2.10.15

Paul A. Samuelson, nhà kinh tế tổng quát cuối cùng


Paul Samuelson (1915-2009)

Paul A. Samuelson, nhà kinh tế tổng quát cuối cùng

Là nhà kinh tế sớm phát triển, có nhiều bài viết và là nhà kinh tế tổng quát, Paul A. Samuelson đã biến đổi cách thức làm kinh tế từ giữa thế kỷ XX, bằng việc hình thức hóa, thông qua toán học, tất cả các lãnh vực của lý thuyết.
Paul Samuelson luôn là người ủng hộ nhà nước phúc lợi và một chủ nghĩa can thiệp quan trọng.
Paul Samuelson là một trong những nhà kinh tế phát triển sớm nhất và có nhiều bài viết nhất trong lịch sử của bộ môn. Vào năm 21 tuổi, ông bắt đầu công bố nhiều bài báo quan trọng và tiếp tục không ngừng trong một nửa thế kỷ, với một tốc độ chóng mặt. Năm tập của bộ Collected Writings (Các tuyển tập) có đến 388 bài, trong tổng số khoảng 500 bài. Vào năm 26 tuổi, ông bảo vệ một luận án tiến sĩ, xuất bản năm 1947, được coi là một tác phẩm quan trọng. Tại Đại học Harvard, người ta hối hận để ông ra đi đến học viện MIT năm 1940, chủ nghĩa bài Do Thái có lẻ đóng một vai trò nào đó trong sự kiện này.
Print Friendly and PDF

30.9.15

Cách tiếp cận kinh tế phi chính thống đã chết như thế nào ở Đức


Christian Chavagneux

Cách tiếp cận kinh tế phi chính thống đã chết như thế nào ở Đức

Các nhà kinh tế phi chính thống Pháp đang đấu tranh để khỏi chết[*]. Đồng nghiệp Đức của họ không được may mắn như thế: họ đã biến mất khỏi vũ đài. Một phân tích chính xác cho thấy là trào lưu mainstream đã tổ chức những điều kiện thể chế dần dần đẩy họ ra rìa để rồi biến mất.

Nỗi ám ảnh Mĩ

Đối với các nhà nghiên cứu Arne Heise và Sebastien Thieme, thế hệ các nhà kinh tế trẻ thời hậu chiến, chủ yếu được đào tạo tại Hoa Kì, có một mặc cảm tự ti trước sự toán học hóa và hình thức hóa tăng dần của “khoa học” kinh tế Mĩ.
Print Friendly and PDF

28.9.15

Phỏng vấn Olivier Blanchard



Olivier Blanchard (1948-)

Phỏng vấn Olivier Blanchard

Olivier Blanchard hiện nay là Class of 1941 Professor of Economics tại đại học Massachusetts Institute of Technology. Ông được biết đến nhất nhờ những công trình về một số vấn đề kinh tế vĩ mô bao gồm tính cứng nhắc của giá cả, những hiệu ứng của chính sách tài khóa, nguyên nhân của thất nghiệp tương đối cao ở Tây Âu, và gần đây hơn về những vấn đề kinh tế gắn với sự chuyển đổi của Đông Âu.
Chúng tôi phỏng vấn Giáo sư Olivier Blanchard trong văn phòng của ông tại đại học Harvard, ngày 30 tháng mười 1997, trong thời gian một năm ông rời khỏi MIT.

Thông tin căn bản

Giáo sư bắt đầu học kinh tế lúc nào và ở đâu?
Tôi bắt đầu học kinh tế ở Paris năm 1966. Nhưng phải đợi đến những biến cố năm 1968 tôi mới thật sự quan tâm đến kinh tế. Tôi ở Pháp đến năm 1973 và sau đó sang MIT để học PhD và đỗ bằng này năm 1977.
Giáo sư được biết đến đặc biệt nhờ những công trình về kinh tế học vĩ mô. Điều gì đã khơi lên mối quan tâm của giáo sư đối với kinh tế học vĩ mô?
Print Friendly and PDF

Blanchard: Nhìn tới, nhìn lui

Olivier Blanchard (1948-)
Blanchard: Nhìn tới, nhìn lui
Olivier Blanchard sẽ thôi giữ chức Cố vấn Kinh tế và Giám đốc Vụ Nghiên cứu của IMF vào cuối tháng Chín.
Ông sẽ gia nhập Viện Peterson về kinh tế học quốc tế vào tháng Mười với tư cách là thành viên cao cấp C. Fred Bergsten đầu tiên, một vị trí được đặt tên theo người sáng lập viện chính sách 35 tuổi có ảnh hưởng này, và có trụ sở tại Washington.
Khi Blanchard, một người Pháp và là cựu chủ tịch của khoa kinh tế học tại Viện Công nghệ Massachusetts, gia nhập IMF vào ngày 1 tháng 9 năm 2008, ít người ý thức được rằng ông sẽ là tâm điểm của một cơn bão kinh tế toàn cầu. Hai tuần sau đó, ngân hàng Lehman Brother sụp đổ, đánh dấu điều mà nhiều người coi là sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-09.
Khủng hoảng là một sự kiện gây chấn thương tâm lý khiến tất cả chúng ta phải đặt thành vấn đề nhiều niềm tin từng được nâng niu”, Blanchard nói. Điều này bao gồm việc chất vấn nhiều giả định khác nhau về vai trò của chính sách tài khóa, bao gồm quy mô của các số nhân thuế khóa, việc sử dụng trái với thông lệ các biện pháp về chính sách tiền tệ và các công cụ cẩn trọng bảo vệ toàn bộ hệ thống tài chính, các luồng vốn và biện pháp để kiểm soát chúng, các chính sách thị trường lao động và vai trò của tính linh hoạt vi mô và vĩ mô. “Và được đứng ở vị trí phát biểu những nghi ngờ trên đã cho tôi cơ hội để tạo ảnh hưởng”, ông nói.
Print Friendly and PDF

26.9.15

Chủ nghĩa thực dụng là điều tốt nhất trong việc cải cách kinh tế học

John Kay (1948-)

Chủ nghĩa thực dụng là điều tốt nhất trong việc cải cách kinh tế học

Chủ đề không giống như như triết học, trong đó giá trị đối với sinh viên nằm trong chính cuộc tranh luận.
Tuần trước tới Paris, tôi tham dự buổi hội thảo hàng năm của Viện Tư duy kinh tế mới (Institute for New Economic Thinking), một viện chính sách tập trung khuyến khích việc phát triển các lý thuyết mới và thực hành trên thực địa. Đã có rất nhiều cuộc thảo luận về việc cải cách chương trình giảng dạy kinh tế học tại đại học. Cuộc tranh luận tập trung vào một giáo trình sửa đổi về nhập môn kinh tế học được Wendy Carlin thuộc Đại học University College London và một nhóm các cộng tác viên hàn lâm soạn thảo. Chương trình giảng dạy mới đang được thử nghiệm ngày nay.
Print Friendly and PDF

24.9.15

Đại học Stanford tuyển các siêu sao về kinh tế học như thế nào



Đại học Stanford tuyển các siêu sao về kinh tế học như thế nào
Trọng tâm của lực hấp dẫn về tư tưởng kinh tế ở Hoa Kỳ từ lâu đã được tìm thấy nằm dọc theo hai dặm ở Cambridge, Massachusetts, chạy dài giữa Đại học Harvard và trường M.I.T. Nhưng đã có một sự cạnh tranh mới về danh hiệu đó, và nó ở khá xa về phía Tây.
Đại học Stanford đã thu hút một đội hình toàn sao các nhà kinh tế học đến Palo Alto, California, trong vài năm gần đây – và đánh bật Đại học Harvard và trường MIT (Massachusetts Institute of Technology) trong nỗ lực lôi kéo các nhà kinh tế học của Đại học Stanford.
Print Friendly and PDF

Nhà kinh tế học đối lại Kinh tế học



Dani Rodrik (1957-)

Nhà kinh tế học đối lại Kinh tế học

CAMBRIDGE – Kể từ cuối thế kỷ XIX, khi kinh tế học, ngày càng chấp nhận toán học và thống kê, và có tham vọng trở thành một bộ môn khoa học, thì các nhà kinh tế thực hành đã bị cáo buộc mắc phải nhiều tội lỗi. Những cáo buộc – bao gồm sự ngạo mạn, không chú ý đến các mục tiêu xã hội ngoài vấn đề thu nhập, chú ý quá nhiều đến các kỹ thuật hình thức, và thất bại trong việc dự đoán những phát triển kinh tế lớn như các cuộc khủng hoảng tài chính – thường phát sinh từ những người ngoài cuộc, hoặc từ một nhóm nhỏ theo phái phi chính thống. Nhưng gần đây có vẻ như là thậm chí các nhà lãnh đạo của giới kinh tế học cũng không hài lòng.
Paul Krugman, người đoạt giải Nobel và cũng là một cây bút bình luận cho các báo, có thói quen phê phán gay gắt thế hệ mới nhất các mô hình về kinh tế học vĩ mô vì đã xem nhẹ các chân lý lỗi thời của Keynes. Paul Romer, một trong những người sáng tạo lý thuyết tăng trưởng mới, đã cáo buộc một số tên tuổi hàng đầu, bao gồm Robert Lucas, người đoạt giải Nobel, về điều mà ông gọi là "mathiness (các nghiên cứu kinh tế lạm dụng quá mức các mô hình toán học - ND)" – sử dụng toán học để làm tối nghĩa hơn thay vì làm rõ nghĩa hơn.
Print Friendly and PDF

22.9.15

Đạo đức và thị trường

Jean Tirole (1953-)

Đạo đức và thị trường

Quan điểm của Jean Tirole, chủ tịch Trường Kinh tế Toulouse và giải Nobel Kinh tế năm 2014.

Các giới hạn đạo đức của thị trường ...

Trong con mắt các nhà kinh tế học, thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực mạnh mẽ. Nó cũng bảo vệ công dân chống các cuộc vận động ở hành lang nghị viện và quyền tùy ý quyết định, vốn có mặt trong các nền kinh tế kế hoạch hóa, nơi mà các cơ chế phân bổ nguồn lực mang tính tập trung hơn. Vì những lý do trên, nó đóng vai trò trung tâm trong đời sống kinh tế. Nhưng việc hưởng lợi các ưu điểm của thị trường thường đòi hỏi phải xa rời tự do kinh doanh. Trong thực tế, các nhà kinh tế học đã dành nhiều nghiên cứu để nhận diện các khuyết tật của thị trường và cách thức điều chỉnh chúng bằng các chính sách công: luật cạnh tranh, sự điều tiết của các cơ quan ngành và cơ quan giám sát, đánh thuế các ngoại ứng môi trường hoặc các ngoại ứng tắc nghẽn, chính sách tiền tệ và bình ổn tài chính, cơ chế cung ứng các sản phẩm được bảo hộ như giáo dục và y tế, phân phối lại, v.v.
Các chuyên gia trong các ngành khoa học xã hội khác (các nhà triết học, nhà tâm lý học, nhà xã hội học, luật sư và nhà khoa học chính trị ...), một phần lớn xã hội dân sự, và hầu hết các tôn giáo đều có một tầm nhìn khác nhau về thị trường. Trong khi thừa nhận ưu điểm của thị trường, họ thường đổ lỗi các nhà kinh tế học do chưa xem xét đúng mức các vấn đề đạo đức, và nhu cầu thiết lập một ranh giới rõ ràng giữa các lãnh vực thị trường và phi thị trường.
Print Friendly and PDF

20.9.15

Ronald Coase, nhà tiên phong của kinh tế học thể chế mới



Ronald Coase (1910-2013)

Ronald Coase, nhà tiên phong của kinh tế học thể chế mới

Là một nhà kinh tế phi điển hình, quan tâm rất sớm đến kinh tế học công nghiệp, Ronald Coase đã làm nổi bật sự tồn tại của chi phí giao dịch và đặt nghi vấn về hiệu quả của các quy định công.
Ronald Coase đã thành lập Hội vì một kinh tế học thể chế mới, nhằm mục đích cải cách kinh tế học.
Ronald Coase chiếm một vị trí đặc biệt trên bàn cờ tư tưởng kinh tế đương đại. Là người theo trường phái xã hội chủ nghĩa từ thời trẻ, ông được Arnold Plant, giáo sư tại trường London School of Economics, thuyết phục về tính chính xác của ẩn dụ bàn tay vô hình của Adam Smith, những lợi ích của kinh tế thị trường và tác hại của sự can thiệp nhà nước. Nhưng ông cũng đồng thời phê phán rất mạnh kinh tế học chính thống (mainstream economics), trường phái kinh tế mà ông cáo buộc là tự nhốt mình trong những phân tích trừu tượng và không nghiên cứu sự vận hành thực sự của nền kinh tế. Kinh tế học này xử lý những thực thể như doanh nghiệp, thị trường, sự hài lòng của người tiêu dùng, mà không đặt câu hỏi về bản chất của các thực thể ấy. Bài viết của Coase về The Lighthouse in Economics (Ngọn hải đăng trong kinh tế học) (1974) đưa ra một minh chứng soi sáng vấn đề trên. Từ một nghiên cứu tỉ mỉ ghi chép về lịch sử của ngành hải đăng ở Anh từ thế kỷ XVI, ông cho thấy cách thức các nhà kinh tế lớn, từ John Stuart Mill đến Paul Samuelson, đã lạc lối khi "soi sáng" lập luận của họ bằng một ví dụ hoàn toàn không thỏa đáng, mà họ chưa bao giờ bõ công để nghiên cứu sự vận hành, chỉ dựa vào những định kiến.
Print Friendly and PDF

18.9.15

Sự mù lòa của các nhà kinh tế



Robert Boyer (1943)

Sự mù lòa của các nhà kinh tế

Kinh tế học là một “khoa học cứng” hay là một khoa học xã hội vận dụng cả chính trị học, xã hội học và lịch sử học? Cuộc tranh luận đến hồi quyết liệt giữa các nhà kinh tế chính thống và phi chính thống. Các nhà kinh tế phi chính thống bị Jean Tirole xem gần như là những kẻ “ngu dân” vô cùng quan ngại trước sự độc quyền của các nhà “tân cổ điển” trong giáo dục và nghiên cứu. Robert Boyer, cựu sinh viên trường Bách Khoa và nhà sáng lập trường phái điều tiết trả lời phỏng vấn của Mariane. Những suy tưởng loại bỏ các thói quen xưa cũ và mang tính đổi mới.
Mariane: Ông có thể tóm tắt nhanh cuộc xung đột đang chia rẽ các nhà kinh tế trong đại học Pháp?
Hàng trăm giảng viên và nhà nghiên cứu mong muốn mở ra một ban mới bổ sung cho ban “Các khoa học kinh tế” (Sciences économiques) hiện nay. Định chế “Các thể chế, kinh tế học, các lãnh thổ và xã hội” (Institutions, économie, territoires et société) sẽ sử dụng những công cụ của sử học, nhân học, và xã hội học để tìm hiểu thế giới. Ở phía đối lập, các nhà kinh tế chính thống sử dụng mọi phương tiện họ có trong tay để bảo tồn một kinh tế học chủ yếu mang tính toán học.
Print Friendly and PDF