28.8.26

Thuyết nhân loại trung tâm (thuyết con người là trung tâm), thuyết nhân hóa, thuyết đẳng cấp loài (thuyết phân biệt đối xử theo loài): hãy coi chừng những lầm lẫn!

THUYẾT NHÂN LOẠI TRUNG TÂM (THUYẾT CON NGƯỜI LÀ TRUNG TÂM), THUYẾT NHÂN HÓA, THUYẾT ĐẲNG CẤP LOÀI (THUYẾT PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ THEO LOÀI): HÃY COI CHỪNG NHỮNG LẦM LẪN!

Tác giả: Philippe Le Doz

Giảng sư, hướng dẫn nghiên cứu, lịch sử cổ đại, Đại học Rennes 2

Có nên diễn giải các hành vi của loài vật bằng cách lấy loài người làm mốc tham chiếu, hay trái lại xây dựng giả thuyết về một sự chia tách chặt chẽ làm cho loài người chúng ta trở nên một loài đặc biệt? Saketh Upadhya/UnsplashCC BY

Thuyết loài người là trung tâm hay nhân loại trung tâm (anthropocentrisme), được hiểu là loài người được ưu tiên trong một thế giới mà con người được tự do khai thác, có xu hướng va chạm với một khái niệm ngày càng được sử dụng nhiều trong những năm gần đây: thuyết spécisme (thuyết đẳng cấp loài hay thuyết phân biệt đối xử theo loài – ND). Gần đây, triết gia François Jaquet đã nhấn mạnh nguy cơ lầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Quả thực phân biệt hai thuật ngữ này là đòi hỏi cấp bách. Có thể ta đưa ra giả thuyết là thuyết nhân loại trung tâm là một thiên kiến về nhận thức, nơi mà thuyết phân biệt đối xử theo loài thuộc về một dự án xã hội.

Các thuyết xem loài người là trung tâm

L’anthropocentrisme – thuyết nhân loại trung tâm/thuyết xem loài người là trung tâm – là một khái niệm mặc dù thường được dùng nhưng không dễ phân định rõ. Các định nghĩa trong các từ điển không rõ ràng, nhưng nói chung là các định nghĩa này đều đồng ý nêu ra xu hướng của loài người tự cho mình là trung tâm của vũ trụ.

Philippe Descola (1949-)

Đó là một cách thức liên hệ với thế giới mà chính những con người này phán xét mọi thứ quy về mình, chỉ chú ý và cho là quan trọng đối với những gì đem lại lợi ích riêng cho họ thôi. Thực vậy, ngày nay diễn ngôn bác học có xu hướng cáo buộc thuyết xem loài người là trung tâm vì tính mục đích của nó, nghĩa là xu hướng xem tự nhiên như một nguồn tài nguyên có thể khai thác một cách không thương tiếc, vì loài người là nơi tiếp nhận đầu tiên của tự nhiên; ít nhất là loài người, vì tính chất độc đáo của nó, có nhiều quyền đối với tự nhiên hơn bất kỳ một sinh vật nào khác. Quan niệm tiêu cực về thuyết loài người là trung tâm có phần bị đặt lại vấn đề vì một số đóng góp của ngành nhân học. Ví dụ, những công trình của Philippe Descola về người Achuar ở vùng Amazonie xích đạo cho thấy rằng nếu những người Achuar này có một cách nhìn cho mình là trung tâm trên thế giới, thì lần này lại là một thuyết có tính tích hợp về loài người là trung tâm.

Thực vậy, người Achuar cho rằng những loài khác là những loài người dưới một hình thức khác; diện mạo của họ khác nhau, chứ không phải là nội tâm của họ. Dù sao, con người không phải là hình thức hoàn chỉnh nhất của sinh vật, “những người hoàn chỉnh” (Penke aents) duy nhất theo nghĩa hình thức tương ứng với bản chất của chúng. Điều đó không khiến cho một số sự sống có giá trị hơn những sự sống khác: xu hướng cho là con người có ở khắp nơi giúp người Achuar tránh khỏi sự lệch hướng này.

Từ bà con họ hàng đến chia tách loài người và loài vật

Lịch sử nêu rõ rằng mối tương quan giữa chúng ta và loài động vật không có gì là cố định. Stephen Newmyer đã chỉ ra rằng Hy Lạp cổ đại, từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên, đã thay đổi rất nhiều cách nhìn đặt ra ở Phương Tây đối với phần còn lại của các sinh vật. Chính vào thời kỳ này sự chia tách giữa loài người và loài vật được khẳng định và chính khái niệm “loài vật” được hun đúc nên. Lúc đó tư tưởng Hy Lạp thiết lập một mối tương quan giữa lý trí và ngôn ngữ được phát âm rõ ràng (từ ngữ Hy Lạp logos nói đến hai yếu tố này), có nghĩa là dành mối tương quan này cho một loài và khẳng định tính chất độc đáo của nó. Sau đó đạo Thiên Chúa đã đào sâu con đường này.

Trước đó, ở Hy Lạp thời trước Socrate, ý tưởng về mối bà con họ hàng của loài người với phần còn lại của thế giới loài vật chiếm ưu thế. Empédocle cáo buộc việc ăn thịt là như giết cha mẹ và như ăn thịt người. Những khác biệt giữa các loài trước hết được xem là có tính chất hình thái: Xénophane de Colophon viết rằng nếu bò hay sư tử có tay, chúng cũng sẽ vẽ và thể hiện các vị thần theo hình ảnh của chúng. Thi sĩ Ésope còn nói thêm: nếu sư tử có tay, chúng sẽ tạc những bức tượng làm nổi bật sức mạnh của chúng… gây bất lợi cho con người. Tóm lại: đối với các triết gia thời kỳ trước Socrate, nội tâm của loài vật giống một cách là lùng nội tâm của loài người và loài người đặc biệt có một hình thái thích hợp hơn với sự thể hiện những ảo ảnh của loài người.

Thuyết loài người là trung tâm (thuyết nhân loại trung tâm) như là một thiên kiến về nhận thức

Daniel Kahneman (1934-2024)
Olivier Houdé (1963-)

Làm thế nào để hài hòa những cách tiếp cận của thuyết nhân loại trung tâm vốn có vẻ mâu thuẫn nhau? Bằng cách dựa vào những điều mà các khoa học về nhận thức cho chúng ta biết. Đặc biệt là những công trình của các nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Olivier Houdé đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các thiên kiến về nhận thức trong sự vận hành tâm thần của con người. Chính những thiên kiến này điều khiển phần lớn các quyết định của chúng ta. Cũng chính những thiên kiến này tạo thành các chiến lược đơn giản hóa của trí não để thu thập và diễn giải các thông tin do môi trường chúng ta sống cung cấp, những con đường tắt của suy tưởng mà mục tiêu là thích nghi một cách nhanh chóng với một tình huống nhất định.

Dường như thuyết loài người là trung tâm là một trong nhiều thiên kiến này. Khi hiểu về môi trường của mình, con người có xu hướng tự nhiên thu hẹp vào những gì mà chính họ biết rõ nhất, và phóng chiếu chúng vào những gì nằm bên ngoài họ. Tóm lại, đó là một cách đáp lại các nguồn lực hạn chế về nhận thức. Vận động kép này (thu hẹp/phóng chiếu) tương tự như vận động được thao tác để phân tích các hành vi và ý định của một người ngoài trong các mối quan hệ giữa con người.

Một lối suy nghĩ tự động xuất phát từ sự tiến hóa

Điều chắc chắn là trong khuôn khổ của tiến hóa, loài người có lẽ đã sắp xếp cho mình một chỗ đứng trong tự nhiên, đối phó trong hàng trăm ngàn năm với một môi trường khắc nghiệt ở đó việc tiếp cận với các nguồn lực là nguy hiểm, hạn chế và bấp bênh. Vào thời đại Đồ Đá Mới, vào cuối kỷ băng hà cuối cùng, loài người đã thuần dưỡng được một số loài sinh vật. Trong cả hai trường hợp, con người có lẽ đã cố gắng hiểu nội tâm của các loài khác, dự kiến những phản ứng của chúng và học cách đi cùng chúng.

Vậy là từ thời tiền sử, vào một thời kỳ mà sự đứt quãng giữa loài người và các loài vật khác mờ nhạt hơn ngày nay rất nhiều, việc thừa nhận những nội tâm gần gũi (cùng chia sẻ với một trí tuệ, những cảm xúc, những tình cảm, một mong muốn được sống, v.v.) đã tạo thuận lợi cho sự xuất hiện của hình thái suy nghĩ tự động này: thuyết loài người là trung tâm.

Chính là dựa trên sự việc là bộ não con người đã được nhào nặn bởi một quá trình tiến hóa dài mà ta có thể đề nghị một định nghĩa mới về thuyết loài người là trung tâm và nêu ra giả thuyết đó là một thiên kiến về nhận thức. Thiên kiến này được nuôi dưỡng bởi một xu hướng khác, xu hướng đoàn kết với đồng loại, ở đó ta tìm thấy sự phản chiếu của chính mình, điều này tạo thuận lợi cho việc nhận dạng. Ngay Charles Darwin đã nhấn mạnh rằng sự sống còn của một loài dựa trên sự giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ nhóm.

Xu hướng tự nhiên tự xem mình là chuẩn mực và thích cái gần mình nhất làm cho thuyết nhân loại trung tâm, sản phẩm của sự tiến hóa, mang một đặc tính sinh học, vì nó gắn liền với sự vận hành của bộ não con người. Điều đó làm cho thuyết này trở thành một phương thức lĩnh hội tự phát vốn không thể thực sự tránh được. Thực tế, tất cả thách thức nằm trong ý thức về thiên kiến nhận thức này cuối cùng là để học cách suy nghĩ tự chống lại mình, nhất là khi thuyết nhân loại trung tâm được quan niệm như hình thái hoàn chỉnh nhất của sự sống.

Thuyết nhân loại trung tâm (Anthropocentrisme), thuyết nhân hóa (anthropomorphisme) và thuyết phân biệt đối xử theo loài hay thuyết đẳng cấp loài (spécisme)

Làm sao kết nối khái niệm con người là trung tâm với thuyết nhân hóa (thường là đối lập với khái niệm này) và khái niệm mới hơn là thuyết phân biệt đối xử theo loài (spécisme)? Vấn đề của thuyết nhân hóa là đơn giản nhất. Nó thường được hiểu là xu hướng tự nhiên gán các hình thái và tính chất của con người cho các đối tượng thực thể khác (thần thánh, loài vật, cây cỏ…). Hai nhà sinh vật học người Áo, Esmeralda G. Urquiza-Haas và Kurt Kotrschal, các kĩ thuật về hình ảnh của não bộ, đã xây dựng mối tương quan giữa vấn đề này với các cơ chế nhận thức và đã liên kết nó chặt chẽ với sự tiến hóa.

Như vậy, thuyết nhân hóa giúp giải mã hành vi và những ý định của những sinh vật khác và vì chúng sống động nên ta giả định trước rằng chúng có tính ý hướng. Một lần nữa, đó là một tiến trình nhanh chóng và vô ý thức, nghĩa là xuất hiện sớm trong não bộ con người. Phải thấy ở đó một công cụ của thuyết nhân loại trung tâm (được sử dụng từ vận động kép thu hẹp/phóng chiếu đã được nêu ra ở trên). Và vì thuyết nhân hóa có liên quan đến sự vận hành của não bộ, người ta dễ dàng tưởng tượng ra, ví dụ như nhà nghiên cứu tập tính học Cédric Sueur đã làm, cách thấy hình ảnh các loài tương tự như chó của loài chó (cynomorphisme) hay tương tự như khỉ của loài khỉ (macacomorphisme).

Peter Singer (1946-)

Về thuyết phân biệt đối xử theo loài (thuyết đẳng cấp loài), một thuật ngữ được Peter Singer phổ biến và cáo buộc xu hướng gán một giá trị hay các quyền khác nhau cho các sinh vật tùy theo tư cách thành viên của một giống loài, đó là một phương thức cực đoan của thuyết nhân loại trung tâm, một biến cách tương tự như chủ nghĩa phân biệt chủng tộc so với chủ nghĩa vị chủng (ethnocentrisme). Không giản lược vào một cơ chế suy nghĩ tự phát, thuyết này thuộc về một dự án xã hội và đi kèm với một diễn ngôn mang tính bản chất luận và một phán đoán giá trị. Không chỉ là ưu tiên cho đồng loại nhân danh một sự đoàn kết có tính trực giác, mà là nâng cao các ranh giới. Từ đó bắt buộc phải dựng lên một câu chuyện về loài người và các loài khác nhằm chính đáng hóa việc khai thác các giống loài này.

Thuyết nhân hóa vẫn luôn thích hợp trong thuyết đẳng cấp loài, nhưng lần này để có nghĩa là sự rút lui, phân tích các loài vật khác với tư cách vắng mặt, và điều này tùy thuộc vào một lý tưởng giả định trước của sinh vật. Ví dụ, ta sẽ tìm ở chúng trí tuệ mà không xem xét các hình thái đa dạng mà trí tuệ có thể có, không phải tất cả là được đồng hóa với trí tuệ con người, vốn có thể biểu thị dưới nhiều hình thức khác nhau (ví dụ ta phân biệt trí thông minh logic-toán học, cảm xúc, vận động, âm nhạc, v.v.).

Đặt câu hỏi về tính độc đáo của loài người

Éric Baratay (1960-)
Frans de Waal (1948- 2024)

Bỏ tính chất con người khỏi các khái niệm khi chúng ta tìm hiểu loài vật, ví dụ một công việc mà nhà sử học Éric Baratay đeo đuổi, trong khuôn khổ này là một cách để không kết luận quá nhanh chóng về tính độc đáo của loài người. Ngược lại, đó là đánh giá công bằng hơn các khoảng cách của những gì là đồng nhất, gần gũi hay tương tự giữa loài người và những loài khác.

Đó là một cách thoát khỏi điều mà Frans de Waal gọi là anthropodéni phủ nhận những đặc điểm được cho là có tính người nơi loài vật (ND) –. Dù sao, nơi mà thuyết nhân loại trung tâm là một thiên kiến về nhận thức mà ta có thể giả định là nó thuộc về tính bất biến sinh học (về một hiện tượng tương tự có thể tồn tại nơi mỗi loài), thuyết phân biệt đối xử theo loài tạo thành một biến tấu văn hóa, tóm lại là một lựa chọn liên quan đến đặc điểm của các nền văn minh.

Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư

Nguồn:Anthropomorphisme, anhtropocentrisme, spécisme : gare aux confusions !”, The Conversation, 6.3.2024.

Print Friendly and PDF