9.5.15

Tổ chức trong quá trình hiện đại hóa



TỔ CHỨC TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA[*]

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tầm quan trọng và ý nghĩa của chủ đề tổ chức đối với thực tiễn và nghiên cứu ở Việt Nam đã được nhất trí thừa nhận. Vấn đề chỉ là ở chỗ hiểu ("đọc") và đưa ("dùng") nó vào thực tế như thế nào. Theo quan điểm xã hội học, khi đặt ra mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách rút ngắn, thì vai trò của ý tưởng, tổ chức và con người trở nên có tính quyết định. Điều ngạc nhiên là trong bối cảnh đó, vấn đề nghiên cứu tổ chức chưa được chú ý đầy đủ trong giới học thuật ở Việt Nam.
2. BỐI CẢNH QUỐC TẾ
Tài liệu quốc tế cho thấy song hành với cuộc cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa là những đợt sóng cách mạng và biến đổi tổ chức/quản lý. Phong trào cách mạng do Lê Nin lãnh đạo ở nước Nga cũng đã đòi hỏi một sự tìm tòi và cách mạng trong lĩnh vực tổ chức, điều đã được xem là một trong những nguyên nhân của thành công trong việc thiết lập một hệ thống xã hội kiểu mới. Tuy nhiên, khuôn khổ xã hội/văn hoá kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sau đó trong hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực đã không cho phép diễn ra những biến đổi và cách mạng thường xuyên và linh hoạt trong vấn đề tổ chức/quản lý, điều được xem là một trong những nguyên nhân của sự sụp đổ của hệ thống. Trong khi đó, tại các nước công nghiệp phát triển, từ đầu thế kỷ XX người ta chứng kiến hàng loạt "cuộc cách mạng tổ chức/quản lý".
Print Friendly and PDF

7.5.15

Jeremy Bentham, người sáng lập chủ nghĩa công lợi



Jeremy Bentham, người sáng lập chủ nghĩa công lợi

Jeremy Bentham (1748-1832)
Là người ủng hộ việc bãi bỏ các đặc quyền, Bentham phân tích những niềm vui và nỗi khổ của con người. Ban đầu là môn đồ của chủ nghĩa tự do của Adam Smith, ông xa dần học thuyết tự do kinh doanh và trao cho nhà nước một vai trò hàng đầu.
Jeremy Bentham, những chính sách về các công trình công cộng có khả năng kích thích công ăn việc làm.
Là luật gia, nhà tội phạm học trước khi có thuật ngữ và khoa học này, nhà triết học, nhà tư tưởng xã hội, chính trị và kinh tế, Jeremy Bentham là người ham viết. Ông đã để lại hàng chục ngàn trang viết tay mà chỉ có một phần nhỏ được xuất bản. Bentham thực sự không quan tâm đến việc được xuất bản, nhưng ông vẫn muốn thuyết phục, không mệt mỏi, những người đương thời thực hiện những cải cách mà ông cho là cần thiết để đạt được "hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất". Chính vì vậy mà ông đã tiếp xúc với những người có quyền quyết định ở nước ông, với những người gây dựng nên cuộc Cách mạng Pháp, với nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia châu Âu - trong đó có những "bạo quân sáng suốt" như Frederick II của nước Phổ, Catherine II của nước Nga và Joseph II của nước Áo -, với Tổng thống Hoa Kỳ và với nhà lãnh đạo của các quốc gia khác thuộc châu Mỹ. Bằng một động thái cuối cùng và Không hi vọng thành công, ông tiếp xúc thẳng với người dân Mỹ qua một bức thư ngỏ được công bố vào năm 1817.
Mặc dù bị thất bại nhiều lần, ông có được danh tiếng lớn, đặc biệt trong số các nhà kinh tế nổi tiếng khác như Adam SmithDavid Ricardo, và trong hai mươi lăm năm, ông là người được Thủ tướng Anh Lord Shelburne che chở. Việc ông gặp James Mill, nhà kinh tế học và sử học vào năm 1808, người đã chuyển hóa ông theo chủ nghĩa cải cách dân chủ, là một bước ngoặt mang tính quyết định. Nó đánh dấu sự ra đời của cái mà người ta gọi là "chủ nghĩa cấp tiến triết học", mà chương trình hành động bao gồm những vấn đề như phổ thông đầu phiếu, bỏ phiếu kín, phân phối công bằng hơn các khu vực bầu cử, bãi bỏ các đặc quyền của giai cấp quý tộc và sở hữu đất đai, quyền tự do ngôn luận và báo chí, hợp pháp hóa các tổ chức công đoàn, lên án chế độ nô lệ và thuộc địa, phổ cập hóa nền giáo dục công. Một chiến thắng chính trị đầu tiên của chủ nghĩa cấp tiến là Đạo luật cải cách (Reform Bill), năm 1832, ít lâu sau cái chết của Bentham, mở rộng quyền bầu cử và bãi bỏ một số hành vi tham nhũng.
Print Friendly and PDF

5.5.15

Vì sao sự tiến bộ xã hội là quan trọng



Vì sao sự tiến bộ xã hội là quan trọng

CAMBRIDGE – Sự tăng trưởng kinh tế đã giúp hàng trăm triệu người thoát khỏi đói nghèo và cải thiện đời sống của nhiều triệu người hơn nữa trong nửa thế kỷ qua. Tuy nhiên, ngày càng rõ rằng một mô hình phát triển con người chỉ dựa trên sự tiến bộ kinh tế không thôi là chưa đủ. Một xã hội mà không giải quyết được các nhu cầu cơ bản của con người, trang bị cho người dân để họ nâng cao chất lượng đời sống, bảo vệ môi trường, và tạo ra nhiều cơ hội cho người dân thì không thể thành công. Sự tăng trưởng toàn diện đòi hỏi sự tiến bộ cả về kinh tế lẫn xã hội.
Những cạm bẫy của việc chỉ tập trung vào GDP đã được chứng minh qua những phát hiện của 2015 Social Progress Index (Chỉ số tiến bộ xã hội năm 2015), ra mắt vào ngày 9 tháng 4. Chỉ số SPI, kết quả từ sự hợp tác giữa Scott Stern của MIT và tổ chức phi lợi nhuận Social Progress Imperative, đo lường hiệu suất hoạt động của 133 quốc gia trên nhiều chiều kích hoạt động xã hội và môi trường khác nhau. Đó là khung toàn diện nhất được phát triển để đo lường sự tiến bộ xã hội, và là khung đầu tiên đo lường sự tiến bộ xã hội độc lập với GDP.
Dựa trên 52 chỉ báo về hiệu suất hoạt động xã hội của một quốc gia, SPI cung cấp một công cụ thiết thực cho chính phủ và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đối sánh hiệu suất hoạt động của quốc gia và ưu tiên cho những lĩnh vực xã hội cần cải thiện nhất. Do đó SPI cung cấp một cơ sở mang tính hệ thống, thực nghiệm để hướng dẫn xây dựng chiến lược vì sự phát triển toàn diện.
Print Friendly and PDF

3.5.15

Cân bằng chung


Cân bằng chung

General equilibrium
® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 ARROW, 1972 DEBREU, 1983 HICKS, 1972 SAMUELSON, 1970

Lí thuyết cân bằng chung

Những đặc điểm chính của lí thuyết cân bằng chung là: 1) việc mô tả hai loại tác nhân kinh tế, người tiêu dùng và người sản xuất, những tác nhân này mua, bán và sản xuất tuỳ theo giá của những sản phẩm có mặt trên thị trường; 2) việc biểu hiện tính tương hợp của toàn bộ những quyết định cá thể như là đẳng thức giữa tổng cung và tổng cầu. Mô hình này là xác đáng nếu giá cả đủ linh hoạt để có thể cân bằng tổng cung và tổng cầu và nếu mỗi tác nhân có thể mua hay bán những số lượng tuỳ tiện sản phẩm theo những giá niêm yết và không đổi, chỉ chịu có những ràng buộc ngân sách và sản xuất. Đẩy đến tận cùng thì những giả thiết này là mâu thuẫn. Bất kì tác nhân nào đều tác động đến giá cả bằng những mua sắm hay bán buôn đủ quan trọng. Nhưng thực tế nằm đủ xa những thái cực để cho lí thuyết cân bằng chung đề nghị được một biểu trưng thoả đáng về mặt khái quát của những nền kinh tế và thị trường cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Mặc dù việc sử dụng toán học không phải là điều tối cần thiết nhưng rõ ràng là toán học giúp ta tiết kiệm được phương tiện trong việc giải bày những giải thiết và đặc tính chính của lí thuyết.
Print Friendly and PDF

1.5.15

Duncan Foley và Lance Taylor được Giải thưởng Leontief 2015



Duncan Foley và Lance Taylor được Giải thưởng Leontief 2015

Thuyết trình của các khôi nguyên trên chủ đề:
"Kinh tế học vĩ mô trong thời đại biến đổi khí hậu"
Thứ Hai ngày 23 tháng 3, 2015
ASEAN Auditorium, Cabot Intercultural Center, 160 Packard Ave., Medford, MA

Năm 2015, Viện GDAE sẽ trao Giải thưởng Leontief vì việc mở rộng biên giới của tư tưởng kinh tế (Leontief Prize for Advancing the Frontiers of Economic Thought) cho Duncan Foley và Lance Taylor. Giải thưởng thừa nhận những đóng góp mà các nhà nghiên cứu trên đã thực hiện về sự thông hiểu các mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và kinh tế vĩ mô. Buổi lễ và bài thuyết trình của những người đoạt giải thưởng sẽ diễn ra vào ngày 23 tháng 3 năm 2015 tại trường Đại học Tufts ở Medford.
“Các công trình của Viện chúng tôi đã chịu nhiều ảnh hưởng, và đã hưởng lợi rất nhiều, bởi cách thức mà TS. Foley và TS. Taylor đã vượt qua ranh giới giữa kinh tế học và các ngành học khác để tạo ra một kiểu công trình phân tích nghiêm ngặt mà giải thưởng Leontief được thành lập để thừa nhận”, Neva Goodwin, Đồng Giám đốc của GDAE cho biết. "Nghiên cứu của TS. Taylor đã tích hợp các mối quan hệ xã hội xác đáng vào các mô hình kinh tế vĩ mô, có tầm quan trọng then chốt để thông hiểu các thực tiễn và thách thức về môi trường hiện tại và tương lai. Phương pháp tiếp cận độc đáo của TS. Foley khi kết hợp nghiên cứu về kinh tế chính trị với những tiến bộ về thống kê và thế mạnh rộng rãi của các dữ liệu có liên quan đã tạo ra một sự đánh giá sâu sắc hơn về những hệ quả của sự lựa chọn chính sách của các nhà kinh tế trong các lý thuyết và mô hình."
Print Friendly and PDF

29.4.15

Dò dẫm



Dò dẫm

Tatonnement à la Walras
® Giải Nobel: ARROW, 1972 DEBREU, 1983 SAMUELSON, 1970
Ở mỗi bước của việc xây dựng cân bằng chung, nghĩa là cho mỗi một lí thuyết nối tiếp nhau về trao đổi, sản xuất, vốn hoá và tiền tệ, Léon Walras trước tiên xác định cân bằng tương ứng như là nghiệm của một hệ thống có bao nhiêu ẩn số thì có bấy nhiêu phương trình, và điều này đối với ông đủ để khẳng định sự tồn tại của cân bằng này. Tiếp đó, ông cho thấy là thị trường cạnh tranh tự do, bằng một quá trình dò dẫm, hướng đến nghiệm này, và điều này cho phép ông kết luận rằng cân bằng là ổn định. Chúng tôi sẽ trình bày quá trình dò dẫm trong một nền kinh tế trao đổi thuần tuý rồi trong một nền kinh tế có sản xuất, bằng cách làm rõ những giả thiết làm cơ sở cho quá trình này, và tiếp đó nêu lên những vấn đề chính mà quá trình dò dẫm đặt ra. 
Dò dẫm trong một nền kinh tế trao đổi thuần tuý
Xét n người trao đổi và mỗi người có một số lượng nhất định của m hàng hoá, L. Walras chỉ ra là có một hệ thống giá, nghiệm của những phương trình trao đổi sao cho trên thị trường của mỗi hàng hoá cung bằng cầu và như thế thì các nhà trao đổi đạt được lợi ích tối đa của mình. Tiếp đó, ông còn phải chỉ ra là xuất phát một cách tiên nghiệm từ cùng những dữ liệu và giá bất kì, hoạt động của thị trường làm cho những giá này hội tụ về những giá cân bằng. 
Quá trình dò dẫm này đặt ra ba vấn đề:
Print Friendly and PDF

27.4.15

Thorstein Veblen, nhà tiên phong của học thuyết thể chế



Thorstein Veblen, nhà tiên phong của học thuyết thể chế

Là người phê phán nặng nề xã hội đương thời, Veblen mở đường cho phái phi chính thống chống lại sự thống trị của tư tưởng tân cổ điển.
Thorstein Veblen (1857-1929)
Thorstein Veblen. Cuộc đời và các tác phẩm của ông được đánh dấu bởi tinh thần phi tuân phục.
Thorstein Veblen là người bài báng truyền thống điển hình nhất. Cuộc đời của ông cũng như các tác phẩm của ông được đánh dấu bởi tinh thần phi tuân phục và li khai. Sinh năm 1857, ông lớn lên trong một cộng đồng nông dân người Na Uy di cư đến Hoa Kỳ, nhưng sống rất khép kín. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ lấy cảm hứng từ các ý tưởng của Kant và Spencer, ông rút lui trong bảy năm về trang trại của gia đình, nơi ông đắm chìm trong một biển sách và đọc chúng với một tốc độ phi thường. Ông chỉ bắt đầu kiếm sống từ năm 34 tuổi. Cách hành xử lạ thường của ông, cách ăn mặc của ông, phương pháp giảng dạy kém chính thống của ông, cuộc sống tình cảm đầy dông bão, và sự thù địch công khai đối với tôn giáo đã làm phức tạp thêm sự nghiệp học thuật của ông được đánh dấu bởi những hợp đồng lao động không được gia hạn và những thời kỳ thất nghiệp.

Phê phán lý thuyết kinh tế

Thế nhưng, các đồng nghiệp của ông đã biết nhận ra giá trị của một sản phẩm, kết hợp những lời phê phán mỉa mai cay độc với nghiên cứu phân tích độc đáo, ở ranh giới của kinh tế học, xã hội học và sử học. Năm 1925, khi ông gần 70 tuổi, Veblen được mời đảm nhận một chức vụ uy tín là chủ tịch Hiệp hội kinh tế học Mỹ, với điều kiện là ông đồng ý trở thành thành viên! Trung thành với chính mình, ông từ chối vinh dự ấy, cho rằng đáng lí ra người ta nên mời ông khi ông từng cần đến chức danh đó. Năm sau, ông lui về sống ẩn dật trong một căn chòi mộc mạc, mà tự tay ông đóng bàn ghế, trên một ngọn đồi ở bờ biển California.
Print Friendly and PDF

25.4.15

Phê phán kinh tế học kinh viện



Phê phán kinh tế học kinh viện[1]

“Một biểu trưng bi thảm … Những gì các nhà kinh tế bộc lộ rõ ràng nhất là sự tụt hậu trí tuệ to lớn của bộ môn họ”[2]. Chủ yếu, bài xã luận này của tuần san kinh tế được biết đến nhiều nhất (Business Week) – khi bình luận các công trình trình bày ở hội nghị năm 1981 của Hội kinh tế Mĩ – nói rằng “nhà vua cởi truồng”. Nhưng không ai trong số những người tham gia cuộc trình diễn long trọng và rất được mong muốn này của khoa học kinh tế của Hoa Kì có vẻ như không biết điều ấy, và những ai biết thì không dám nói.
John Stuart Mill (1806-1873)
Hai trăm năm trước, các nhà sáng lập kinh tế học hiện đại – Adam Smith, Ricardo, Malthus và John Stuart Mill – xây dựng một kiến trúc tri thức đồ sộ đặt cơ sở trên ý niệm về một nền kinh tế quốc gia được xem như một hệ thống tự điều tiết hợp thành bởi một số lớn những hoạt động khác nhau và nối kết với nhau và, vì thế, phụ thuộc lẫn nhau. Một quan niệm vững mạnh và phong phú đến độ đã thúc đẩy công trình sáng tạo của Charles Darwin về lí thuyết tiến hóa.
Ý tưởng trung tâm của điều được gọi là kinh tế học cổ điển được hai kĩ sư đặc biệt có năng lực toán học: Léon Walras và Vilfredo Pareto thể hiện một cách vô cùng tinh tế bằng một ngôn ngữ đại số súc tích và đặt tên là “lí thuyết cân bằng chung”. Ngày nay, dưới tên gọi kinh tế học “tân cổ điển”, lí thuyết này là cốt lõi của chương trình đại học trong đất nước này.
Print Friendly and PDF

23.4.15

Tổng năng suất các nhân tố



Tổng năng suất các nhân tố

Production factors set productivity

® Giải Nobel: SOLOW, 1987
Khái niệm năng suất xác lập một quan hệ định lượng giữa một sản lượng và những nhân tố được sử dụng để có được sản lượng này. Khái niệm này có thể được định nghĩa như là tỉ số giữa số lượng sản phẩm được sản xuất và số lượng những nhân tố được sử dụng; do đó đây là một năng suất vật chất, một khái niệm dễ hiểu. Khái niệm này giữ một vị trí quan trọng trong lí thuyết cận biên về công ti. Ngay từ cuối thế kỉ XIX ở Hoa Kì và chung hơn từ sau thế chiến thứ hai, đã có nhiều toan tính đo đạc khái niệm này, trước hết giới hạn ở năng suất của lao động ở cấp độ những đơn vị sản xuất nhỏ. Sau đó trường phân tích đã được mở rộng (doanh nghiệp, ngành sản xuất và cả đất nước), điều này buộc phải viện đến những ước lượng tiền tệ, do sản xuất và những nhân tố được sử dụng ngày càng đa dạng và song song đó, là việc thay thế độ đo năng suất riêng của một nhân tố ít nhiều tách biệt một cách giả tạo với những nhân tố khác bằng những chỉ số tổng năng suất của toàn bộ các nhân tố.
Lí thuyết cận biên về công ti dựa trên sự phân biệt giữa ngắn và dài hạn. Xin nhắc lại rằng ngắn hạn phải đủ ngắn để cho năng lực sản xuất đã thiết lập của doanh nghiệp có thể được xem là một dữ liệu cho trước: những công trình xây dựng, tư liệu và trang thiết bị hợp thành những nhân tố cố định và chi phí của chúng là một chi phí cố định, độc lập với khối lượng sản xuất. Có thể thay đổi khối lượng này bằng cách sử dụng những số lượng ít nhiều quan trọng của những nhân tố biến đổi (nhân công, nguyên liệu, năng lượng, v.v.), miễn là những nhân tố này là chia nhỏ được và thích nghi được để có thể được kết hợp theo những tỉ lệ khác nhau với những nhân tố cố định. Trong những điều kiện này, khi số lượng được sử dụng của một nhân tố biến đổi, ví dụ lao động, tăng dần thì tổng sản lượng trước tiên tăng theo một tỉ lệ lớn hơn rồi, khi vượt quá một ngưỡng, tăng theo một tỉ lệ nhỏ hơn. Nói cách khác, những năng suất trung bình và cận biên của lao động trước hết tăng dần rồi giảm dần.
Print Friendly and PDF

21.4.15

Amartya Sen: Sự phát triển bị giam hãm


Amartya Sen (1933-)

Amartya Sen: Sự phát triển bị giam hãm 

Cuộc phỏng vấn nhà kinh tế lừng danh đoạt giải Nobel Amartya Sen: “Sự phát triển và bảo vệ năng lực con người là trọng tâm của những suy nghĩ về hoạch định chính sách. Sự hiểu biết đó làm sáng tỏ công việc của chúng ta. Nhưng đóng vai trò biện chứng hơn trong cuốn sách ‘Vinh Quang Bấp Bênh’ là sự nhận thức rằng rất nhiều nhà phân tích chính sách của Ấn Độ có thể đã bỏ qua yếu tố năng lực con người, vì nó không chỉ quan trọng cho bản thân mỗi người, mà sự phát triển năng lực con người còn là một cách tiếp cận cổ điển của Châu Á nhằm đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững.”
Jonathan Derbyshire: Lần đầu tiên chúng ta gặp nhau là 4 năm về trước. Khi đó, ông đã nói đến một điều mà tôi nghĩ có liên quan tới công việc chuẩn bị cho cuốn sách mới của ông, đồng tác giả với Jean Drèze: Vinh Quang Bấp Bênh (An UncertainGlory). Chúng ta đã nói về phe cánh tả của Ấn Độ. Ông nói: “Tôi đã từng phê phán rất nặng tình trạng cân bằng chính trị của phe tả ở Ấn Độ trong những năm gần đây. Một đảng phái có cam kết thực sự đối với những thành phần bị thua thiệt trong xã hội nên lo lắng nhiều hơn nữa so với những gì đang diễn ra, khi mà Ấn Độ có một tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao hơn bất cứ nơi nào trên thế giới”. Có phải nhận định sâu sắc đó, bất kể nhiều hay ít, chính là xuất phát điểm cho cuốn sách mới của ông hay không? Hay nói cách khác, ông quan tâm đến những thứ mà ông gọi là “mối quan hệ hai chiều” giữa “công bằng xã hội” (thuật ngữ của ông) và tăng trưởng kinh tế, điều vốn đã diễn ra rất ngoạn mục ở Ấn Độ trong 15 – 20 năm qua.
Amartya Sen: Chính xác là như vậy. Vào thời điểm đó, tôi không làm việc một cách hệ thống để xem xét các chỉ số phát triển khác như thế nào, nhưng tôi biết rằng chỉ số suy dinh dưỡng của chúng tôi [Ấn Độ] là ở mức rất thấp. Nhưng sau khi phát hiện ra rằng điều đó cũng xảy ra trên nhiều phương diện khác nhau – mức ổn định và an toàn y tế cho mọi người; hệ thống trường học vận hành tốt để mọi trẻ em có thể được đến trường thực sự; sự phổ cập tiêm chủng – trong mọi những lĩnh vực này, Ấn Độ dường như đang tụt hậu hơn so với nhiều quốc gia mà nước này đã vượt qua về thu nhập bình quân đầu người – ví dụ như Bangladesh. Vì vậy, bốn năm trước nảy ra một ý nghĩ làm tôi băn khoăn, luôn đeo bám tôi. Khi tôi cùng với người bạn và đồng cộng tác Jean Drèze tìm hiểu về chúng, vấn đề trở nên rõ ràng một cách có hệ thống, đó là Ấn Độ đang phát triển rất kém ở những phương diện này, ngay cả khi nó phát triển mạnh hơn các nền kinh tế lớn khác, với ngoại lệ là Trung Quốc (dù tỉ lệ tăng trưởng của nước này đã bị sụt giảm, tỉ lệ tăng trưởng vẫn ở mức thứ ba so với các nền kinh tế lớn, sau Trung Quốc và Indonesia).
Print Friendly and PDF