỉ lệ “những người bên lề xã hội” của Cox có thể tồn tại lâu dài trong các điều kiện loại trừ khỏi việc làm trong quá trình sản xuất toàn cầu, thì một tỉ lệ lớn hơn của lớp này hiện nay đã buộc tham gia vào quá trình sản xuất này, cũng cần nhắc lại ước tính của ILO đề cập ở trên là cứ năm việc làm trên toàn thế giới hiện nay thì có một việc làm liên quan đến các GVC.[39]
Cũng ghi nhận ở trên là các số liệu về nghèo đói toàn cầu gần đây cho thấy có sự suy giảm số người đói nghèo cùng cực, nhưng lại có sự gia tăng rõ nét của số người có mức thu nhập nằm giữa mức chuẩn nghèo cùng cực 1,25 đô la Mỹ mỗi ngày và ngưỡng nghèo đói 2 đô la Mỹ mỗi ngày. Sự gia tăng mật độ dân số này chủ yếu bao gồm những người cần lao nghèo khổ trên toàn cầu - một loại đối tượng mà tư duy chính sách kinh tế và phát triển chính thống từ lâu đã phải cố gắng để thích nghi với nó, vì trong tư duy này lao động được xem như là con đường thoát nghèo và là chìa khóa giảm nghèo. Vấn đề về tính bên lề trong ý nghĩa này chưa bao giờ được rõ rệt hay cấp bách hơn; nhưng tính bên lề lại bắt nguồn từ các điều kiện đưa vào hoạt động kinh tế toàn cầu cũng như là từ các điều kiện loại trừ khỏi hoạt động ấy. Khái niệm về “sự hội nhập bất lợi” rất hữu ích trong việc hiểu rõ những mô hình này và câu hỏi làm thế nào để hòa nhập vào hoạt động kinh tế toàn cầu có thể giúp cho nhiều người hành động để tạo ra hoặc củng cố cho sự nghèo kinh niên hơn là giảm bớt nó.[40]
Khía cạnh thứ ba đặc biệt xác đáng liên quan đến bất bình đẳng bắt nguồn từ sự di cư. Lao động di cư đã được xác định ở trên là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong lực lượng lao động toàn cầu mới này – và ở đây hiển nhiên là chúng ta quan tâm đến các nhóm lao động có trình độ thấp và được trả lương thấp và đồng thời cũng có thành phần nữ đáng kể rất phổ biến ở nhiều ngành. Động thái của việc làm bấp bênh và sự hội nhập bất lợi được phóng lớn bởi những đặc tính dễ bị tổn thương của lao động di cư, đặc biệt là khi họ làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức. Lao động di cư thiếu quyền lực để tham gia vào hoạt động mang tính chính trị liên quan đến tiền lương và điều kiện làm việc, và họ thiếu các quyền và quyền lợi gắn liền với quyền công dân hoặc nơi cư trú. Các luật chi phối tình trạng nhập cư hoặc các động thái di cư trong nước cũng thường được ban hành để loại bỏ công việc hoặc phúc lợi của những người lao động này, hạn chế khả năng của họ để tìm kiếm điều kiện làm việc thoả đáng bằng cách thay đổi người sử dụng lao động và cung cấp các cơ chế mà người sử dụng lao động có thể tận dụng để thao túng họ, đặc biệt là đối với người lao động không có giấy tờ, chẳng hạn như đe dọa tố cáo tới các cơ quan nhập cư. Lao động cưỡng bức và lao động trẻ em, mặc dù không phải là duy nhất, liên quan chặt chẽ đến bất bình đẳng gắn liền với lực lượng lao động di cư.[41] Do đó, chúng ta thấy sự nối kết phức tạp giữa các bất bình đẳng — chính trị, xã hội và kinh tế — làm tăng thêm xác suất lao động nhập cư phải gánh các hình thức bóc lột lao động thậm tệ hơn trong các GVC.
Các bất bình đẳng xã hội hiện tại này mang đến môi trường mà trong đó các cơ năng thương mại trong các GVC được phác thảo trong phần trước có thể phát triển mạnh mẽ. Trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ở các tầng thấp hơn của các GVC, quá trình toàn cầu hóa sản xuất đã được thúc đẩy bởi các công ty dẫn đầu theo đuổi các lợi thế địa phương để quản lí và giảm thiểu chi phí sản xuất, cũng như được tạo điều kiện bởi sự thay đổi cấu trúc của thị trường lao động toàn cầu và địa phương; các công ty thầu phụ lần lượt huy động các bất bình đẳng xã hội hiện có để xây dựng và duy trì một lực lượng lao động có độ linh hoạt cao dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực thương mại không ngừng về tiền lương và điều kiện làm việc. Có thể đưa ra giả thuyết rằng những động thái này dễ thấy nhất ở những nơi có lực lượng lao động dồi dào và tương đối ổn định, bởi trong trường hợp này, đòn bẩy của nhà tuyển dụng được tăng cường bằng sự cạnh tranh về việc làm giữa những người lao động, và điều đó làm tăng khả năng bóc lột (bao gồm cả những hình thức tồi tệ nhất liên quan đến lao động cưỡng bức). Ngược lại, ở nơi có lực lượng lao động khan hiếm, người sử dụng lao động có xu hướng tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc để thu hút và giữ chân người lao động.[42]
Charles Tilly (1929-2008)
Phần cuối cùng trong cuộc thảo luận của chúng ta liên quan đến các bất đối xứng về quyền lực xã hội có thể đóng góp vào việc tạo ra những mô hình bóc lột và bất bình đẳng này. Những gì mà Charles Tilly gọi là tập quán “phân loại xã hội” đề cập đến cách sử dụng các “dấu hiệu” cụ thể để thể chế hóa và cho phép phân biệt đối xử và bóc lột các nhóm người cụ thể. Theo lí thuyết của Tilly, “cơ chế tạo bất bình đẳng” của phân loại xã hội liên quan đến các dấu hiệu như giới tính, tuổi tác, chủng tộc, sắc tộc, tầng lớp, tôn giáo v.v. được triển khai bởi những người có quyền lực xã hội để kiểm soát việc tiếp cận “các nguồn lực tạo giá trị” và bảo vệ sự độc quyền của họ trong khía cạnh này.[43] Một quan điểm như vậy cho chúng ta một hiểu biết sâu sắc về bất bình đẳng kinh tế xã hội được tạo ra và tái tạo bởi các bất bình đẳng về quyền lực xã hội, mà từ đó trong bối cảnh GVC của chúng ta, các bất bình đẳng này tạo thuận lợi cho các mô hình loại trừ và/hoặc “sự hội nhập bất lợi” vốn đặc trưng cho nhiều lĩnh vực của sản xuất toàn cầu. Chính qua những cơ chế này, bất bình đẳng, theo cách nói của Tilly, trở nên bền vững, và thường mang tính liên thế hệ: sự loại trừ khỏi việc tiếp cận các nguồn lực tạo giá trị và các cơ hội được duy trì bất tận bởi các hậu quả của việc bóc lột trong các GVC, có lẽ đặc biệt là dưới những hình thức lao động cưỡng bức và lao động trẻ em.[44]
Bất đối xứng về quyền lực chính trị
Sau đây chúng ta sẽ bàn luận về điểm thứ ba của sơ đồ tam giác trong hình 1, quay lại điểm xuất phát của chúng ta về sự phân mảnh địa lí của quá trình sản xuất toàn cầu. Chúng ta đã tìm hiểu trường hợp kinh doanh minh họa cho kiểu mô thức này và các cơ sở xã hội của nó, nhưng bây giờ cần phải kết hợp một sự thừa nhận rõ ràng hơn về các bất đối xứng về quyền lực chính trị mà nó củng cố. Các bất đối xứng này có nhiều hình thức trong các lĩnh vực đa dạng về quản lí và chính sách, mà chúng tôi đã đề cập một số vấn đề trong đó (như quản lí nhập cư và tính cơ động của người lao động). Do bị hạn chế về độ dài bài viết, phần cuối cùng này sẽ tập trung vào chính trị học của việc kinh doanh trên toàn cầu và quy định.
Chúng tôi đã xác định rằng sự phân mảnh về mặt địa lí của quá trình sản xuất chủ yếu là do sự tìm kiếm của nhiều công ty thuộc nhiều lĩnh vực về các môi trường quy định và chính trị dễ dãi, đặc biệt là liên quan đến lao động và các tiêu chuẩn về môi trường. Tuy nhiên, không phải chỉ đơn giản là những điều kiện này tồn tại và các công ty quyết định dựa trên cơ sở đó. Chính xác hơn, các công ty dẫn đầu huy động quyền lực chính trị to lớn để tạo ra các điều kiện này và đảm bảo lợi ích của họ vẫn được duy trì. Trong cuộc cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu, nhiều quốc gia đang phát triển được khuyến khích để trở thành các địa điểm có chi phí thấp trong các GVC. Điều này, đến lượt nó, chuyển thành việc khuyến khích hạn chế chi phí điều tiết người sản xuất, cũng như khuyến khích giữ lương ở mức “cạnh tranh” và giới hạn khả năng của người lao động trong việc thành lập nghiệp đoàn lao động. Tương tự, các cơ chế thực thi vẫn kém phát triển hoặc khó thực hiện. Đối với nhiều quốc gia, những kết quả này xuất phát từ sự bất đối xứng đáng kể về quyền lực chính trị và từ quyền lực đàm phán vốn có giữa các chính phủ với các công ty xuyên quốc gia (cùng một số công ty địa phương). Mặt khác, áp lực ép buộc ít rõ nét hơn, nhưng động thái cạnh tranh của nền kinh tế toàn cầu và nhu cầu phát triển kinh tế vẫn sẽ thúc đẩy theo cùng một hướng, điều này được thúc đẩy thêm bởi quyền lực chính trị của doanh nghiệp xuyên quốc gia.
Bằng chứng về những động thái chính trị này rất nhiều. Luật Hợp đồng lao động của Trung Quốc năm 2008 yêu cầu, chẳng hạn như, tăng lương bổng và an sinh cho người lao động. Không ít công ty lớn đã phản ứng lại bằng cách chuyển các hoạt động của họ đến các quốc gia như Việt Nam hoặc Campuchia nơi mà môi trường điều tiết vẫn còn dễ dãi và thậm chí chi phí lao động còn thấp hơn.[45] Chúng tôi đã ghi nhận bằng chứng về sự gia tăng đáng kể theo thời gian các điều khoản được xây dựng trong các hiệp định đầu tư song phương nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài - trong đó chủ đầu tư được miễn áp dụng theo luật lao động mới hoặc được bảo đảm bồi thường thiệt hại từ các chính phủ quốc gia nếu luật đó được ban hành hoặc sửa đổi. Tương tự, một bộ phận nghiên cứu gần đây gắn với việc ra đời các Nguyên tắc Hướng dẫn về Kinh doanh và các Quyền Con người của Liên hợp quốc liên quan đến một cuộc khảo sát khoảng 90 hợp đồng về các dự án đầu tư quy mô lớn, trong đó tiết lộ là phần lớn các hợp đồng được soạn thảo với các nước bên ngoài Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) có các quy định để bảo vệ hoặc miễn cho các nhà đầu tư khỏi việc tuân thủ các luật mới về xã hội hoặc môi trường hoặc nhằm tạo điều kiện đền bù từ các chính phủ quốc gia cho các chi phí liên quan đến việc tuân thủ luật pháp.[46] Các đại diện của doanh nghiệp lớn có ghế trong các nghị viện và quốc hội trên khắp thế giới, và sử dụng quyền lực của vận động hành lang để bảo đảm luật pháp thuận lợi cho họ; đòn bẩy của họ rất mạnh mẽ đối với các chính phủ nói chung, và đặc biệt là đối với những người có quyền lực đàm phán rất yếu. Lập luận về các động cơ chính trị chống lại các quy định đối với các nền kinh tế tiên tiến cũng tương tự như như đối với các quốc gia đang phát triển, nơi mà những động thái chính trị giữa các chính phủ và doanh nghiệp lớn, cũng như sự tương đồng ý hệ giữa chúng, có những kết quả tương tự nhau về việc rút lại các quy định.
Nói tóm lại, các TNC tự thúc đẩy những “khoảng trống” trong quản trị công vốn cần thiết cho mô hình kinh doanh của họ để phát triển, làm việc cùng với một số nhà nước và thông qua các hình thức áp lực chính trị đối với các quốc gia khác. Như đã nêu ở trên, chính các công ty, chứ không phải các quốc gia, hiện nay đóng vai trò chính yếu trong việc xác định sản phẩm nào sẽ được sản xuất, ở đâu và trong những điều kiện nào, và sẽ trao đổi cái gì trên trường quốc tế. Đặc biệt, các công ty cũng đóng vai trò chính trong cách điều tiết sản xuất, kể cả thông qua các tiêu chuẩn về lao động và môi trường. Jill Esbenshade lập luận vào năm 2004 rằng “tam giác quyền lực” mới trong kỉ nguyên của chuỗi cung ứng toàn cầu (hoặc trong ngôn ngữ của chúng tôi là thế giới GVC) bao gồm các người sử dụng lao động, nhà thầu và chính phủ là những điểm chính trong bức tranh quản lí và điều hành.[47] Một số người khác lập luận rằng điều này đã cường điệu vai trò của chính phủ và cho rằng mô hình tam giác giờ đây bao gồm các thương hiệu, nhà máy hợp đồng và một số tổ chức phi chính phủ (phương Tây) tạo áp lực lên các công ty để cải tiến các tiêu chuẩn.[48] Nói tóm lại, việc quản lí trong một thế giới GVC được quan sát đã chuyển sang các chủ thể tư nhân và phải dựa vào các khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và tự điều tiết một cách tự nguyện của các doanh nghiệp, mở ra kỉ nguyên mới về “điều tiết tư nhân xuyên quốc gia”.[49] Trong một mô hình như vậy, chính các tổ chức phi chính phủ (NGO) và người tiêu dùng, chứ không phải các chính phủ và nhà nước, chịu trách nhiệm về việc các công ty thương mại phải giải trình.[50] Chúng tôi biết rằng mô hình này là không hiệu quả trong việc cải thiện các tiêu chuẩn, và một tài liệu nghiên cứu phong phú đã xuất hiện làm nổi bật những thiếu sót của quản lí khu vực tư nhân và CSR.[51]
Do đó, cuộc tranh luận gần đây đã chuyển sang một hướng quan trọng và thú vị về những loại sáng kiến quản lí, dưới những điều kiện nào, có thể tạo ra sự khác biệt trong việc cải thiện lực lượng lao động và các tiêu chuẩn khác trong nền kinh tế toàn cầu và những loại quy định hiệu quả nào có thể được hình thành trong bối cảnh của một thế giới bị chi phối bởi các chủ thể kinh doanh mạnh mẽ và các cơ năng cạnh tranh của các GVC.[52] Đã có nhiều sáng kiến về sự kết hợp giữa quản lí khu vực công và tư được xem là cần thiết để đạt được những cải tiến này, lập luận cho sự tiếp tục của cuộc tranh luận về chủ đề “sự phục hưng về điều hành” được cho là đang được tiến hành ở một số nơi trên thế giới. Đồng thời không nên quên rằng có rất nhiều ví dụ về các công ty tham gia thúc đẩy các sáng kiến về tính trách nhiệm và trách nhiệm giải trình có ý nghĩa với một số kết quả tích cực, cũng như không phải tất cả công ty đều tham gia vào các chiến lược tìm kiếm liên tục để lách hoặc làm suy yếu quy định chung của nhà nước. Điều thú vị là ở vương quốc Anh, trong quá trình soạn thảo Modern Slavery Act (Đạo luật Nô lệ Hiện đại) năm 2015, một số doanh nghiệp đã kích động ít nhất một yếu tố trong quy định của chính phủ do họ nhận thức được nhu cầu về một sân chơi bình đẳng cho lực lượng lao động trong thực tiễn. Đồng thời, như đã nêu trên đây, áp lực không ngừng trên các công ty điện tử từ các phương tiện truyền thông và các NGO đã dẫn tới một số sáng kiến ​​quan trọng để giải quyết vấn đề lạm dụng lao động trong chuỗi giá trị của các công ty này. Trong khi các công ty như tập đoàn Apple đã sẵn sàng thách thức việc làm thế nào để những sáng kiến này được thực hiện ​​sâu rộng, cam kết và/hoặc hiệu quả,[53] tuy nhiên một yếu tố bao gồm các hoạt động tiến bộ rõ ràng của một số chủ thể tư nhân phải được công nhận như là một phần quan trọng của bức tranh quản lí.
Lời cảnh báo cuối cùng sau đây là phù hợp. Chúng ta đã thấy rằng vẫn có một giả thiết phổ biến là các quốc gia và chính phủ “vắng mặt” trong thế giới GVC, bị loại khỏi nhiệm vụ quản lí và bị áp đặt bởi bất đối xứng về quyền lực chính trị, sự bất đối xứng ấy đã được ghi nhận, ngắn gọn cần thiết, trong cuộc thảo luận này. Giả thuyết này là sai lạc: Nhà nước vẫn là một phần cốt lõi của kinh tế chính trị học về quản lí, hoạt động như một kiến ​​trúc sư của thế giới GVC, và tự nó đang hoạt động trong một quá trình có mục đích chính trị để ủy thác hay quản lí “việc thuê ngoài” cho các tác nhân tư nhân.[54] Điều có vẻ như là những hình thức quản trị tư thuần túy luôn luôn và ở mọi lúc mọi nơi đều dựa trên các loại hình tương tác cụ thể với thẩm quyền của nhà nước và quản trị công.[55] Điều này không có nghĩa là các nhà nước và TNC đều thống nhất về mặt chính trị và phục vụ vì cùng một mục đích, chẳng khác gì như đơn giản cho rằng các quốc gia bị bất đối xứng về quyền lực chính trị kết tinh trong và xung quanh các GVC đánh bại. Một số nhà nước sẵn sàng về mặt chính trị hơn một số khác trong việc thách thức doanh nghiệp lớn thông qua các quy định hoặc các phương tiện khác. Tương tự, các cuộc tranh luận chính trị căng thẳng xảy ra giữa các nhà nước và công ty, khi họ đều đấu tranh để kiểm soát các điều kiện sản xuất và giá trị được tạo ra trong nền kinh tế toàn cầu. Các vụ tai tiếng về thuế là một trường hợp nghiên cứu về cuộc tranh luận này. Một trường hợp khác là sự căng thẳng giữa doanh nghiệp và chính phủ liên quan đến chính sách nhập cư và hậu quả của nó đối với nguồn cung lao động. Liên quan đến các tiêu chuẩn lao động, đã có một nền chính sách đổ lỗi cho nhau, khi các công ty có khuynh hướng quy trách nhiệm cho quy định của nhà nước và đổ lỗi cho những thiếu sót của nó, các quốc gia có khuynh hướng nhấn mạnh rằng đây là những vấn đề về chuỗi cung ứng, người tiêu dùng nhận được lời kêu gọi từ mỗi phía, người lao động tiếp tục làm việc trong các điều kiện bóc lột có hệ thống.
Bất đối xứng về quyền lực chính trị do đó tạo thành một phần quan trọng của hình ảnh về bất bình đẳng được tạo ra và tái tạo trong một thế giới GVC. Sự quản lí và môi trường chính trị, tóm lại, và quyền lực chính trị - bao gồm cả quyền lực công lẫn quyền lực tư - kết hợp bằng nhiều cách năng động với quyền lực thị trường và quyền lực xã hội để tạo ra các mô thức bất bình đẳng trong kinh tế chính trị học toàn cầu đã được quan sát rất nhiều trong những năm gần đây.
Kết luận
Bất bình đẳng dưới mọi hình thức xác định vấn đề toàn cầu và ngày càng trở thành vấn đề chính trị xác định thời đại chúng ta. Vào thời điểm viết bài này vào đầu năm 2017, sự đổi mới diễn ngôn công cộng đã tập trung vào bất bình đẳng trong một nỗ lực để hiểu các sự kiện chấn động như cuộc trưng cầu dân ý của vương quốc Anh rời Liên minh châu Âu [Brexit – ND], cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kì của Donald Trump và sự gia tăng các nhóm cánh hữu dân túy ở một số quốc gia. Các vấn đề về sự bất lợi, tha hóa và loại trừ đều là những yếu tố quan trọng cho sự xuất hiện đồng thời của các sự kiện và xu hướng trên. Tuy nhiên, việc tập trung vào con người và các thành phần trong xã hội bị quá trình toàn cầu hóa tha hóa và bị nghiền nát bởi các động thái phân phối của nó không thể nắm bắt được sự phức tạp đầy đủ của thời điểm chính trị mà chúng ta thấy mình trong đó. Cũng xác đáng không kém là vấn đề hệ thống hoạt động như thế nào: về mặt chính trị, làm thế nào mà các cơ hội được bảo vệ vì tập trung sự giàu có, quyền lực và lợi thế mà chúng ta đã tìm hiểu trong bài này và các bất bình đẳng về kinh tế, xã hội và chính trị có thể bị thao túng và được tái tạo vì mục đích đó.
Liệu điều này phải chăng có nghĩa là chúng ta đang nhìn thấy một cuộc khủng hoảng đáng kể của chủ nghĩa tư bản, một trật tự có thể mở ra một trật tự ổn định mới, vẫn là một câu hỏi mở và nó đáng được thận trọng chú ý.[56] Tôi đã lập luận ở đây rằng phạm vi rộng lớn và đang mở rộng hiện tại của bất bình đẳng toàn cầu không phải là một “lỗi hệ thống” của thế giới GVC, mà là nền tảng hoạt động của kinh tế chính trị học toàn cầu được hình thành xung quanh hình thức tổ chức công nghiệp liên quan đến các GVC - một kết quả nổi lên từ sự tương tác của các quyền lực của thị trường, xã hội và chính trị trong việc hỗ trợ trật tự kinh tế toàn cầu này. Trong phạm vi bài viết này, kết luận không thể phớt lờ là sự thay đổi ngày càng lớn sẽ không đủ để giải quyết những hệ quả phân phối của thế giới GVC. Phản ứng theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa bản địa bài ngoại của phe chính trị cánh hữu trong bối cảnh này là rất khó chấp nhận và rất đáng báo động đối với nhiều người, nhưng vẫn chưa gặp phải một thách thức từ các phe trung lập hay phe cánh tả. Cần có một tầm nhìn thuyết phục của một chính sách tiến bộ, theo tinh thần quốc tế mới có khả năng giải quyết các vấn đề về quyền lực và bất bình đẳng trong nền kinh tế chính trị toàn cầu đã dẫn chúng ta đến tình hình này và có khả năng tạo ra nền tảng cho các hình thức công bằng và bao dung của tăng trưởng và phát triển.
---
© The Author (s) 2017. Được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Oxford thay mặt cho Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia. Đã đăng kí Bản quyền. Để được cấp phép, vui lòng gửi thư điện tử: journals.permissions@oup.com.
Đây là bài viết Mở Truy cập được phân phối theo các điều khoản của Giấy phép phi thương mại Creative Commons Attribution, cho phép sử dụng lại, phát tán và sao chép dưới bất cứ hình thức hay phương tiện nào, miễn là văn bản gốc được trích dẫn phù hợp với thông lệ quốc tế. Để sử dụng lại với mục đích thương mại, vui lòng liên hệ journals.permissions@oup.com.
Nguyễn Việt Anh dịch
Nguồn: Power and inequality in the global political economy, International Affairs, March 01 2017.




[1] Deborah Hardoon, ‘An economy for the 99%: it's time to build a human economy that benefits everyone, not just the privileged few’, Oxfam Briefing Papers, 16 Jan. 2017. (Trừ khi có ghi chú khác tại phần trích dẫn, tất cả đường link URL được trích dẫn trong bài viết này đều có thể truy cập vào ngày 25/01/2017)↩

[2] Oxfam, ‘62 people own same as half world’, press release, 16 Jan. 2016; Larry Elliott, ‘World's eight richest people have same wealth as poorest 50%’, Guardian, 16 Jan. 2017.↩

[3] World Bank, ‘World Bank forecasts global poverty to fall below 10% for first time; major hurdles remain in goal to end poverty by 2030’, press release, 4 Oct. 2015; UN Development Program, The Millennium Development Goals Report 2015 (New York, 2015).↩

[4] World Bank, ‘An update to the World Bank's estimates of consumption poverty in the developing world’, briefing note, 29 Feb. 2012.↩

[5] Mẫu nhỏ chọn lọc từ các nghiên cứu: (Berkeley, CA: University of California Press, 1998); Branko Milanovic, The haves and the have nots: a brief and idiosyncratic history of global inequality (New York: Basic Books, 2001); Robert Wade, ‘Is globalization reducing poverty and inequality?’, World Development 32: 4, 2004, pp. 567–89; Thomas Piketty, Capital in the twenty-first century (Cambridge, MA: Belknap/ Harvard University Press, 2014); Anthony B. Atkinson, Inequality: what can be done? (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2015).↩

[6] Jan Nederveen Pieterse, ‘Global inequality: bringing politics back in’, Third World Quarterly 23: 6, 2002, p. 1024.↩

[7] Việc lựa chọn các tên gọi khái niệm trong cuộc tranh luận này, như mọi khi, đều gây tranh cãi, và theo quan điểm của tôi, sự khác biệt giữa các cách tiếp cận về GVC và GPN đã bị phóng đại theo những cách thức cản trở nỗ lực chung của các cách này. Mặc dù không hoàn toàn ủng hộ mỗi thuật ngữ, nhưng tôi vẫn thường sử dụng chúng ở trong bài này thay cho nhau, tôi thường thích sử dụng GVC hơn như một cách viết tắt cho các cấu trúc trong phần thảo luận, và thường sử dụng GVC/GPN để nói về lĩnh vực nghiên cứu.↩

[8] Đối với những phát biểu quan trọng trong lĩnh vực có trình bày nhiều sở thích về khái niệm, xem Gary Gereffi, ‘The organization of buyer-driven global commodity chains: how US retailers shape overseas production networks’, in Gary Gereffi and Miguel Korzeniewicz, eds, Commodity chains and global capitalism (Westport, CT: Praeger, 1994), pp. 95–122; Jeffrey Henderson, Peter Dicken, Martin Hess, Neil Coe and Henry Wai-Chung Yeung, ‘Global production networks and the analysis of economic development’, Review of International Political Economy 9: 3, 2002, pp. 436–64; Jennifer Bair, ed., Frontiers of commodity chain research (Stanford, CA: Stanford University Press, 2009); William Milberg and Deborah Winkler, Outsourcing economics: global value chains in capitalist development (Cambridge: Cambridge University Press, 2013).↩

[9] Gene Grossman and Esteban Rossi-Hansberg, ‘Trading tasks: a simple theory of offshoring’, American Economic Review 98: 5, 2008, pp. 1978–97.↩

[10] Frederick W. Mayer, Nicola Phillips and Anne Posthuma, eds, symposium on ‘The political economy of governance in a “global value chain world”’, New Political Economy, Jan. 2017.↩

[11] Olivier Cattaneo, Gary Gereffi and Cornelia Staritz, ‘Global value chains in a post-crisis world: resilience, consolidation and shifting end markets’, in Olivier Cattaneo, Gary Gereffi and Cornelia Staritz, eds, Global value chains in a post-crisis world: a development perspective (Washington DC: World Bank, 2010), p. 7.↩

[12] United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD), World Investment Report 2013. Global value chains: investment and trade for development (Geneva, 2013).↩

[13] International Labour Organization, World employment social outlook: the changing nature of jobs (Geneva, 2015).↩

[14] Gary Gereffi, ‘Global value chains in a post-Washington Consensus world’, Review of International Political Economy 21: 1, 2014, pp. 9–37.↩

[15] Milberg and Winkler, Outsourcing economics, p. 238.↩

[16] David Levy, ‘Political contestation in global production networks’, Academy of Management Review 33: 4, 2008, p. 951; Jennifer Bair, ‘Global capitalism and commodity chains: looking back, going forward’, Competition and Change 9: 2, 2005, pp. 153–80.↩

[17] Frederick W. Mayer and Nicola Phillips, ‘Outsourcing governance: states and the politics of a “global value chain world”’, New Political Economy, 4 Jan. 2017, p. 13, DOI: 10.1080/13563467.2016.1273341.↩

[18] Milberg and Winkler, Outsourcing economics; Raphael Kaplinsky, Globalization, poverty and inequality (Cambridge: Polity, 2005).↩

[19] Milberg and Winkler, Outsourcing economics; Mayer and Phillips, ‘Outsourcing governance’.↩

[20] Milberg and Winkler, Outsourcing economics, p. 103.↩

[21] Richard P. Appelbaum, ‘Giant transnational contractors in east Asia: emergent trends in global supply chains’, Competition and Change 12: 1, 2008, pp. 69–87; Jenny Chan, Pun Ngai and Mark Selden, ‘Apple, Foxconn and China's new working class’, in Richard P. Appelbaum and Nelson Lichtenstein, eds, Achieving workers’ rights in the global economy (Ithaca, NY: Cornell University Press, 2016), pp. 173–89.↩

[22] Mayer and Phillips, ‘Outsourcing governance’, pp. 9–10.↩

[23] Mayer and Phillips, ‘Outsourcing governance’, p. 9; see e.g. Milberg and Winkler, Outsourcing economics; Peter Nolan, Dylan Sutherland and Zhang Jin, ‘The challenge of the global business revolution’, Contributions to Political Economy 21: 1, 2002, pp. 91–110; Jacob A. Bikker and Katharina Haaf, ‘Competition, concentration and their relationship: an empirical analysis of the banking industry’, Journal of Banking and Finance 26: 11, 2002, pp. 2191–214; UNCTAD, Tracking the trend towards market concentration: the case of the agricultural input industry (Geneva, 2006).↩

[24] William E. Kovacic, ‘From Microsoft to Google: intellectual property, high technology, and the reorientation of US competition policy and practice’, Fordham Intellectual Property, Media and Entertainment Law Journal 23: 2, 2012, pp. 645–54.↩

[25] Milberg and Winkler, Outsourcing economics, pp. 123–4.↩

[26] Mayer and Phillips, ‘Outsourcing governance’, p. 9.↩

[27] Peter Knorringa, ‘Private governance and social legitimacy in production’, in Anthony Payne and Nicola Phillips, eds, The handbook of the international political economy of governance (Cheltenham: Edward Elgar, 2014), p. 368.↩

[28] Luc Fransen and Brian Burgoon, ‘A market for worker rights: explaining business support for international private labour regulation’, Review of International Political Economy 19: 2, 2012, pp. 236–66.↩

[29] Xem, về ý tưởng trong một lượng lớn tài liệu nghiên cứu: Alejandro Portes, Manuel Castells and Lauren A. Benton, eds, The informal economy: studies in advanced and less developed countries (Baltimore, MD: Johns Hopkins University Press, 1989); Ulrich Beck, The brave new world of work (Cambridge: Polity, 2000); Melissa Wright, Disposable women and other myths of global capitalism (London: Routledge, 2006); Matt Davies and Magnus Ryner, eds, Poverty and the production of world politics: unprotected workers in the global economy (Basingstoke: Palgrave, 2006); Marcus Taylor, ed., Global economy contested: power and conflict across the international division of labour (London: Routledge, 2008); Judy Fudge and Kendra Strauss, eds, Temporary work, agencies, and unfree labour: insecurity in the world of work (London: Routledge, 2013); Louise Waite, Gary Craig, Hannah Lewis and Klara Skrivankova, eds, Vulnerability, exploitation and migrants: insecure work in a global economy (Basingstoke: Palgrave, 2015).↩

[30] Andrew Crane, ‘Modern slavery as a management practice: exploring the conditions and capabilities for human exploitation’, Academy of Management Review 38: 1, 2013, pp. 45–69; Nicola Phillips, ‘Unfree labour and adverse incorporation in the global economy: comparative perspectives from Brazil and India’, Economy and Society 42: 2, 2013, pp. 171–96.↩

[31] Một vài tin tức trên các báo: ‘Apple admits it has a human rights problem’, Independent, 14 Feb. 2012; ‘Apple faces its “Nike moment” over working conditions in Chinese factories’, Guardian, 20 Feb. 2012; ‘Child labour uncovered in Apple's supply chain’, Guardian, 25 Jan. 2013; China Labor Watch, Apple's unkept promises: cheap iPhones come at high costs to Chinese workers (Hong Kong, 29 July 2013); Aditya Chakrabortty, ‘Forced student labour is central to the Chinese economic miracle’, Guardian, 14 Oct. 2013; ‘Apple bans “bonded servitude” for factory workers’, BBC News, 12 Feb. 2015; ‘Dell's China suppliers “break employment laws with illegal labour conditions”’, Telegraph, 5 Nov. 2013; ‘Brazil sues Samsung over labour violations’, Guardian, 14 Aug. 2013; ‘Samsung contractor suspended over child labor allegations’, New York Times, 14 July 2014; ‘Hewlett Packard directs its suppliers in China to limit student labor’, New York Times, 7 Feb. 2013↩

[32] Pun Ngai and Chris Smith, ‘Putting transnational labour in its place: the dormitory labour regime in post-socialist China’, Work, Employment and Society 21: 1, 2007, pp. 27–45.↩

[33] Dev Nathan and Sandip Sarkar, Blood on your mobile phone? Capturing the gains for artisanal miners, poor workers and women, Capturing the Gains Briefing Note no. 2, Feb. 2011.↩

[34] Những đóng góp quan trọng, bao gồm cả những phần tổng quan xuất sắc của những cuộc tranh luận này, xem Layna Mosley, Multinational production and labor rights (Cambridge: Cambridge University Press, 2011); Layna Mosley and David Singer, ‘Migration, labor and the international political economy’, Annual Review of Political Science 18, 2015, pp. 283–301; Layna Mosley, ‘Workers’ rights in global value chains: possibilities for protection and for peril’, New Political Economy, 4 Jan. 2017, pp. 1–16, DOI: 10.1080/13563467.2016.1273339.↩

[35] Jeffrey Harrod, Power, production, and the unprotected worker (New York: Columbia University Press, 1987), p. 4.↩

[36] Richard Freeman, ‘The great doubling: the challenge of the new global labor market’, Aug. 2006.↩

[37] Wright, Disposable women.↩

[38] Robert Cox, ‘Labor and the multinationals’, Foreign Affairs, vol. 54, Jan. 1976, pp. 351–2.↩

[39] Nicola Phillips, ‘Labour in global production: reflections on Coxian insights in a world of global value chains’, Globalizations, 5 Feb. 2016, DOI: 10.1080/14747731.2016.1138608.↩

[40] Xem các ví dụ: Geoffrey Wood, ‘Staying secure, staying poor: the “Faustian bargain”’, World Development 31: 3, 2000, pp. 455–71; Sam Hickey and Andries du Toit, ‘Adverse incorporation, social exclusion and chronic poverty’, Chronic Poverty Research Centre Working Papers no. 81 (Manchester, 2007); Stefano Ponte, ‘Developing a “vertical” dimension to chronic poverty research: some lessons from global value chain analysis’, Chronic Poverty Research Centre Working Papers no. 111 (Manchester, 2008); Nicola Phillips, ‘Informality, global production networks and the dynamics of “adverse incorporation”’, Global Networks 11: 3, 2011, pp. 380–97.↩

[41] Phillips, ‘Unfree labour’ Waite et al., Vulnerability. ↩

[42] Mosley and Singer, ‘Migration’, pp. 284–5.↩

[43] Tilly, Durable inequality, pp. 7–8.↩

[44] Nicola Phillips, Resmi Bhaskaran, Dev Nathan and C. Upendranadh, ‘The social foundations of global production networks: towards a global political economy of child labour’, Third World Quarterly 35: 3, 2014, pp. 428–46.↩

[45] Haiyan Wang, Richard P. Appelbaum, Francesca Degiuli and Nelson Lichtenstein, ‘China's new labour contract law: is China moving towards increased power for workers?’, Third World Quarterly 30: 3, 2009, pp. 485–501.↩

[46] John G. Ruggie, Just business: multinational corporations and human rights (New York: Norton, 2013), pp. 86, 136.↩

[47] Jill Esbenshade, Monitoring sweatshops: workers, consumers, and the global apparel industry (Philadelphia: Temple University Press, 2004), p. 33.↩

[48] Richard P. Appelbaum and Nelson Lichtenstein, ‘Introduction: achieving workers’ rights in the global economy’, in Appelbaum and Lichtenstein, eds, Achieving workers’ rights, pp. 3–4.↩

[49] Tim Bartley, ‘Institutional emergence in an era of globalization: the rise of transnational private regulation of labor and environmental conditions’, American Journal of Sociology 113: 2, 2007, pp. 297–351; Tim Büthe and Walter Mattli, The new global rulers: the privatization of regulation in the world economy (Princeton: Princeton University Press, 2011).↩

[50] Jill Esbenshade, ‘A review of private regulation: codes and monitoring in the apparel industry’, Sociology Compass 6: 7, 2012, p. 547; Kate MacDonald, The politics of global supply chains (Cambridge: Polity, 2014).↩

[51] Về ý tưởng, xem Peter Newell, ‘Citizenship, accountability and community: the limits of the CSR agenda’, International Affairs 81: 3, May 2005, pp. 541–57; Cynthia Stohl, Michael Stohl and Lucy Popova, ‘A new generation of corporate codes of ethics’, Journal of Business Ethics 90: 607, 2009, pp. 607–22; David Vogel, ‘The private regulation of global corporate conduct: achievements and limitations’, Business and Society 49: 1, 2010, pp. 68–87; Esbenshade, ‘A review’ Richard Locke, The promise and limits of private power: promoting labor standards in a global economy (Cambridge: Cambridge University Press, 2013).↩

[52] Xem Locke, The promise; Daniel Berliner, Anne Regan Greenleaf, Milli Lake, Margaret Levi and Jennifer Noveck, Labor standards in international supply chains: aligning rights and incentives (Cheltenham: Edward Elgar, 2015); Appelbaum and Lichtenstein, eds, Achieving workers’ rights.↩

[53] Các ví dụ Scott Nova and Isaac Shapiro, ‘Polishing Apple: fair labor association gives Foxconn and Apple undue credit for labor rights progress’, EPI briefing paper no. 352 (Washington DC: Economic Policy Institute, 8 Nov. 2012); Students and Scholars Against Corporate Misbehaviour, ‘FLA waters down rights violations at Apple Suppliers’, Hong Kong, 18 Feb. 2012.↩

[54] Mayer and Phillips, ‘Outsourcing governance’.↩

[55] Bartley, ‘Institutional emergence’ Kenneth W. Abbott and Duncan Snidal, ‘The governance triangle: regulatory standards institutions and the shadow of the state’, in Walter Mattli and Ngaire Woods, eds, The politics of global regulation (Princeton: Princeton University Press, 2009), pp. 44–88; Paul Verbruggen, ‘Gorillas in the closet? Public and private actors in the enforcement of transnational private regulation’, Regulation and Governance 7: 4, 2013, pp. 512–32.↩

[56] Wolfgang Streeck, How will capitalism end? Essays on a failing system (London: Verso, 2016).↩

Print Friendly and PDF