GILLES DOSTALER: “KEYNES CÒN NHIỀU ĐIỀU ĐỂ NÓI VỚI CHÚNG TA”
Năm 2005, nhà kinh tế học ở Qébec Gilles Dostaler (1946-2011), tiết lộ với chúng tôi những yếu tố về tiểu sử để hiểu tốt hơn tư tưởng của Keynes dưới ánh sáng hành trình của tác giả này và để tránh quy giản những sự dấn thân của Keynes chỉ vào kinh tế học.
Christian Chavagneux, ngày 8 tháng 9 năm 2026

© Xavier Lissillour và Iris Lorenzini
Đối thoại với Gilles Dostaler
Cựu giáo sư đại học Québec tai Montréal. Và là tác giả của cuốn Keynes et ses combats (Albin Michel, 2005)
Là tác giả năm 2005 của cuốn tiểu sử có tính mẫu mực là Keynes et ses combats (Keynes và các cuộc chiến đấu của ông), Gilles Dostaler, qua đời năm 2011, nhân dịp xuất bản tác phẩm này đã có một cuộc đối thoại dài với tạp chí Alternatives Economiques, mà ông cũng là một cây bút có đóng góp thường xuyên cho tạp chí. Chúng tôi đăng lại cuộc đối thoại dưới đây.
Đã có một khối tư liệu khổng liệu khổng lồ về cuộc đời của Keynes. Tại sao lại viết tác phẩm mới này về những cuộc chiến đấu chính từng gây náo động suốt cuộc đời của Keynes?
Gilles Dostaler. Trong một thời gian rất dài, chỉ có một tiểu sử duy nhất về Keynes, đó là tác phẩm của nhà kinh tế Roy Harrod, người từng là một trong những người bạn và cộng tác viên của ông. Được viết theo yêu cầu của gia đình, tác phẩm có tính tụng ca hơn. Tiếp đó là những tiểu sử chi tiết, như các tác phẩm của Donald E. Moggridge và nhất là của Robert Skidelsky, là những tác phẩm chi tiết chuyên sâu về tư tưởng kinh tế của Keynes, đôi lúc là về tư tưởng triết học và đôi lúc là về cuốn sách nổi trội của ông là General Theory of Employment, interest and money (Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ). Tôi không nghĩ rằng có tác phẩm nào đề cập đến, như điêu tôi đã muốn làm, tất cả những cuộc chiến đấu mà ông đã tiến hành, trên mặt trận kinh tế học, nhưng cả trong lĩnh vực đạo đức học, triết học về nhận thức, triết học chính trị, sự can dự - rất quan trọng - của ông vào thế giới nghệ thuật. Dưới mắt ông, nghệ sĩ có vị thế cao hơn nhà khoa học.
Hơn nữa tôi đã cố gắng kết hợp các khía cạnh phân tích và tiểu sử mà vẫn mô tả bối cảnh trong đó Keynes đã hành động. Chính vì thế mà ta có thể một chương về nhóm nghệ thuật Bloomsbury vốn đã giữ một vai trò quan trọng trong đời ông, và một chương khác về đời sống chính trị ở Vương quốc Anh trong thời đại ông. Theo chỗ tôi được biết, không có tác phẩm tương đương nào tìm cách kết hợp cả ba chiều kích này.
Trên phương diện đạo đức, năm 1938 Keynes tự xác định mình khi viết: “Tôi là và vẫn luôn luôn sẽ là một người phi đạo đức”.
Phi đạo đức không có nghĩa là vô đạo đức! Thuyết phi đạo đức đối với ông quy chiếu về việc là cá nhân không phải bị áp đặt bất kỳ một chuẩn đạo đức, dù cho đó là một chuẩn của một giáo hội hay của Nhà nước. Và điều này cho trên tất cả mọi lĩnh vực. Khi trong những năm 1920 ông xác định cương lĩnh chính trị của mình, kinh tế học đứng vào thứ hạng cuối cùng, đặc biệt sau các vấn đề dục tính vốn tập hợp các vấn đề quan hệ nam nữ, ngừa tránh thai, v.v., đặc biệt ông nhận định là pháp chế của Anh cũng như trong phần còn lại của thế giới là hoàn toàn còn ở thời Trung cổ.
Việc phản kháng chống đạo đức nghiêm khắc của thời nữ hoàng Victoria là một trong những cuộc đấu tranh đầu tiên và ông sẽ tiến hành các cuộc đấu tranh suốt đời mình. Đặc biệt cùng với các bạn của mình thuộc nhóm Bloomsbury, thông qua các suy nghĩ, nhưng cũng bằng hành động, nhóm này có một cuộc sống trong các phương diện tình ái và tình dục khiến người đương thời bị sốc. Và các thành viên của nhóm không phải là không có quan ngại: người ta còn nhớ đến vụ án Oscar Wilde, người bị buộc tội phải lao động bắt buộc vì “tập quán phản tự nhiên”. Thế mà cho tới lúc thành hôn năm 1925, Keynes khá bị những người cùng giới quyến rũ, vả lại như những người khác trong nhóm của ông là nhà văn Lytton Strachey hay họa sĩ Duncan Grant là người tình của ông. Họ đều biết là mình nằm ngoài vòng pháp luật và khi làm việc tại Văn phòng các vấn đề Ấn Độ đã lo ngại những mối đe dọa bằng áp lực.
Tôi tận dụng cơ hội này để mở một dấu ngoặc: Keynes chưa từng bao giờ đặt chân đến Ấn Độ! Năm 1906, ông tham gia một cuộc thi tuyển để thành công chức và đứng hạng nhì. Thủ khoa cuộc thi đã chọn cơ quan Kho bạc (Bộ tài chính) và Keynes chọn Văn phòng các vấn đề Ân Độ. Một công việc ít đòi hỏi khiến ông còn thời gian viết một luận văn sau sẽ trở thành tác phẩm A Treatise on Probability, xuất bản năm 1921. Ông làm ở cơ quan này dưới hai năm trước khi quay lại đại học Cambridge, đại học mà ông đã theo học, để giảng dạy.
Một lần nữa ông trở thành công chức trong cuộc Đại chiến. Tuy là đại diện cho chính quyền Anh, trong thế chiến thứ hai ông sẽ làm việc không lương để tiến hành các cuộc thương thuyết về Bretton Woods, hệ thống xác lập hệ thống tiền tệ quốc tế thời hậu thế chiến. Bằng cách này ông không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ công chức.
Tâm lý bảo thủ một sự yêu thích tiền bạc vì tiền bạc bị ông phê phán là đồi bại.
Vừa tỏ thái độ không bảo thủ, Keynes vẫn gắn bó với đế chế Anh và cuối cùng được bầu vào House of Lords (Thưọng nghị viện Vương quốc Anh và Ireland), ở cương vị một người giàu có từng tích lũy những tác phẩm của các danh họa truyền thống.
Đúng vậy. Keynes không lạ gì các nghịch lý. Đặc biệt là trong quan hệ của ông với các truyền thống. Điều này ông thừa hưởng từ cha ông. Cũng trong chiều hướng nghịch lý này, có thể nói rằng ông tố cáo sự đầu cơ. Nhưng chính đầu cơ là nguồn thu nhập chính của ông, trước cả các bài giảng và thu nhập từ các sách của bản thân. Nhưng ông lại phê phán tâm thức bảo thủ sự yêu thích tiền bạc vì tiền bạc bị ông xem như một sự suy đồi. Ông dùng tiền cá nhân để mua bảo vật, bức tranh của các họa sĩ bậc thầy, sách quý hiếm, chu cấp cho bạn bè và hỗ trợ các nghệ sĩ. Vả lại Friedrich Hayek, đối thủ của ông trên bình diện trí tuệ nhưng lại là bạn ông trên phương diện cá nhân, từng viết rằng bản thân không hiểu cùng một con người có thể kêu gọi sự an tử cho người sống nhờ tô tức đồng thời lại bảo vệ ý cho rằng duy chỉ những ai có tài sản đáng kể - vào lúc qua đời tài sản của Keynes tương đương với 17,5 triệu euro ngày nay - mới có sự tự do cần thiết để thúc đẩy các ý tưởng. Các nhà bình luận Keynes tranh luận để tìm hiểu ông có trở nên bảo thủ hơn khi về già không. Đó là luận điểm của Skidelsky, và Joan Robinson cũng khẳng định với tôi như thế. Tuy nhiên vấn đề không rõ ràng như thế: trong những năm 1930 Keynes ngày càng tách xa khỏi Đảng Tự do, bầu cho các đảng viên Đảng Lao động lần đầu tiên năm 1935 và tuyên bố là những người lý thú nhất ở Anh là những nhà cộng sản dưới 30 tuổi, v.v..
Keynes và Hayek là những người bạn?
Họ gặp nhau lần đầu tiên năm 1938. Theo lời kể của Hayek về cuộc gặp này, họ nhanh chóng đối đầu nhau một cách ác liệt về những vấn đề lý thuyết. Nhưng Keynes vô cùng nể phục những nhà tư tưởng trẻ tuổi – tuổi đời của họ cách nhau 17 năm – chống cự lại ông. Sự đối kháng mãnh liệt nhất diễn ra vào đầu những năm 1930. Họ đồng ý với nhau là sẽ không đề cập đến kinh tế lẫn chính trị khi gặp nhau, nhưng vẫn đề cập đến sân khấu hay sách quý hiếm, hai chủ đề mà cả hai đều đam mê. Trong thế chiến thứ hai, khi bộ phận giáo dục của đại học London School of Economics, nơi Hayek giảng dạy, di tản đến Cambridge, do London bị dội bom, Keynes đã thu xếp chỗ ở cho bạn mình. Hayek từng tuyên bố là nếu phải trải qua các buổi tối với một nhà kinh tế, ông thích trải qua vơi Keynes hay với Joseph Schumpeter hơn là với các nhà kinh tế gần gũi với mình hơn.
Keynes là một người bị thống kê mê hoặc trên bình diện cá nhân lẫn xã hội.
Trong các tư liệu cá nhân của ông có một lượng gây ấn tượng về các con số liên quan đến việc tổ chức cuộc đời ông, số giờ ông bỏ ra một ngày để đọc cho đến những dữ liệu liên quan đến hoạt động tình dục cũng được liệt kê đầy đủ! Ông đã được đào tạo về toán học và dành 15 năm trong đời để viết một tác phẩm về các nền tảng logic của phép tính xác suất. Ông đã suy nghĩ nhiều về cách ta có thể sử dụng dữ liệu thống kê. Và các công trình đầu tiên của ông, vào năm 1909, là về bản chất của các chỉ số và vai trò của dữ liệu thống kê. Suốt đời ông, sự cần thiết tập hợp và xây dựng dữ liệu định lượng về nền kinh tế được ông coi trọng.
Tuy nhiên ông chống lại tất cả những ai nghĩ là ta có thể lượng hóa, đo đạc bằng toán học thực tại xã hội.
Với ông, thống kê là cần thiết để mô tả thực tại và những gì đã xảy ra. Ngược lại, ông cực kỳ cảnh giác với việc sử dụng thống kê để dự báo tương lai. Trong tác phẩm A Treatise on Probability, ông viết: “Tôi không có cùng một niềm tin đầy phấn khởi như Condorcet, hay như cả Edgeworth: soi sáng các khoa học đạo đức và chính trị bằng ngọn đuốc của đại số học”. Đối với Keynes, con người ra quyết định trong một tình thế bất trắc triệt để về tương lai. Sai lầm chính của các nhà kinh tế trước ông – và điều này cũng đúng cho những người đi sau ông – là họ tin rằng hiện thực kinh tế là hoàn toàn định lượng được và rằng ta có thể dự báo tương lai bằng một độ xác suất toán học. Chẳng hạn ông phê phán mạnh những công trình của nhà kinh tế học Jan Tinbergen khi so sánh kinh trắc học do tác giả này phát triển với thuật giả kim.
Trái lại, và đây là một nghịch lý khác, ngay từ năm 1930, ông chấp nhận làm thành viên trong hội đồng của hội kinh trắc học vừa mới được thành lập và trước khi qua đời làm chủ tịch hội này. Ông cũng là một tác nhân chính của việc thành lập phân khoa kinh tế học ứng dụng tại đại học Cambridge chuyên nghiên cứu kinh trắc học. Có thể giải thích điều này rằng ông đánh giá việc tập hợp dữ liệu là cần thiết. Hay đây còn là một trong nhiều nghịch lý trong đời ông. Ngay từ thời bấy giờ, người ta nói rằng nếu có năm nhà kinh tế trong cùng một phòng và họ có sáu quan điểm khác nhau thì trong số người tham dự chắc sẽ có mặt Keynes.
Ông tin vào sự tiến bộ, vào tương lai thế giới và vào năng lực con người để thay đổi thế giới ấy.
Ông tin chắc rằng những vấn đề kinh tế và xã hội là kết quả từ những sai lầm của con người, đặc biệt là sai lầm của những ai có quyền quyết định. Ví dụ, nếu hội nghị Paris năm 1919 dẫn đến, điều đối với ông là tai họa của Hiệp ước Versailles – một lượng lớn quá cao những bồi thường chiến tranh áp đặt lên nước Đức sẽ nuôi dưỡng tinh thần phục thù – đó là do những khiếm khuyết của các nhà lãnh đạo thời bấy giờ: sự yếu kém về mặt trí tuệ của Woodrow Wilson (tổng thống Hoa Kỳ), sự hoài nghi cay độc của Georges Clemenceau (tổng thống và bộ trưởng chiến tranh Pháp). Với những nhà chính trị giỏi thì hệ thống có thể thay đổi: Keynes hình dung một sự biến đổi triệt để của chủ nghĩa tư bản, cho dù ông chưa bao giờ đề cập chính xác đến bản chất của điều có thể thay thế chủ nghĩa này.
Đồng thời, dưới mắt ông, năng lực hành động này dành cho giới tinh hoa công nghệ được khai sáng mà ông tất nhiên là thành viên …
Đối với ông, những biến đổi xã hội có thể đến từ liên minh giữa một quyền lực chính trị mạnh, điều không có nghĩa là một quyền lực toàn trị, với những nhà trí thức mà ông chắc chắn tự xem mình là một điển hình, tư vấn cho người đứng đầu nhà nước. Rõ ràng ông tự đánh giá mình khá cao, tin chắc rằng bản thân luôn có lý kể cả trong những lĩnh vực mà ông hầu như không biết gì cả. Keynes có một tầm nhìn tinh hoa chủ nghĩa về chính trị. Ông tin chắc là mình thuộc về một tầng lớp xã hội được ưu đãi về mặt trí tuệ, sống trong một đất nước mà người công dân trung bình được khai sáng hơn là người Pháp hay người Mỹ trung bình. Ngay cả ông tin rừng phương Tây tiến hóa hơn phương Đông.
Ông cũng có những phát biểu bài Do thái, điều thông thường ở Anh thời đó, đặc biệt trong nhóm Bloomsbury, mặc dù Leonard Woolf, phu quân của Virginia là người Do thái và cũng là thành viên của nhóm. Cùng thời kỳ đó, Piero Sraffa, Ludwig Wittgenstein, Carl Melchior, Richard Kahn, các bạn rất gần gũi với ông và có một vai trò quan trọng trong đời ông đều là người Do thái. Khi chiến tranh xảy ra, ông cũng tham gia nhiều vào việc tiếp đón những người Do thái tỵ nan.
Tâm thức tinh hoa của ông khiến ông nghĩ rằng chỉ duy sức mạnh của các lập luận thuyết phục đủ để làm đổi chiều các tương quan lực lượng chính trị.
Ngay từ lần đầu tiên (năm 1967) đọc Lý thuyết tổng quát, tôi ngạc nhiên khi thấy Keynes viết trong đó là tất cả những người hành động không biết rằng họ chịu ảnh hưởng của những người đi trước họ và các hành động này hướng dẫn thế giới. Ông tin vào quyền lực của diễn ngôn, của lập luận logic, đánh giá quá đáng quyền lực của tư tưởng trong tiến tình của các sự việc và đánh giá thấp các tương quan chính trị, các cuộc chiến tranh giai cấp mà ông ngần ngại.
Đặc biệt trong các cuộc thương thuyết dẫn đến Bretton Woods, mà các thỏa thuận đạt được rất xa với điều ông mong muốn, sự thống trị đã thắng thế những lập luận logic. Đó cũng là trường hợp trong các cuộc thảo luận vô cùng khó khăn tiếp sau nhằm để Vương quốc Anh nhận sự trợ giúp của Hoa Kỳ. Quả thật rằng thêm vào đó tìm những thỏa hiệp bằng mọi giá vì, như sau này ông viết không lâu trước khi qua đời rằng ông không muốn là việc Đảng lao động lên cầm quyền một lần nữa lại phải gánh chịu rủi ro của một cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế như hồi năm 1930.
Keynes được biết đến nhất trong giới các nhà kinh tế. Nhưng kinh tế không giữ một vai trò quan trọng trong phân tích tổng quát của ông về thế giới.
Thật vậy Keynes vẫn được biết trước hết như một nhà kinh tế học, cho dù trước khi General Theory được xuất bản ông đã có một vai trò quan trọng trên mặt trận chính trị và mặt trận nghệ thuật; ông đã công bố một tác phẩm chủ yếu về logic của phép tính xác suất. Tuy nhiên cần nhớ là ông không được đào tạo về kinh tế học. Ông chủ yếu học triết học, sử học và toán học, và chỉ chính thức theo học có tám tuần môn này, giống như nhiều nhà tư tưởng lớn của chuyên ngành này.
Nói như thế rồi song còn về định nghĩa một xã hội lí tưởng phải là như thế nào thì trong tâm thức của ông chuyên ngành này chỉ “ngồi ở hàng ghế sau”, hàng ghế đầu do các vấn đề đạo đức, chính trị, v.v. chiếm giữ. Kinh tế học chỉ là một công cụ phục vụ cho việc cải thiện điều kiện sinh sống của dân chúng, một sự cải thiện nhằm giải phóng thời gian để giành cho văn hóa, chiêm ngưỡng cái đẹp, các quan hệ bạn bè, cho điều ông gọi là “nghệ thuật sống”.
Ông không tin vào sự tồn tại của những quy luật thuần túy kinh tế, giống như các quy luật tự nhiên vốn tách biệt với chính trị và xã hội. Do đó ông cũng không tin vào một khoa học chính trị tự trị. Khi ông phân tích lãi suất, ông kết luận rằng việc xác định lãi suất phụ thuộc vào chính trị và tâm lý học hơn là vào kinh tế học theo nghĩa hẹp. Theo quan niệm này Keynes là một nhà kinh tế học phi điển hình so với cách mà ngày nay hầu hết các nhà kinh tế cảm nhận và thực hành chuyên ngành của họ.
Những cuộc chiến đấu của Keynes nay còn tính thời sự không?
Tôi tin chắc là còn. Để nhận ra điều này, phải đọc Keynes. Một trong những mục tiêu của cuốn sách tôi viết là khuyến khích người đọc tự kiểm tra điều này. Đó là lí do vì sao mục lục cuốn sách bao gồm danh sách khá đầy đủ những tác phẩm của Keynes để từ đó người đọc có thể tự mình kiểm tra các văn bản và các bản dịch tiếng Pháp của chúng (nếu có các bản dịch này). Về phương diện đạo đức, các quan hệ nam-nữ, v.v., những phê phán chống tính nghiêm ngặt và bảo thủ của tôn giáo của ông mà ông ghét cay ghét đắng theo tôi vẫn còn xác đáng, đặc biệt là ở Mỹ.
Trên phương diện tri thức, các cuộc tranh luận về những quan hệ giữa các khoa học nhân văn và các khoa học tự nhiên, về năng lực dự báo tương lai,và việc hoán học hóa kinh tế học còn lâu mới chấm dứt. Trên bình diện chính trị, phê phán của ông đối với một chủ nghĩa tư bản lấy lợi nhuận làm mồi trong đó doanh nghiệp bị tài chính và đầu cơ thống trị hơn bao giờ hết vẫn còn tính thời sự. Ông từng viết rằng chủ nghĩa tư bản vay mượn tính chính đáng từ việc người ta nghĩ rằng những ai làm ra nhiều tiền hơn mình là chính đáng. Nếu họ nghĩ rằng những người này trở nên giàu có nhờ gian lận hay trộm cắp, như nhiều vụ việc cho thấy thì hệ thống khá lâm nguy. Keynes còn nhiều điều để nói với chúng ta về thế giới hôm nay.
Ông để lại một số thông tin ấn tượng về cuộc đời công và tư của mình, nuôi dưỡng nhiều phân tích về hành trình và tư tưởng của ông. Phải chăng ông để lại tất cả tài liệu này để xây dựng một huyền thoại cho mình?
Khó mà trả lời một cách chắc chắn. Di sản ông để lại cho nhà kinh tế học Richard Kahn là các văn bản khoa học của ông, còn cho em ông là Geoffrey các văn bản của bản thân, nhưng không cương quyết yêu cầu họ hủy đi phần lớn số đó. Đồng thời thư qua lại giữa ông vơi Lytton Strachey tập hợp thành sáu cuốn sách dày mà trong đó ta tìm thấy những phát biểu vô cùng sống sượng về cuộc sống riêng tư của họ và bạn bè của họ. Điều này khiến ta có thể tin rằng ông muốn các văn bản này một ngày nào đó sẽ có người đọc chúng. Tôi không ngạc nhiên là ông để lại những gì cần thiết để xây dựng một nhân vật lịch sử.
Tác giả: Christian Chavagneux viết xã luận cho tạp chí Alernatives économiques.
Người dịch: Nguyễn Đôn Phước
Bài có liên quan: John Maynard Keynes hay kinh tế học phục vụ chính trị và xã hội
Nguồn: “Gilles Dostaler: Keynes a encore beaucoup de choses à nous dire”, Alernatives économiques, 8.9.2026.