15.10.26

Giải Nobel Kinh tế được trao cho công trình nghiên cứu về ổn định nền kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng

GIẢI NOBEL KINH TẾ ĐƯỢC TRAO CHO CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG

Hai nhà kinh tế học cùng được trao giải cho những công trình phát triển từ các lý thuyết từng góp phần định hướng sự can thiệp của các chính phủ trong đại dịch COVID-19.

Philip Ball

Nguồn: Jonathan Nackstrand/AFP trên Getty

Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển về các khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 2026 đã được trao cho hai nhà kinh tế học Robert E. Hall và Michael Woodford vì những nghiên cứu về cách ổn định nền kinh tế, từ đó tránh những biến động trong lạm phát, tăng trưởng và việc làm gây thiệt hại về mặt kinh tế và xã hội.

Theo ủy ban trao giải, công trình này “đã tạo ra một sự thay đổi hệ chuẩn mang tính đột phá trong chính sách bình ổn và hiện đang được các ngân hàng trung ương và các bộ tài chính trên toàn thế giới sử dụng”.

“Đây đúng là quyết định trao giải tuyệt vời, vinh danh hai nhà kinh tế học xuất chúng và có tầm ảnh hưởng lớn”, nhà kinh tế học John Cochrane thuộc Viện Hoover, một tổ chức nghiên cứu đặt tại Đại học Stanford, cho biết. Olivier Blanchard, cựu kinh tế trưởng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nói rằng những người đoạt giải đã “thay đổi sâu sắc cách thức điều hành chính sách tiền tệ”.

Theo Cochrane, có “ít nhất cả tá ứng viên xứng đáng” cùng chia sẻ giải thưởng trong lĩnh vực này. Ông nói: “Tôi chẳng muốn rơi vào tình thế phải quyết định chọn ra hai hoặc ba người để vinh danh của ủy ban giải Nobel đâu”, nhưng “ai thì cũng sẽ xếp Hall và Woodford lên hàng đầu danh sách”.

Trong buổi công bố giải thưởng, Woodford đã trả lời phỏng vấn qua điện thoại và cho biết ông “cực kỳ phấn khởi” khi nhận được giải thưởng này. Ông nói thêm rằng lý thuyết của mình không chỉ nhằm mục đích định hướng chính sách mà còn giúp các chính phủ giải thích cho công chúng hiểu tại sao họ lại can thiệp kinh tế theo cách đó, “để giải thích tại sao những biện pháp đang triển khai lại được chọn thực thi”.

“Cùng nhau, những đóng góp của Hall và Woodford đặt nền móng mới cho lý thuyết về biến động kinh tế vĩ mô”, ủy ban Nobel nhận định, “cho phép chúng ta hiểu sâu hơn về nguồn gốc và cơ chế lan truyền của các cuộc suy thoái và bùng nổ kinh tế”.

Sự trở lại của Keynes

Công trình nghiên cứu của hai người đoạt giải, cùng chia sẻ giải thưởng trị giá 12 triệu kronor Thụy Điển (khoảng 31 tỷ đồng), dựa trên những ý tưởng của nhà kinh tế học người Anh thế kỷ XX, John Maynard Keynes.

Nguồn: Tim Gidal/Picture Post/Hulton Archive/Getty

Keynes lập luận rằng các chính phủ cần can thiệp trên quy mô lớn trong thời kỳ kinh tế bất ổn để tránh các cuộc khủng hoảng và thất nghiệp hàng loạt như trong cuộc Đại suy thoái những năm 1930. Trong các cuốn sách như How to Pay for the War (tạm dịch: Làm thế nào để trang trải chi phí chiến tranh), được xuất bản ngay sau khi Anh tuyên chiến với Đức Quốc xã (Macmillan, 1940), Keynes lập luận rằng, nếu chỉ dựa các lực lượng thị trường thì nền kinh tế sẽ không có đủ sự linh hoạt để ứng phó với những cuộc khủng hoảng như vậy.

Các ý tưởng của Keynes bắt đầu có sức ảnh hưởng lớn từ giữa thế kỷ 20. Và chúng vẫn còn phù hợp cho đến tận đại dịch COVID-19, khi các chính phủ trên toàn thế giới tài trợ cho các doanh nghiệp để họ duy trì đội ngũ nhân sự của mình trong thời gian phong tỏa. Nhưng những ý tưởng này không ngăn được những đợt bùng nổ và suy thoái của nền kinh tế, điển hình như cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Hiệu ứng Hall và Woodford

Công trình nghiên cứu của Hall và Woodford đã giúp giải thích những gì còn thiếu trong bức tranh kinh tế vĩ mô của Keynes – nghiên cứu về toàn bộ nền kinh tế – bằng cách đi sâu vào khía cạnh kinh tế vi mô, xem xét cách các quyết định của từng doanh nghiệp và hộ gia đình ảnh hưởng đến giá cả, thu nhập và chi tiêu.

Hall, làm việc tại Đại học Stanford ở California, nhận ra rằng các quyết định tiêu dùng của con người không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố có thể định lượng được như thu nhập mà còn phụ thuộc vào cái mà chính Keynes gọi là “bản năng động vật” [animal spirits]: các yếu tố tâm lý thúc đẩy các lựa chọn kinh tế, trong trường hợp này là những kỳ vọng về tương lai.

Trong hai bài báo quan trọng, vào năm 1978 và năm 1982, Hall đã chỉ ra rằng có thể ước tính tỷ lệ người tiêu dùng có góc nhìn duy lý về những thay đổi khả dĩ trong tương lai của các chính sách tiền tệ và tài khóa, cũng như những người trái lại lại đưa ra quyết định tiêu dùng chỉ dựa trên viễn cảnh ảm đạm trước mắt là không có tiền tiết kiệm hoặc không thể tiếp cận khoản vay. Về bản chất, điều này tương đương với việc ước tính tỷ lệ người có tính đến tương lai khi quyết định chi tiêu và tỷ lệ người không làm vậy. Hall đã kiểm chứng các dự đoán của mình bằng dữ liệu thực tế về tiêu dùng.

Woodford, làm việc tại Đại học Columbia ở New York, đã dựa trên những nghiên cứu về kỳ vọng như vậy để tạo ra một lý thuyết kinh tế vi mô “Keynesian mới” [New Keynesian], mà phần đắt giá nhất đã được đúc kết trong cuốn Interest and Prices: Foundations of a Theory of Monetary Policy (tạm dịch: Lãi suất và Giá cả: Những nền tảng của Lý thuyết Chính sách Tiền tệ) (Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2003).

Kinh tế học dành cho các nhà điều hành ngân hàng trung ương

Ngày nay, mô hình này được các ngân hàng trung ương như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Anh và Ngân hàng Trung ương Thụy Điển (Riksbank), đơn vị sáng lập và tài trợ giải thưởng Nobel kinh tế, sử dụng như một công cụ chính sách tiền tệ. Họ dùng mô hình này để tạo ra các can thiệp, chẳng hạn như thay đổi lãi suất, nhằm giảm thiểu biến động trong tăng trưởng và lạm phát.

Mô hình này dự đoán rằng có một mức lãi suất lý tưởng, không quá thấp đến mức người ta chi tiêu thay vì đầu tư, cũng không quá cao đến mức họ làm ngược lại. Mô hình cũng cung cấp một công cụ xây dựng chính sách tài khóa: làm sao xác định các mức thuế suất phù hợp nhất, vốn cũng ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của người dân.

“Tác phẩm đồ sộ của Woodford tập trung chủ yếu vào chính sách tiền tệ và những gì Cục Dự trữ Liên bang (Fed) có thể và nên làm”, Cochrane nói. “Ông ấy chỉ ra cách Fed có thể tác động đến nền kinh tế bằng cách thiết lập lãi suất, điều mà Fed vẫn thường làm.”

Tuy nhiên, nhà kinh tế học Jim O'Neill, cựu bộ trưởng Tài chính Anh, hiện đang là cố vấn không chính thức cho Thủ tướng Anh Andy Burnham, cảnh báo “những nền tảng của khuôn khổ lý thuyết đem về giải thưởng cho Hall và Woodford đã bị nhiều chính phủ đương nhiệm bỏ quên”. Ông lo ngại rằng các quốc gia có xu hướng cắt giảm thuế khi nền kinh tế suy yếu, nhưng lại không điều chỉnh thuế cho phù hợp khi kinh tế khá hơn.

doi: https://doi.org/10.1038/d41586-026-03251-4

Huỳnh Thị Thanh Trúc dịch

Nguồn: Economics Nobel awarded for work on stabilizing economies in crisis, Nature, 12 October 2026.

Print Friendly and PDF