27.3.26

Jürgen Habermas đã định hình trật tự thời hậu chiến – Cái chết của ông không nên là dấu chấm hết cho trật tự này

JÜRGEN HABERMAS ĐÃ ĐỊNH HÌNH TRẬT TỰ THỜI HẬU CHIẾN – CÁI CHẾT CỦA ÔNG KHÔNG NÊN LÀ DẤU CHẤM HẾT CHO TRẬT TỰ NÀY

Nhà lý luận dân chủ vĩ đại nhất thời hậu chiến đã để lại sau lưng một thế giới đang tháo dỡ mọi thứ mà ông từng bảo vệ.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH:

  • Một cuộc đời tôi luyện bởi thảm họa: Năm 16 tuổi Habermas vỡ lẽ ra rằng mình lớn lên trong chế độ tội phạm, chính điều này đã thúc đẩy ông dấn thân vào triết học và chính trị trong sáu thập kỷ kế tiếp.
  • Dân chủ như một hình thức diễn ngôn: Lý thuyết của ông về không gian công cộng – đặt nền tảng cho tính chính danh dựa trên tranh luận lý tính chứ không chỉ dựa vào bầu cử – đã trở thành một trong những ý tưởng có ảnh hưởng nhất trong tư tưởng dân chủ hiện đại.
  • Châu Âu như một dự án còn dang dở: Habermas đấu tranh cho một EU được trao quyền dân chủ như là phương tiện duy nhất có khả năng đặt thị trường toàn cầu hóa dưới quyền tự quyết dân chủ.
  • Là một nhà tư tưởng quyết liệt, không phải người xa rời thế sự: Khác xa với hình ảnh nhà duy lý sống trong tháp ngà mà các nhà phê bình mô tả, Habermas là một người luôn hăng say khơi mào, định hình hầu hết mọi cuộc tranh luận lớn trong đời sống công cộng của Đức thời hậu chiến.
  • Thế giới chúng ta đang sống: Trong những năm cuối đời, chính Habermas đã tuyệt vọng vì “mọi thứ làm nên cuộc đời ông đang dần mất đi từng chút một.”

Chúng ta đang sống trong thời kỳ được định hình bởi điều mà nhà triết học, xã hội học, trí thức công chúng nhà luận phê phán dấn thân người Đức quá cố Jürgen Habermas đã mô tả là “sự kỳ lạ đầy bất an của thời đại này” (từ gốc tiếng Đức là Unheimlichkeit - ND) Dù biểu hiện qua sự thoái trào của luật pháp quốc tế, sự sụp đổ của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, qua kết thúc của nền dân chủ tự do hay việc  ức về Holocaust như hòn “đá thử vàng” cho cái ác trong chính trị đang dần phai nhạt – chỉ cần kể ra một vài triệu chứng – các nhà bình luận trên toàn bộ phổ chính trị đều đồng ý rằng chính trị toàn cầu đang trong trạng thái biến động, thời kỳ chuyển tiếp nơi thế giới cũ đã chết nhưng thế giới mới vẫn chưa ra đời. Vì cuộc đời và sự nghiệp của Habermas vừa phản ánh vừa định hình sâu sắc thời kỳ hậu chiến, nên nếu ta cho rằng các nhà sử học tư tưởng tương lai sẽ xác định thời điểm kết thúc của trật tự thế giới hậu 1945 chính là ngày ông qua đời, 14 tháng 3 năm 2026, thì cũng không phải vô căn cứ.

Từ khi sinh ra vào năm 1929, thời kỳ đặc trưng cho hậu quả của cuộc Đại suy thoái và chỉ vài năm trước khi Hitler lên nắm quyền ở nước Đức quê hương ông, cho đến khi qua đời ngay trước sinh nhật thứ 97, cuộc đời và sự nghiệp của Habermas bị chi phối bởi những sự kiện quan trọng của thời đại ông. Đáng chú ý nhất, vào năm 1945 – khi mới mười sáu tuổi và suýt bị gọi nhập ngũ trong những ngày cuối cùng của Đế chế thứ ba – Habermas đột nhiên phải đối mặt với thực tế rằng ông đã lớn lên trong một chế độ tội phạm. Nhận thức này cùng nỗ lực đối mặt với nó đã định hình phần đời còn lại của ông. Ở một trong những suy ngẫm cá nhân hiếm hoi của mình, ông đã thẳng thắn thừa nhận rằng “nỗi sợ về một cuộc thoái lui chính trị” thường trực (Habermas coi chủ nghĩa phát xít là căn bệnh của xã hội Đức và nỗi sợ của ông là căn bệnh này sẽ tái phát – ND) vừa định hình quan điểm chính trị của ông vừa “tiếp tục thúc đẩy công trình nghiên cứu của tôi” – từ tác phẩm Sự biến đổi cấu trúc của không gian công cộng (Structural Transformation of the Public Sphere) năm 1962 cho đến bộ ba tác phẩm cuối cùng của ông, phát hành năm 2019 và gần đây được xuất bản bằng tiếng Anh với tựa đề Also a History of Philosophy (tạm dịch: Cũng là một lịch sử triết học).

Trong phần lớn cuộc đời mình, nỗ lực đối mặt với quá khứ của Habermas giới hạn trong bối cảnh địa phương bắt nguồn từ cam kết của ông đối với quá trình dân chủ hóa Cộng hòa Liên bang Tây Đức. Tuy nhiên, xét đến vai trò quan trọng của chiến thắng trước chủ nghĩa phát xít trong việc định hình thế giới hậu chiến – và cách mà những bài học từ Holocaust được tích hợp vào ức phổ quát của toàn nhân loại – trải nghiệm đặc thù của ông ở Đức là một phiên bản thu nhỏ thể hiện gần như mọi xu hướng khủng hoảng của trật tự hậu chiến. Trong nỗ lực kế thừa và phát triển lý tưởng của Thời kỳ Khai sáng bằng cách thực hiện những lời hứa của “dự án hiện đại dang dở” đồng thời thừa nhận vai trò mà chính những ý tưởng này đã góp phần “hướng hội tới sự man rợ” trong Holocaust, dự án của Habermas phản ánh nỗ lực rộng lớn hơn của phương Tây trong việc đối diện với những khía cạnh đen tối trong di sản của mình – không chỉ là nỗi kinh hoàng của Holocaust ở Đức mà còn là các trại lao động cưỡng bức (gulag) ở Liên Xô, chế độ nô lệ và việc giam giữ người Mỹ gốc Nhật ở Hoa Kỳ, chỉ là một vài ví dụ.

Về mặt triết học, Habermas thường được gắn liền với lý thuyết phê phán được phát triển tại Viện Nghiên cứu Xã hội thuộc Đại học Goethe ở Frankfurt, là nơi ông gắn bó trong phần lớn sự nghiệp, dù trong ba giai đoạn riêng biệt. Cam kết của ông đối với việc “rút ra bài học từ thảm họa” thể hiện rõ ngay từ đầu. Trong tác phẩm Sự biến đổi cấu trúc của không gian công cộng, tác phẩm đầu tay có ảnh hưởng mạnh nhất và được trích dẫn rộng rãi nhất của mình, Habermas đã phát triển khái niệm về không gian công cộng [public sphere] như một lý tưởng chuẩn mực đặt nền tảng cho nền dân chủ trong một khái niệm rộng lớn hơn về nhân loại, không dựa trên địa vị, dân tộc, chủng tộc hay giáo phái mà dựa trên sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau – một khái niệm cho phép “uy quyền của lập luận ưu việt hơn tự khẳng định trước (uy quyền của) hệ thống phân cấp xã hội”. Lập luận của ông cũng có cả khía cạnh lịch sử. Theo Habermas, sự trỗi dậy của các salon và quán cà phê ở châu Âu thế kỷ XVII, nơi ngày càng nhiều người trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản gặp gỡ nhau như những người bình đẳng cùng chia sẻ mối quan tâm đến các vấn đề công cộng, đã dần tạo ra nhóm công chúng giám sát và phê phán nhà nước thông qua diễn ngôn lý tính và có hiểu biết.

Mặc dù công trình triết học của Habermas rất rộng – đề cập đến nhận thức luận, triết học khoa học xã hội, đạo đức và luân lý – nhưng tất cả đều được gắn kết với nhau bằng niềm tin cốt lõi của ông rằng, sự tương giao giữa con người, vì được trung giới qua ngôn ngữ, nên tất yếu bao hàm sự công nhận lẫn nhau và bình đẳng. Giao tiếp bằng ngôn ngữ buộc chúng ta phải chấp nhận rằng người khác không chỉ có thể hiểu những gì chúng ta đang nói, mà còn có khả năng và sự tự do để phản hồi điều đó. Hiểu biết sâu sắc này được tóm tắt trong tuyên bố của Habermas rằng “Ngay khi bắt đầu giao tiếp, chúng ta ngầm tuyên bố mong muốn đạt được sự hiểu biết lẫn nhau về một điều gì đó.”

Xuất phát từ mong muốn cơ bản là đảm bảo tội ác của Holocaust “vĩnh viễn không” tái diễn, Habermas luôn áp dụng những hiểu biết sâu sắc về triết học và xã hội học của mình vào lý thuyết chính trị. Trong thuyết về hành động tương giao (Theory of Communicative Action, 1981), ông lập luận rằng sự mở rộng của thị trường và bộ máy hành chính quan liêu, vốn chi phối ngày càng sâu mọi lĩnh vực của đời sống hiện đại, đã dần dần “thuộc địa hóa” “thế giới sống” hằng ngày của cá nhân bằng cách lấn át gia đình, tôn giáo, chính trị và các lĩnh vực khác của sự tái sản xuất cộng đồng trong đời sống thường nhật, những lĩnh vực trước đây được bảo vệ khỏi logic bành trướng, mang tính công cụ của tiền bạc và quyền lực. Dựa trên triết học ngôn ngữ của mình, Habermas cho rằng những cuộc tấn công không ngừng nghỉ của những “lực lượng hệ thống” này vào “cơ sở hạ tầng tương giao” của xã hội chỉ có thể bị kiềm chế nhờ việc mở rộng quyền lực của tương giao công cộng để làm đối trọng – bằng cách đặt các hoạt động của nền kinh tế và chính phủ dưới sự chi phối của diễn ngôn công khai, có thông tin và mang tính phê phán. Chính nhận thức cơ bản này cũng là nền tảng cho tuyên bố triết học chính trị chủ đạo của ông trong tác phẩm Giữa sự kiện chuẩn mực (Between Facts and Norms, 1992).

Ảnh hưởng của Habermas với tư cách một triết gia là không thể đong đếm. Ngay cả những người không đồng ý với ông cũng buộc phải thừa nhận rằng ông là cây đại thụ của tư tưởng thế kỷ XX. Trong lý thuyết chính trị, trên hết, ông được công nhận là một trong những người sáng lập nền dân chủ nghị luận, vốn đặt tính chính danh của nền dân chủ vào các cuộc tranh luận công khai chứ không phải vào kết quả bầu cử. Vị thế to lớn của ông trong lý thuyết dân chủ được thể hiện rõ qua việc John Rawls, tác giả cuốn  thuyết về công  (Theory of Justice) năm 1971, người thường được cho là đã hồi sinh lĩnh vực triết học chính trị vốn đang hấp hối trước đó, từng mô tả Habermas là “nhà tưởng đại nhất về dân chủ”.

Nhà trí thức công chúng

Bên cạnh công trình nghiên cứu học thuật về lý thuyết tương giao và không gian công cộng dân chủ, trong suốt sự nghiệp lâu dài và lừng lẫy của mình, Habermas cũng tích cực tham gia vào các cuộc tranh luận công khai. Nhất quán với cam kết của ông trong việc giải quyết quá khứ Đức Quốc xã, lúc còn là sinh viên, Habermas đã xông thẳng vào không gian công cộng Tây Đức năm 1953 khi lên án Martin Heidegger, nhà triết gia đương thời nổi tiếng và có sức ảnh hưởng mạnh nhất nước Đức, vì đã tái bản loạt bài giảng về siêu hình học được trình bày lần đầu vào năm 1935 mà không gỡ bỏ một lời đề cập tán đồng “chân sự đại nội tại” của phong trào Quốc xã. Ngay từ giai đoạn đầu này, Habermas đã thể hiện nhận thức sâu sắc rằng các nhà triết học như Heidegger (và sau này là chính ông) không chỉ là những học giả mà còn là “nhân vật chính trị” và “công dân dự phần”, những người có trách nhiệm với “sự phát triển (tư tưởng) của những sinh viên dễ bị kích động và dễ hứng khởi” cũng như đối với công chúng nói chung.

Như Karl Korn, biên tập viên của Habermas tại tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung, đã dự đoán, sự can thiệp này quả thực đã châm ngòi một “vụ ồn ào dữ dội”. Là một trí thức công chúng, Habermas chưa bao giờ né tránh tranh cãi. Điều này thể hiện rõ trong việc ông lên án một số lãnh đạo của phong trào sinh viên năm 1968, mà về cơ bản ông là người ủng hộ, vì họ bị cho là theo “chủ nghĩa phát xít cánh tả”, cũng như trong một số tranh cãi sau đó. Vì vậy, trong khi những người chỉ trích Habermas thường cáo buộc ông phát triển một khái niệm quá duy lý về không gian công cộng dựa trên mô hình hội thảo đại học, thì sự tham gia quyết liệt của chính Habermas vào “vòng xoáy diễn ngôn công cộng khốc liệt” cho thấy ông tin rằng chỉ có một không gian công cộng hoang dã, phi trật tự đầy xung đột mới thực sự có thể buộc các thể chế chính trị và kinh tế chính thức phải xem xét nghiêm túc quan điểm của đông đảo công chúng.

Từ khi Cộng hòa Bonn ra đời năm 1949 cho đến khi nước Đức thống nhất năm 1990, Habermas đã tham gia và định hình hầu hết các cuộc tranh luận lớn tại đây. Có lẽ nổi tiếng nhất là trong cuộc tranh luận của các nhà sử học giữa những năm 1980, khi ông đã vạch trần chính phủ của Thủ tướng Helmut Kohl và một nhóm các nhà sử học bảo thủ thân chính phủ này vì đã tìm cách tương đối hóa thời kỳ Đức Quốc xã để nước Đức có thể một lần nữa có một chính sách đối ngoại “bình thường”, không còn nặng gánh di sản đạo đức của Holocaust. Phát biểu như “một bệnh nhân đang trải qua cuộc phẫu thuật xét lại ý thức lịch sử của mình”, Habermas đã phản đối mạnh mẽ nỗ lực đánh bật Auschwitz khỏi trung tâm chính trị Đức, lo sợ rằng điều đó sẽ làm suy yếu nền tảng đạo đức của những gì ông vẫn coi là những thành tựu mong manh của nền dân chủ Đức.

Sau khi Habermas qua đời, Tổng thống Cộng hòa Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier, đã nhận xét: “Chúng ta sẽ nhớ tiếng nói của ông. Đất nước chúng ta nợ ông một món nợ cùng lớn.” Lời tri ân này và nhiều lời tri ân khác mà ông nhận được có thể khiến người ta nghĩ rằng nước Đức thời hậu chiến là một nước cộng hòa duy lý, theo chủ nghĩa Habermas. Tuy nhiên, lịch sử các lần tham gia công luận của ông cho thấy những người cho rằng ông đã thực thi “chế độ độc tài” hay “ quyền chủ văn hóa” đối với không gian công cộng của Đức đều đã nhầm. Mặc dù chắc chắn Habermas được dành một sự tôn trọng nhất định với tư cách là nhà cố vấn bí mật trong không gian công cộng của Đức, nhưng sự công nhận này thể hiện rõ ở sự gay gắt mà ông phải hứng chịu hơn là ở sự tán thành mà những can thiệp của ông nhận được. Cho dù đó là sự phản đối của ông đối với việc tái vũ trang của Đức hay niềm tin của ông rằng sự thống nhất nước Đức chỉ nên diễn ra sau một hội nghị lập hiến và cuộc trưng cầu dân ý của người dân cả Đông và Tây Đức cũ, Habermas hiếm khi đứng về phía thắng cuộc trong cuộc tranh luận. Tuy nhiên, đó chưa bao giờ là chuyện chính. Theo quan điểm của ông về trí thức công chúng như “người gác đền” cho cuộc tranh luận công khai, mục tiêu của ông không phải là thuyết phục mà là buộc những người phản đối phải lắng nghe và tranh luận về quan điểm của ông trước nhóm độc giả rộng hơn (thay vì chỉ trong giới hàn lâm – ND).

Năng lực châm ngòi phẫn nộ của Habermas không hề giảm bớt khi ông về già. Ngược lại, là sản phẩm của chương trình tái giáo dục thời hậu chiến của Mỹ (một phần trong chương trình phi Quốc xã hóa của Đồng minh sau Thế chiến 2 – ND), những năm gần đây quan điểm của ông dường như ngày càng chệch xa so với thời đại. Mặc dù ông thừa nhận rằng cuộc xâm lược toàn diện Ukraine là “do Nga tùy tiện phát động”, nhưng vào năm 2022, Habermas đã khiến nhiều người thuộc cả cánh tả lẫn hữu nổi giận khi cho rằng Cộng hòa Liên bang Đức không nên từ bỏ cam kết mà họ “khó khăn lắm mới giành được” đối với “đường lối ưu tiên đối thoại và gìn giữ hòa bình trong chính sách đối ngoại Đức” vốn hình thành sau năm 1945. Phản ánh mối lo ngại của ông rằng “quá trình trang dường như đang tự tạo đà”, Habermas lưu ý rằng điều “thực sự làm tôi khó chịu” là “phản xạ hiếu chiến” và “tâm thế chiến tranh bị cảm tính hóa quá đà” ở một quốc gia đã nỗ lực rất nhiều “để có được độ lùi phê phán cần thiết với quá khứ dân tộc chủ nghĩa của chính mình”.

Mặc dù những phát ngôn của ông về Ukraine mang tính tranh cãi, chúng vẫn mờ nhạt nếu so với phản ứng trước quyết định của Habermas khi cùng ký vào một tuyên bố đề cập đến “sự đoàn kết đúng đắn với Israel người Do Thái Đức” sau cuộc tấn công chưa từng có tiền lệ vào Israel của Hamas ngày 7 tháng 10 năm 2023. Có lẽ ít người sẽ phản đối tuyên bố rằng “hành động của Israel không hề biện minh cho các phản ứng bài Do Thái, đặc biệt là ở Đức”, hoặc rằng “cuộc sống của người Do Thái và quyền tồn tại của Israel là những yếu tố cốt lõi đáng được bảo vệ đặc biệt trong bối cảnh tội ác hàng loạt của thời kỳ Đức Quốc xã”. Nhưng việc tuyên bố tiếp tục khẳng định rằng sự trả đũa quân sự của Israel đối với Hamas là “chính đáng” và rằng “tiêu chuẩn đánh giá hoàn toàn sai lệch khi ý định diệt chủng được gán cho hành động của Israel” đã gây ra sự phẫn nộ ngay cả trong số những đồng nghiệp và bạn bè thân thiết nhất của Habermas.

Tôi có cùng nỗi thất vọng với tuyên bố này như nhiều người khác đã nêu ra. Tuy nhiên, cần nhớ là tuyên bố này được công bố vào ngày 13 tháng 11 năm 2023, chỉ năm tuần sau khi Israel bắt đầu cuộc chiến ở Gaza. Sau các vụ tấn công ngày 7 tháng 10, Đức – giống như phần lớn các quốc gia khác trên thế giới – đã trải qua thời kỳ gia tăng bạo lực bài Do Thái, với các cuộc hành hung nhằm vào người Do Thái cũng như các hành động mang tính biểu tượng, bao gồm việc vẽ chữ thập ngoặc và ngôi sao David lên các cửa hàng và nhà cửa của người Do Thái, gợi nhớ đến cách đối xử với người Do Thái trong giai đoạn đầu của Đế chế thứ ba. Mặc dù quan điểm này không bào chữa cho Habermas hay những người cùng ký tên với ông vì đã không giải quyết vấn đề này sau khi những diễn biến tiếp theo cho thấy rõ phản ứng của Israel ở Gaza đã trở nên bất cân xứng như thế nào, nhưng bóng ma bài Do Thái đang gia tăng là điều gây sốc – đặc biệt là đối với một người như Habermas, với cam kết của ông về việc giữ Holocaust ở vị trí trung tâm trong ý thức lịch sử và bản sắc dân tộc của Đức.

Người châu Âu và di sản này

Trong khi những bình luận công khai của Habermas ở bốn thập kỷ đầu sự nghiệp chủ yếu tập trung vào các diễn biến tại nước Cộng hòa Liên bang Đức quê hương ông thì sau các cuộc cách mạng năm 1989 và việc thống nhất nước Đức, ông càng ngày càng hướng nhiều sự chú ý đến dự án hội nhập châu Âu hơn. Có lẽ độc giả của tạp chí Social Europe biết đến ông nhiều nhất qua sự tận tâm chân thành của ông đối với Liên minh châu Âu. Mặc dù Habermas là một nhà phê bình gay gắt đối với EU ở dạng hiện tại – nhất quán với cam kết lý thuyết của ông, các phản đối của ông đặc biệt tập trung vào chủ nghĩa liên bang hành pháp (Mô hình vận hành EU trong đó các quyết định chủ yếu do nhánh hành pháp như Hội đồng châu Âu, Ủy ban châu Âu chi phối, (thay vì thông qua Nghị viện – ND) và việc sử dụng chính sách tình trạng khẩn cấp để bỏ qua tranh luận công khai – ông vẫn không ngừng kêu gọi EU phát triển thành một nền dân chủ hậu quốc gia [postnational]. Bản thân Habermas đã tìm cách hiện thực hóa không gian công cộng xuyên quốc gia Âu châu mới mà ông cho là cần thiết để chính danh hóa một EU được trao quyền dân chủ thông qua các can thiệp công khai của mình, mà đáng chú ý nhất là trong một văn bản đồng ký với người từng là đối thủ tranh luận và sau này là bạn của ông, Jacques Derrida, nhằm phản đối cuộc xâm lược Iraq của Mỹ năm 2003.

Ban đầu, Habermas phát triển sự ủng hộ đối với EU như một phần trong các bài viết của ông về cục diện hậu quốc gia vào những năm 1990, trong đó ông đã dự đoán nhiều vấn đề sau này gắn liền với toàn cầu hóa – đáng chú ý nhất là việc chính trị mất quyền kiểm soát đối với các lực lượng kinh tế. Mặc dù Habermas thường được coi là một người theo chủ nghĩa tân tự do tiến bộ vốn tiếp tay cho nhiều vấn đề của chủ nghĩa tự do vào đầu thế kỷ XXI, nhưng trong suốt cuộc Đại suy thoái và cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro sau đó, ông liên tục kêu gọi EU mở rộng quyền lực và phát triển thành một liên bang dân chủ liên đới, cho phép chính trị không chỉ “bắt kịp với thị trường toàn cầu hóa” mà còn trong “các hình thức thể chế không thụt lùi so với các điều kiện chính danh cho quyền tự quyết dân chủ”. Những can thiệp của ông được dẫn dắt bởi “hy vọng rằng chương trình nghị sự tân tự do sẽ không còn được chấp nhận một cách đương nhiên”. Thật không may, ở đây cũng như trong nhiều trường hợp khác, những ý tưởng của Habermas đã bị phớt lờ và hy vọng của ông đã tan vỡ.

Bất kể chúng ta nghĩ gì về lập trường thực chất của Habermas, có một điều rõ ràng là: ông không phải là nhà tư tưởng xa rời thế sự, phi chính trị như nhiều nhà phê bình nhận định. Habermas chưa bao giờ cần phải được tiếp xúc với một “‘thế giới thực’ triết học vốn thường đứng ngoài’”; ngược lại, những suy ngẫm này cho thấy công trình của Habermas đã dấn thân vào chính trị ngay từ đầu. Thật vậy, thay vì phản bội các thầy giáo của mình tại Trường phái Frankfurt và phát triển một “ dạng thuyết phê phán [mà] dường như từ bỏ mục tiêu thay đổi hội căn bản”, công trình của Habermas với tư cách là một trí thức công chúng – cũng như việc các hoạt động của ông với tư cách là một nhà lý luận phê phán dấn thân tích cực tìm cách đưa các ý tưởng triết học của mình vào thực tiễn – cho thấy ông là người thừa kế xứng đáng của thế hệ lý thuyết phê phán đầu tiên, đặc biệt là công trình của thầy mình, Theodor Adorno, một trong những tiếng nói công khai quan trọng nhất của nền Cộng hòa Liên bang Đức thời kỳ đầu.

Thêm vào đó, trong khi một số người coi ông là một nhà tự do chính thống có triết lý là một dạng “đạo đức học ứng dụng”, thì những can thiệp của Habermas vào không gian công cộng thực sự thể hiện lời kêu gọi của chủ nghĩa Mác rằng triết học không chỉ nên giải thích thế giới mà còn phải thay đổi nó. Từ góc nhìn này, có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Habermas qua đời vào sáng ngày 14 tháng 3 – kỷ niệm 143 năm ngày mất của Karl Marx – nhà tư tưởng mà tác phẩm và di sản của Habermas gắn bó mật thiết. Mặc dù Habermas đã khiến nhiều người thuộc cánh tả thất vọng vì ông phản đối chính trị cách mạng, cam kết của ông đối với “chủ nghĩa cải cách triệt để” theo tinh thần Kant vẫn hướng tới hiện thực hóa nhiều mục tiêu của cánh tả bằng cách trao quyền cho chính trị để làm đối trọng với các lực lượng kinh tế.

Trên hết, xuyên suốt các tác phẩm của mình với tư cách là một trí thức công chúng, Habermas chưa bao giờ đánh mất cam kết với nền dân chủ – với ý tưởng rằng ông chỉ có thể trình bày các lập luận, để lại cho đồng bào năng lực chủ thể tương giao để tự quyết việc suy nghĩ và hành động, ngay cả khi quyết định của họ thường đi ngược lại với ông. Theo nghĩa này, các hoạt động hướng đến công chúng của ông đóng vai trò là sự thể hiện niềm tin của ông rằng “Nền dân chủ phụ thuộc vào lòng tin của người dân rằng vẫn còn dư địa để cùng nhau định hình một tương lai đầy thách thức.”

Trong những năm cuối đời, Habermas ngày càng tuyệt vọng về tình trạng thế giới trong thời kỳ chuyển đổi mới này. Phát biểu vào năm 2023, Habermas bày tỏ cảm giác đang ngày càng lớn rằng “mọi thứ tạo nên cuộc đời ông đang bị mai một từng chút một”. Trong một trong những bài phát biểu công khai cuối cùng của mình, Habermas nhắc lại lời kêu gọi đưa châu Âu trở thành “một Liên minh có khả năng hành động chính trị độc lập” để “các nước châu Âu [có thể] phát huy hiệu quả sức mạnh kinh tế toàn cầu chung nhằm hỗ trợ các niềm tin và lợi ích chuẩn mực của họ”. Tuy nhiên, trong chuyến viếng thăm để thảo luận về cuốn tiểu sử tôi viết về ông như là một nhà trí thức công cộng, khi tôi hỏi về niềm tin rằng EU có thể làm trụ cột cho một trật tự toàn cầu dân chủ hơn, Habermas trả lời: “Hết rồi. Tôi không còn tin vào điều đó nữa”.

Trước những diễn biến đương thời và sự ra đi của vợ ông, Ute Habermas-Wesselhoeft, hồi năm ngoái, có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi Habermas thấy mình chẳng còn chốn dung thân trong một thế giới ngày càng trở nên xa lạ – nghĩa đen của từ tiếng Đức Unheimlichkeit, xuất hiện trong mô tả về thời đại mà tôi đã mở đầu bài tiểu luận này. Một số người có lẽ muốn xem cái chết của Habermas như là hồi chuông cáo chung cho thế giới lý tính hơn, dân chủ hơn, được quản lý bằng sự tương giao mà ông đã trình bày trong các tác phẩm lý luận và đấu tranh cho nó trong các can thiệp công khai của mình. Tuy nhiên, tâm thế buông xuôi như vậy có thể nhanh chóng trở thành lời tiên tri tự ứng nghiệm. Thay vì chấp nhận sự trở lại của chủ nghĩa phát xít và sự suy thoái dân chủ, đối với tôi, thế giới đầy biến động về địa chính trị và đang tan rã ngày nay cần Habermas hơn bao giờ hết. Hãy an nghỉ.

HỒ SƠ TÁC GIẢ

Peter Verovšek

Peter J. Verovšek giảng dạy lịch sử và lý thuyết về hội nhập châu Âu tại Đại học Groningen ở Hà Lan. Ông là tác giả cuốn sách Jürgen Habermas: Public Intellectual and Engaged Critical Theorist (Nhà xuất bản Đại học Columbia, 2026).

Huỳnh Thị Thanh Trúc dịch

Nguồn: Jürgen Habermas Shaped the Postwar Order His Death Must Not Mark Its End, Social Europe, 17th March 2026.

Print Friendly and PDF