TRỐN THUẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG VỀ CỦA CẢI
Martin Anota
Đã có nhiều vụ bê bối trốn thuế lớn bị phanh phui trong những năm gần đây, đặc biệt vụ “SwissLeaks” vào tháng 2 năm 2015 và, gần đây hơn, là những tiết lộ của “Panama Papers [Hồ sơ Panama]” vào tháng 4 năm 2016. Những vụ bê bối này có thể dẫn đến việc các cơ quan chức trách tăng cường cuộc chiến chống lại vấn nạn trốn thuế, ngay cả khi có những mối lo ngại về những xung đột lợi ích có thể có và hoạt động vận động hành lang của một số định chế đang cản trở sự tiến triển của cuộc chiến này.
Những tiết lộ gần đây, trên hết, sẽ giúp không những có được một hình ảnh tốt hơn về thực tiễn trốn thuế, mà còn có được một hình ảnh tốt hơn về sự phân phối của cải, một điều hữu ích cho các cơ quan chức trách nhắm đến mục tiêu chống lại vấn nạn trốn thuế một cách tốt hơn và gia tăng hiệu quả của chính sách thuế. Trong thực tế, các cơ quan hành chính công thường dựa vào các cuộc kiểm tra ngẫu nhiên để ước tính số tiền thu nhập và của cải mà các hộ gia đình giấu giếm để tránh thuế, nhưng biện pháp kiểm soát này là không hoàn hảo. Thực vậy, các biện pháp đó không giúp nghiên cứu thực tiễn trốn thuế trong các hộ gia đình giàu nhất, một mặt, bởi vì cơ số mẫu thu thập còn quá hẹp, và mặt khác, bởi vì các cơ quan chức trách không có đủ phương tiện để nắm bắt các hình thức trốn thuế phức tạp, và chính các hình thức này liên quan đến nhiều thực thể trung gian tài chính khác nhau ở nước ngoài.
![]() |
| Gabriel Zucman (1986-) |
Trong một nghiên cứu gần đây, Annette Alstadsæter, Niels Johannesen và Gabriel Zucman (2017) đã tìm cách ước tính mức độ trốn thuế ở các nước giàu bằng cách kết hợp những thông tin thu thập được từ các cuộc kiểm tra thuế ngẫu nhiên với những dữ liệu bị rò rỉ qua vụ SwissLeaks và những tiết lộ của Hồ sơ Panama. Họ tập trung nghiên cứu vào ba quốc gia vùng Scandinavia, trong trường hợp này là Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch. Họ khẳng định rằng thực tiễn trốn thuế càng quan trọng khi mức độ của cải càng lớn. Ở các nước vùng Scandinavia, trung bình có khoảng 3% tiền thuế không thanh toán từ vấn nạn trốn thuế, nhưng tỷ lệ này có phần tăng lên khi phóng to nhìn về hướng những tầng lớp cao hơn của sự phân phối tài sản, ban đầu một cách chầm chậm, rồi sau đó tăng mạnh trong bách phân vị cuối cùng: tỷ lệ trốn thuế tăng lên 30% đối với số 0,01% hộ gia đình giàu nhất, có nghĩa là đối với những hộ gia đình sở hữu một di sản trên 40 triệu US$ (xem Biểu đồ 1).
Biểu đồ 1: Số tiền thuế bị thất thoát từ vấn nạn trốn thuế theo nhóm giàu có (tính bằng % tiền thuế phải nộp)
Những kết quả này có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu các bất bình đẳng về của cải. Trong chừng mực mà các nhà kinh tế thường dựa vào những dữ liệu thuế để đánh giá sự bất bình đẳng về của cải và khi mà vấn nạn trốn thuế đặc biệt tập trung vào số những người giàu nhất, thì sự bất bình đẳng về của cải (đã cho thấy một sự tập trung cao độ) có thể còn cao hơn những gì chúng ta có thể nghĩ cho đến nay. Zucman và các đồng tác giả của ông lấy ví dụ của Na Uy: số liệu thuế cho thấy 0,1% những người giàu nhất sở hữu 8% tài sản của quốc gia; nhưng khi có tính đến vấn nạn trốn thuế thì tỷ lệ này sẽ tăng lên 10% (xem Biểu đồ 2). Đối với 330 hộ gia đình, đại diện cho 0,01 % những người giàu nhất ở Na Uy, khi có tính đến vấn nạn trốn thuế thì sẽ dẫn đến việc định giá lại tài sản của họ lên một phần ba.
Biểu đồ 2: Tỷ lệ của cải của quốc gia thuộc sở hữu của 0.1% những người giàu nhất ở Na Uy (%)
Trong khuôn khổ mà những thập niên vừa qua được đánh dấu bởi một quá trình toàn cầu hoá tài chính, yếu tố đã làm gia tăng khả năng trốn thuế, thì việc xem xét khả năng trốn thuế dẫn đến việc cho rằng sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, kể từ những năm 1970 ở các nước phát triển, có thể còn quan trọng hơn những gì chúng ta đã từng nghĩ cho đến bây giờ (xem Biểu đồ 2). Đặc biệt, trong chừng mực mà các hộ gia đình giàu có ở các nước châu Âu khác, và rộng hơn, ở phần còn lại của các nước phát triển, sở hữu nhiều của cải hơn ở nước ngoài so với các nước vùng Scandinavia, thì sự bất bình đẳng có thể phải được điều chỉnh lại trên quy mô lớn hơn nữa cho các nước phát triển khác, nhiều hơn điều mà Zucman và các đồng tác giả của ông đã làm trong trường hợp của Na Uy.
Thực tiễn trốn thuế rõ ràng đã có những hệ lụy quan trọng đối với nền tài chính công. Trong chừng mực mà các chính phủ bị thất thoát doanh thu về thuế, thì họ buộc phải vay nợ, hoặc buộc phải tăng thuế, nếu muốn duy trì mức độ chi tiêu công. Nếu tăng thuế, họ có nguy cơ thúc đẩy các hành vi trốn thuế và tránh thuế. Nhưng, khi mà những người có thu nhập cao nhất cũng là những người có tính cơ động cao nhất ở cấp độ quốc tế so với những người đóng thuế khác, thì chính phủ các nước có nguy cơ làm tăng gánh nặng thuế của các tầng lớp trung lưu...
Zucman và các đồng tác giả của ông đã đặt câu hỏi liệu các hộ gia đình giàu nhất có đóng thuế nhiều hơn không, trong trường hợp mà khả năng trốn thuế bị hạn chế mạnh; điều này thực sự có thể xảy ra nếu hành vi trốn thuế (bất hợp pháp) ít có khả năng được thay thế bằng các hành vi tránh thuế (hợp pháp). Zucman và các đồng tác giả của ông đã phân tích hành vi của nhiều người Na Uy, những người, để được khoan hồng tha khỏi bị tội trốn thuế, đã tự nguyện tiết lộ đã giấu một phần tài sản của mình trong quá khứ để tránh thuế. Các tác giả nhận thấy rằng những cá nhân này sau đó, một khi tự nguyện chấm dứt hành vi trốn thuế, đã không còn tìm cách tránh thuế nữa. Cuối cùng, những kết quả này cho thấy cuộc chiến chống lại vấn nạn trốn thuế là một công cụ hiệu quả để thu thêm thuế từ thu nhập của những người giàu nhất.
![]() |
| Martin Anota |
Tài liệu tham khảo
Martin Anota
Giáo sư Kinh tế và Khoa học Xã hội (SES) tại lycée René Descartes, Champs-sur-Marne (Seine-et-Marne), Martin Anota cũng có hai blog khác: D’un champ l’autre và Annotations.
Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch
Nguồn: Evasion fiscale et inégalités de richesse, Alternatives Economiques, 29/05/2017.



