XI MĂNG, TÍN DỤNG VÀ 11,9%
Khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực hiện thực hóa của nền kinh tế sẽ được lấp đầy bằng xi măng, tín
dụng và các công trình công cộng, chứ không phải bằng chi tiêu hộ gia đình.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026
Các ý chính:
- Để đạt mục tiêu “10% trở lên” cho cả năm
2026, Việt Nam hiện cần tăng trưởng 11,9% trong nửa cuối năm (Nghị quyết
168) - một tốc độ mà cả nước chưa từng duy trì được, ngoại trừ giai
đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19.
- Số liệu GRDP (tổng sản phẩm trên địa
bàn) theo từng tỉnh giải
thích tại sao: các tỉnh
dẫn đầu là những nền kinh tế công nghiệp nhỏ, dựa vào một động lực duy nhất,
trong khi TP.HCM và Hà Nội có mức tăng trưởng dưới 10%.
- Đây là "rủi ro Nokia". Nhưng không
giống như Nokia của Phần Lan, Samsung không phải là công ty Việt Nam, và
FDI rót vào Việt
Nam vì chi phí thì cũng
có thể rời đi bởi cùng lý do.
Ngày 27 tháng 6, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết 168, cập nhật
kịch bản tăng trưởng cho phần còn lại
của năm. Điểm đáng chú ý là một chỉ thị: để đạt mục tiêu “10% trở lên” cho cả
năm 2026, GDP phải tăng trưởng 11,9% trong nửa cuối năm. Đây là tốc độ tăng
trưởng mà Việt Nam chưa từng duy trì được xuyên suốt nửa năm, ngoại trừ giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid năm 2022.
Mục tiêu tăng trưởng gần 12% một phần là do năm nay khởi đầu chậm hơn so với kế hoạch. Kịch bản năm 2026 đề ra mức tăng trưởng 9,1% trong quý đầu tiên; song nền kinh tế chỉ đạt 7,83%. Mỗi lần thiếu hụt đều đẩy mức yêu cầu cho giai đoạn tiếp theo lên cao hơn, và số liệu quý II dự kiến công bố vào tháng 7 sẽ cho thấy lý do tại sao Việt Nam hiện cần tăng trưởng hơn 11% để bám sát kế hoạch. Việc bù đắp thiếu hụt đã bị đẩy hoàn toàn sang nửa cuối năm, dồn áp lực vào đây.
Bản đồ thể hiện điều gì?
Số liệu GDP trong 6 tháng
đầu năm, được công bố theo từng tỉnh, cho thấy tăng trưởng của Việt Nam đến
từ đâu và lý do tại sao mức tăng trưởng
11,9% là đòi hỏi khắt khe.
Trong số 34 tỉnh thành, các tỉnh dẫn đầu đều là những nền kinh tế
công nghiệp một động lực có quy mô nhỏ: Hải Phòng (12,42%), Ninh Bình (12,04%),
Hà Tĩnh (12,02%), Phú Thọ (10,87%), Bắc Ninh (10,27%) và Quảng Ninh (10,22%).
Một phần của bảng xếp hạng trên là sản phẩm của thủ thuật
thống kê chứ không chỉ đơn thuần là sản lượng. Sau cuộc sáp nhập hành chính năm
2025, một số "tỉnh" trên thực tế là các đơn vị mới kết hợp các cơ sở
công nghiệp bổ sung cho nhau: các nhà máy sản xuất ô tô của Vĩnh Phúc sáp nhập
vào Phú Thọ, ngành điện tử của Bắc Giang sáp nhập vào Bắc Ninh, tạo ra tốc độ
tăng trưởng bề nổi nhanh hơn
thông qua phép cộng số học từ việc vẽ lại ranh giới.
Bản chất của những động lực kinh tế này khá hẹp. Hà Tĩnh về cơ bản là tổ hợp
thép Formosa và khu kinh tế Vũng Áng, một mỏ neo khổng lồ giữ sức kéo cho nền kinh tế nhỏ bé. Bắc Ninh và Hải Phòng là những
vành đai điện tử FDI được xây dựng xoay quanh Samsung, LG và chuỗi cung ứng đang mở rộng năng lực
sản xuất trước thời hạn áp thuế của Mỹ.
Ai vắng mặt trong nhóm dẫn đầu?
Thành phố Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,47% (xếp thứ
16). Hà Nội tăng trưởng 7,87% (xếp thứ 24). Hai thành phố này đóng góp khoảng một phần tư GDP
cả nước, và cả hai đều là những nền kinh tế chủ yếu dựa vào dịch vụ, vốn không
thể tăng tốc thêm ba hoặc bốn điểm phần trăm trong sáu tháng. Con số tăng trưởng
quốc gia không thể nâng được lên mức 11,9% khi hai động lực tăng trưởng lớn nhất chỉ ở mức gần 8%. Phép bình quân gia quyền không cho phép điều
đó, trừ khi các nền kinh tế lớn đột nhiên tăng trưởng mạnh như Hà Tĩnh, điều chắc
chắn sẽ không xảy ra.
Bài học từ “Rủi ro Nokia”
Ẩn sâu bên trong những con số đó là một điểm yếu sâu xa hơn, một điểm yếu mà phương Tây đã từng nếm
trải. Các tỉnh dẫn đầu tăng trưởng của Việt Nam không chỉ đơn thuần là các tỉnh
công nghiệp. Nhóm này có
độ tập trung cao đến mức nguy hiểm vào một doanh nghiệp hoặc một sản phẩm duy
nhất.
Hãy xem xét năm 2024, năm gần nhất có số liệu chính thức đầy đủ, vì số liệu
cả năm 2025 vẫn chưa được công bố. Theo Tổng cục Thống kê quốc
gia, riêng Samsung đã xuất khẩu khoảng 54,4 tỷ USD từ Việt Nam, tương đương
13,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, gần như toàn bộ đến từ hai tỉnh dẫn đầu
bảng xếp hạng tăng trưởng là Thái Nguyên và Bắc Ninh, trong đó Bắc Ninh chiếm
khoảng 25 tỷ USD. Doanh thu của Samsung xấp xỉ 13% GDP, nhưng con số này cần được
xem xét cẩn thận: đó là tổng doanh thu, không phải giá trị gia tăng, và phần lớn là từ các linh kiện nhập khẩu được tái xuất khẩu,
vì vậy đóng góp của Samsung vào nền kinh tế nội địa thực chất nhỏ hơn nhiều. 12% của Hà Tĩnh, về bản chất, chỉ từ một nhà máy thép.
Phần Lan từng có trải nghiệm giống hệt vậy. Vào thời kỳ đỉnh cao từ năm 1998 đến năm 2007,
Nokia đóng góp khoảng một phần tư tăng trưởng kinh tế của Phần Lan, tạo ra gần
một phần năm kim ngạch xuất khẩu và nộp tới 23% trong tổng thuế thu nhập doanh nghiệp. Mọi thứ đều tuyệt
vời cho đến khi iPhone ra mắt vào năm 2007.
Theo ETLA, Viện Nghiên cứu Kinh tế Phần Lan, gần một phần ba trong mức giảm GDP hơn 8% của Phần Lan năm 2009
có thể chỉ đến từ Nokia; sau
đó là sự sụp đổ hoàn toàn về doanh số bán điện thoại di động, từ năm 2011 đến năm 2013, và đóng góp của
công ty vào GDP sau đó giảm dần về 0 trong suốt một thập kỷ mất mát.
Các nhà kinh tế gọi đây là “rủi ro Nokia”: khi một
số ít công ty lại chiếm tỷ trọng quá lớn trong sản lượng, xuất khẩu và nghiên cứu phát
triển, vận mệnh của toàn bộ nền kinh tế sẽ tuột khỏi tầm kiểm soát của
chính nó.
Phiên bản của Việt Nam đáng lo ngại hơn ở một khía cạnh. Nokia là công ty
Phần Lan. Samsung thì không (phải công ty Việt Nam - ND). FDI đổ vào nhờ lợi thế về chi phí
nên về nguyên tắc, FDI cũng có thể dịch chuyển vì lý do
tương tự. Các tỉnh dẫn đầu bảng xếp
hạng nửa cuối năm 2026 cũng là những tỉnh sẽ dẫn đầu đà lao dốc nếu chu kỳ điện tử toàn cầu đảo chiều, hoặc
nếu một doanh nghiệp đầu tàu nào đó điều chỉnh lại chuỗi cung ứng của mình ở mức cận biên. Tăng trưởng tập
trung diễn ra nhanh chóng khi đi lên và tàn khốc khi đi xuống, và đây là kiểu
tăng trưởng mà Hà Nội đang chỉ đạo phải tăng tốc.
Dồn lực vào các đòn bẩy
Nghị quyết 168 của Việt Nam nêu rõ cách thu hẹp khoảng cách tăng trưởng, và các chỉ
tiêu theo ngành hé lộ chiến lược này. Kịch
bản đặt giả định mức tăng trưởng nửa cuối năm của ngành xây dựng là 17,6%, sản
lượng điện 16,9%, dịch vụ lưu trú và ăn uống 17,3%, tài chính và ngân hàng 14%.
Đây là các con số về đầu tư công và
cơ sở hạ tầng, chứ không phải nhu cầu tiêu dùng. Chính phủ muốn giải ngân 100%
kế hoạch vốn đầu tư công năm
2026, kèm kịch bản giải ngân
hằng tuần soạn sẵn, cùng với thuế nhiên liệu linh hoạt và
chính sách tiền tệ “linh hoạt” để duy trì dòng tín dụng.
Đây là lúc các mảnh ghép khớp lại với nhau. Cơ chế mới của ngân hàng nhà
nước, cho phép các ngân hàng cho vay
đối với 18 siêu dự án từ Vingroup,
Sun Group và Masterise, với tổng nhu cầu vốn khoảng 28,6 tỷ USD, nằm
ngoài trần tăng trưởng tín dụng,
không phải là một câu chuyện riêng lẻ. Đó là hạ tầng tài chính cho chỉ đạo tăng trưởng 11,9%. Tăng trưởng đang được sắp
đặt từ trên xuống: các mục tiêu giải
ngân, tín dụng ưu tiên, và một cuộc chạy nước rút vào lĩnh vực xây dựng và năng lượng nhằm thay thế
cho nhu cầu tư nhân rộng lớn mà dữ liệu hiện chưa thể hiện.
Cũng nên ghi nhận lập luận mạnh nhất ủng hộ chính sách này. Việc đẩy
sớm đầu tư công thực sự mang lại hiệu
ứng số nhân, và cơ sở
hạ tầng hoàn thành hôm nay là dư địa cho nhu cầu tư nhân ngày mai; một mục tiêu cao, thậm chí là bất khả, có thể thúc đẩy bộ máy hành chính đạt
tới mức nỗ lực mà một mục tiêu khiêm
tốn hơn không tạo ra được. Vấn
đề không nằm ở bản thân tham
vọng mà ở khoảng cách giữa mục
tiêu và cấu trúc thực tế của nền kinh tế.
Bài toán “trải nhựa” của Việt Nam
Liệu Việt Nam có đạt được mức tăng trưởng 11,9%? Xét về tăng trưởng thực chất, trên diện rộng, gần như chắc chắn là
không. Không có nền kinh tế lớn nào đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số trong vòng nửa năm nếu chỉ dựa vào hai
động lực đô thị cố định
và lẻ tẻ vài tỉnh công nghiệp cơ cấu hẹp. Dự đoán của riêng tôi nghiêng về mức 8,5 đến 9%. Nếu đạt được mức
đó, đây vẫn là một kết quả xuất sắc theo tiêu chuẩn toàn cầu.
Vậy mục tiêu 11,9% thực sự là gì? Theo tôi, nó đóng vai trò như một công cụ huy động về mặt tâm lý hơn là một dự báo. Về mặt định lượng,
đó là tốc độ mà Hà Nội muốn vận hành cỗ máy đầu tư công để đạt được con
số càng gần 10% càng tốt, biết rằng khoảng trống sẽ được lấp đầy bằng gạch, nhựa đường, năng lượng và tín dụng,
chứ không phải chi tiêu hộ gia đình hay đơn đặt hàng xuất khẩu của các doanh
nghiệp trong nước.
Rủi ro này không xa lạ. Một
khi tăng trưởng trở thành mục tiêu áp xuống các tỉnh và các
ngân hàng quốc doanh, người
ta sẽ dễ bị cám dỗ đuổi theo con số đó thông qua việc giải ngân và sử dụng đòn bẩy tài chính hơn
là năng suất thực.
Hà Nội có thể ra lệnh cho xi măng, nhựa đường và tín dụng tăng tốc. Nhưng không nghị quyết nào có thể ra lệnh
buộc vốn nước ngoài ở lại.
Huỳnh Thị Thanh Trúc
dịch
Nguồn: Cement,
Credit and 11.9%, Vietnam Signals, Jun 30, 2026.


