GIẢI NOBEL KINH TẾ ĐƯỢC TRAO CHO CÔNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU VỀ ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG
Hai nhà kinh tế học cùng được trao giải cho những
công trình phát triển từ các lý thuyết từng góp phần định hướng sự can thiệp của
các chính phủ trong đại dịch COVID-19.
![]() |
| Nguồn: Jonathan Nackstrand/AFP trên Getty |
Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển về các khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 2026 đã được trao cho hai nhà kinh tế học Robert E. Hall và Michael Woodford vì những nghiên cứu về cách ổn định nền kinh tế, từ đó tránh những biến động trong lạm phát, tăng trưởng và việc làm gây thiệt hại về mặt kinh tế và xã hội.
Theo ủy
ban trao giải, công trình này “đã tạo ra một sự thay đổi
hệ chuẩn mang tính đột phá trong
chính sách bình ổn và hiện
đang được các ngân hàng trung ương và các bộ tài chính trên toàn thế giới sử dụng”.
“Đây đúng là quyết
định trao giải tuyệt vời, vinh danh hai nhà kinh tế học xuất
chúng và có tầm ảnh hưởng lớn”, nhà
kinh tế học John Cochrane thuộc Viện Hoover, một tổ chức nghiên cứu đặt tại Đại học Stanford, cho biết. Olivier
Blanchard, cựu kinh tế trưởng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nói rằng những người đoạt
giải đã “thay đổi sâu sắc cách
thức điều hành chính sách tiền tệ”.
Theo Cochrane, có “ít nhất cả tá ứng viên xứng đáng” cùng
chia sẻ giải thưởng trong lĩnh vực
này. Ông nói: “Tôi chẳng muốn rơi vào tình thế phải quyết định chọn ra hai hoặc ba người
để vinh danh của ủy ban giải
Nobel đâu”, nhưng “ai thì
cũng sẽ xếp Hall và Woodford
lên hàng đầu danh sách”.
Trong buổi công bố giải thưởng, Woodford đã trả lời phỏng vấn qua điện thoại
và cho biết ông “cực kỳ phấn khởi” khi nhận được giải thưởng này. Ông nói thêm rằng lý thuyết của mình không chỉ nhằm mục đích định hướng chính
sách mà còn giúp các chính phủ giải thích cho công chúng hiểu tại sao họ lại
can thiệp kinh tế theo cách đó, “để giải thích tại sao những biện pháp đang triển khai lại
được chọn thực thi”.
“Cùng nhau, những đóng góp của Hall và Woodford đặt nền móng mới cho lý thuyết về biến động kinh tế vĩ mô”, ủy ban Nobel nhận định, “cho phép chúng ta hiểu sâu hơn về nguồn gốc và cơ chế lan truyền của các cuộc suy thoái và bùng nổ kinh tế”.
Sự trở lại của Keynes
Công trình nghiên cứu của hai người đoạt giải, cùng chia sẻ giải thưởng trị
giá 12 triệu kronor Thụy Điển (khoảng 31 tỷ đồng), dựa trên những ý tưởng của nhà kinh tế học người
Anh thế kỷ XX, John Maynard Keynes.
![]() |
| Nguồn: Tim Gidal/Picture Post/Hulton Archive/Getty |
Keynes lập luận rằng các chính phủ cần can thiệp trên quy mô lớn trong thời
kỳ kinh tế bất ổn để tránh các cuộc khủng hoảng và thất nghiệp hàng loạt như trong
cuộc Đại suy thoái những năm 1930.
Trong các cuốn sách như How
to Pay for the War (tạm dịch: Làm thế nào để trang trải chi phí chiến
tranh), được xuất bản ngay
sau khi Anh tuyên chiến với Đức Quốc xã (Macmillan, 1940), Keynes lập luận rằng, nếu chỉ dựa các lực lượng thị trường thì nền
kinh tế sẽ không có đủ sự linh hoạt
để ứng phó với những cuộc khủng hoảng như vậy.
Các ý tưởng của Keynes bắt đầu có sức ảnh hưởng lớn từ
giữa thế kỷ 20. Và chúng vẫn
còn phù hợp cho đến tận đại dịch COVID-19, khi các chính phủ trên toàn thế giới
tài trợ cho các doanh nghiệp để họ duy trì đội ngũ nhân sự của mình trong thời gian phong tỏa. Nhưng những ý tưởng này
không ngăn được những đợt bùng nổ và suy thoái của nền kinh tế, điển hình như cuộc khủng hoảng dầu
mỏ những năm 1970 và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Hiệu ứng Hall và Woodford
Công trình nghiên cứu của Hall và Woodford đã giúp giải thích những gì còn
thiếu trong bức tranh kinh tế vĩ mô của Keynes – nghiên cứu về toàn bộ nền kinh
tế – bằng cách đi sâu vào khía cạnh kinh tế vi mô, xem xét cách các quyết định của từng doanh nghiệp và hộ
gia đình ảnh hưởng đến giá cả, thu nhập và chi tiêu.
Hall, làm việc tại Đại học Stanford ở California, nhận ra rằng các quyết định
tiêu dùng của con người không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố có thể định lượng được
như thu nhập mà còn phụ thuộc vào cái mà chính Keynes gọi là “bản năng động vật” [animal spirits]: các yếu tố tâm lý thúc đẩy các lựa chọn
kinh tế, trong trường hợp này là những kỳ vọng về tương lai.
Trong hai bài báo quan trọng, vào năm 1978 và năm 1982, Hall đã chỉ ra rằng có thể ước tính tỷ lệ người
tiêu dùng có góc nhìn duy lý về những thay đổi khả dĩ trong tương lai của
các chính sách tiền tệ và tài khóa,
cũng như những người trái lại lại đưa ra quyết định tiêu dùng chỉ dựa trên viễn cảnh ảm đạm trước mắt là
không có tiền tiết kiệm hoặc không thể tiếp cận khoản vay. Về bản chất, điều này tương đương với việc ước
tính tỷ lệ người có tính đến tương lai khi quyết định chi tiêu và tỷ lệ người
không làm vậy. Hall đã kiểm chứng
các dự đoán của mình bằng dữ liệu thực tế về tiêu dùng.
Woodford, làm việc tại Đại học Columbia ở New York, đã dựa trên những
nghiên cứu về kỳ vọng như vậy để tạo ra một lý thuyết kinh tế vi mô “Keynesian mới” [New Keynesian], mà phần đắt giá nhất đã được đúc
kết trong cuốn Interest
and Prices: Foundations of a Theory of Monetary Policy (tạm dịch: Lãi suất và Giá cả: Những nền tảng của Lý
thuyết Chính sách Tiền tệ) (Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2003).
Kinh tế học dành cho các nhà điều hành ngân hàng
trung ương
Ngày nay, mô hình này được các ngân hàng trung ương như Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Anh và Ngân hàng Trung ương Thụy Điển (Riksbank), đơn
vị sáng lập và tài trợ giải thưởng Nobel kinh tế, sử dụng như một công cụ chính sách tiền tệ. Họ dùng mô hình này để tạo ra các can thiệp, chẳng hạn như thay đổi lãi suất,
nhằm giảm thiểu biến động trong tăng trưởng và lạm phát.
Mô hình này dự đoán rằng có một mức lãi suất lý tưởng, không quá thấp đến mức
người ta chi tiêu thay vì đầu tư, cũng không quá cao đến mức họ làm ngược lại. Mô
hình cũng cung cấp một công cụ xây dựng chính sách tài khóa: làm
sao xác định các mức thuế suất phù
hợp nhất, vốn cũng ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của người
dân.
“Tác phẩm đồ sộ của Woodford tập trung chủ yếu vào chính sách tiền tệ và những
gì Cục Dự trữ Liên bang (Fed) có thể và nên làm”, Cochrane nói. “Ông ấy chỉ ra
cách Fed có thể tác động đến nền kinh tế bằng cách thiết lập lãi suất, điều mà
Fed vẫn thường làm.”
Tuy nhiên, nhà kinh tế học Jim O'Neill, cựu bộ trưởng Tài chính Anh, hiện
đang là cố vấn không chính thức
cho Thủ tướng Anh Andy Burnham, cảnh báo “những nền tảng của khuôn khổ
lý thuyết đem về giải thưởng cho Hall và Woodford đã bị nhiều chính phủ đương
nhiệm bỏ quên”. Ông lo ngại rằng các
quốc gia có xu hướng cắt giảm thuế khi nền kinh tế suy yếu, nhưng lại không điều
chỉnh thuế cho phù hợp khi kinh tế khá hơn.
doi: https://doi.org/10.1038/d41586-026-03251-4
Huỳnh Thị Thanh Trúc
dịch
Nguồn: Economics Nobel
awarded for work on stabilizing economies in crisis, Nature, 12
October 2026.

