11.4.15

Adam Smith, ít tự do hơn người ta nghĩ


Adam Smith (1723-1790)

Adam Smith, ít tự do hơn người ta nghĩ

Adam Smith không phải là người ủng hộ dữ dội thuyết kinh tế học tự do triệt để mà người ta thường giới thiệu. Ông tự nhận mình trước hết là một nhà đạo đức học và nhà triết học.
Adam Smith là nhà kinh tế học nổi tiếng nhất và được biết đến nhiều nhất trong số các nhà kinh tế học. Ngoài ra, ông thường được coi là người sáng lập ra ngành học này. Phải nói rằng tác phẩm Những nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các quốc gia vừa là cuốn sách chuyên luận vĩ đại đầu tiên và vừa là cuốn sách gặt hái nhiều thành công nhất. Adam Smith còn thường được coi là người bảo vệ không khoan nhượng của thuyết kinh tế học tự do triệt để qua ẩn dụ nổi tiếng của ông về bàn tay vô hình. Chính như vậy mà ông được những người ủng hộ thuyết tân tự do đương thời coi là bậc thầy của tư tưởng họ.
Một định kiến còn rất nhiều tranh cãi: Adam Smith hẳn sẽ tức lộn ruột trong mộ của ông nếu có thể thấy được ngày nay những luận đề của mình được sử dụng như thế nào. Thậm chí người ta cũng không chắc rằng ông sẽ thích được mô tả như là một nhà kinh tế học. Ông tự nhận mình là một nhà triết học hơn và xem cuốn Lý thuyết về những tình cảm đạo đức của ông, cuốn sách ông đã hiệu chỉnh lại đến hơi thở cuối cùng của mình, như là tác phẩm xuất sắc nhất của mình. Tựa của hai cuốn sách chính của ông đã được khắc đúng cùng một loại chữ trên bia mộ của ông trong một nghĩa trang nhỏ ở Edinburgh, nơi mà ông được chôn cất.
Print Friendly and PDF

9.4.15

If I Ruled The World



Michael Sandel (1953)

Nếu tôi thống trị thế giới

Đã đến lúc lập lại sự khác biệt giữa hàng hóa và vàng
Nếu tôi thống trị thế giới, tôi sẽ biên soạn lại sách giáo khoa kinh tế học. Đây có vẻ là một tham vọng tầm thường, không phù hợp với văn phòng làm việc thuộc chủ quyền của tôi. Nhưng đây thực sự sẽ là một bước tiến lớn đi đến cuộc sống dân sự hoàn mỹ hơn. Ngày nay, chúng ta thường hay lẫn lộn giữa lý lẽ thị trường và lý lẽ xã hội. Chúng ta rơi vào suy nghĩ cho rằng hiệu quả kinh tế - thể hiện ở việc phân bổ hàng hóa cho những người có mức sẵn lòng trả và có khả năng trả mức giá cao nhất cho hàng hóa đó – xác định hành hóa thông thường. Nhưng đây là một sai lầm.
Hãy xét trường hợp thị trường tự do mua bán nội tạng con người –như thận chẳng hạn. Theo lý lẽ kinh tế trong sách giáo khoa thì người ta không thể phản đối những đề xuất như vậy. Nếu người mua và người bán có thể nhất trí một mức giá nào đó cho một quả thận, giao dịch này phỏng chừng sẽ mang lại lợi ích cho cả hai. Người mua có được một cơ quan nội tạng để cứu mạng sống, và người bán kiếm được đủ tiền để bù đắp xứng đáng cho sự hy sinh. Giao dịch như vậy là có hiệu quả về mặt kinh tế theo nghĩa quả thận được trao cho người đánh giá nó cao nhất.
Nhưng logic này không hoàn chỉnh vì hai lý do. Thứ nhất, điều tưởng chừng như tự do trao đổi có thể không thực sự tự nguyện. Trong thực tế, người bán thận có khả năng gồm những người bất lực tuyệt vọng trong việc kiếm tiền để nuôi sống gia đình hay cho con cái đi học. Lựa chọn bán thận của họ không thực sự là tự do, mà do bị ép buộc, bởi chính hoàn cảnh không còn hy vọng của họ.
Do vậy, trước khi chúng ta có thể tuyên bố một giao dịch thị trường nào đó là đáng mong đợi hay không, chúng ta phải xác định điều gì được xem là lựa chọn tự do thay vì lựa chọn ép buộc. Và đây là một vấn đề quy phạm, một chủ đề của triết học chính trị.
Print Friendly and PDF

7.4.15

Turgot, lý thuyết gia của chủ nghĩa tư bản, người bảo vệ chủ nghĩa tự do



Turgot, lý thuyết gia của chủ nghĩa tư bản, người bảo vệ chủ nghĩa tự do
Lý thuyết gia của chủ nghĩa tư bản tiên phong, Turgot được vua Louis XVI bổ nhiệm làm Tổng thanh tra tài chính, đã thất bại trong nỗ lực áp dụng chương trình kinh tế tự do vào nước Pháp.
Turgot là một trong số ít các nhà lý thuyết gia kinh tế đạt được quyền lực chính trị.
Có rất nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng, từ thời trọng thương đến thời điểm hiện tại, giữ chức cố vấn cho bậc Quân vương. Thông thường, nhiệm vụ của họ là biện minh cho những quyết định chính trị đã được chuẩn y. Đây là cách hành động thận trọng nhất để duy trì một vị trí có lương cao. Rất hiếm khi, các nhà kinh tế học vươn tới được quyền lực chính trị. Anne Robert Jacques Turgot, thường được gọi là Turgot, là một trong số những người đó, và là một trong số ít những người toan thực hiện các ý tưởng của mình.
Chính trong thời kỳ của ông mà ở Pháp xuất hiện tên gọi "nhà kinh tế học" để chỉ những người trọng nông, môn đồ của Quesnay. Turgot chịu ảnh hưởng của những người trọng nông, trước hết thông qua Vincent de Gournay (1712-1759), quan toàn quyền ở bộ thương mại, thương gia và nhà cải cách chống học thuyết trọng thương, người mà ông tháp tùng trong các chuyến thanh tra ở các tỉnh nước Pháp năm 1756 và 1757. Giống như nhiều nhà tư tưởng vĩ đại của thời ông, Turgot là một học giả đa tài, từ thần học đến luật học trước khi phục vụ trong mười ba năm với chức danh quan toàn quyền vùng Limousin, và sau đó tham gia vào Hội đồng cố vấn nhà vua, đầu tiên với chức danh là Bộ trưởng Bộ hàng hải và sau đó là Tổng thanh tra Tài chính từ năm 1774 đến 1776.
Print Friendly and PDF

5.4.15

Hàng hóa hóa xã hội


Hàng hóa hóa xã hội

Giáo sư triết học chính trị ở Harvard, Michael Sandel tra vấn cơ năng của thị trường vốn đang có xu hướng mở rộng ảnh hưởng đến tất cả mọi tầng lớp trong xã hội
Tuần báo Đức Die Zelt xem ông là “giáo sư nổi tiếng nhất thế giới”. Với bài giảng của ông về công bằng phát trên mạng và trên truyền hình, giáo sư triết học chính trị Michael Sandel của đại học Harvard đã chinh phục cả triệu người trên hành tinh, từ Trung Quốc đến Hoa Kì, ngang qua châu Âu. Tiền không mua được gì? Những giới hạn đạo đức của thị trường, quyển sách cuối cùng của ông là lời kêu gọi từ chối logic lệch lạc của thị trường và thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc tranh luận công cộng vì nền dân chủ.   
Le Temps: Nên chăng phải lo ngại sự thống trị ngày ngày càng tăng của những giá trị của thị trường trên xã hội?
Michael Sandel: Trong ba thập kỉ qua, tôi đã nhận thấy một xu hướng nặng không chỉ giới hạn ở Hoa Kì. Hầu hết các nền dân chủ, vốn đã lấy nền kinh tế thị trường làm mô hình, đã tự biến đổi, mà chúng ta không nhận ra, thành những xã hội thị trường. Tự bản thân nó, kinh tế thị trường là một công cụ hiệu quả để tổ chức những hoạt động sản xuất. Một xã hội thị trường thì có vấn đề hơn. Trong xã hội này, mọi thứ đều có một giá. Những giá trị của thị trường bắt đầu xâm lấn vào mọi ngõ ngạch của cuộc sống, từ gia đình đến những quan hệ cá nhân, qua đến sức khỏe, giáo dục, chính trị và đời sống công dân.
Quyển sách của tôi đặt một câu hỏi đơn giản: nên chăng phải lo ngại sự thống trị của tư duy hàng hóa trên xã hội? Câu trả lời rõ ràng là vâng. Khi người ta càng có khả năng mua đồ vật thì điều kiện sống của người nghèo càng tồi tệ. Việc gán một giá cho gần như mọi thứ càng đào sâu hơn những bất bình đẳng. Nếu vấn đề chỉ là có thể mua một chiếc du thuyền hay một chiếc xe hơi đẹp, thì chuyện những bất bình đẳng không quan trọng đến thế. Nhưng khi đồng tiền quyết định việc tiếp cận một mức bảo hiểm y tế tàm tạm, một nền giáo dục tốt và khả năng gây ảnh hưởng chính trị thì phải bắt đầu gióng lên hồi chuông báo động.
Print Friendly and PDF

3.4.15

François Quesnay, nhà sáng lập thuyết trọng nông



François Quesnay, nhà sáng lập thuyết trọng nông

Vào cuối thế kỷ XVIII, François Quesnay phát triển mô hình kinh tế vĩ mô đầu tiên: "Biểu kinh tế". Những ý tưởng của ông đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử tư tưởng kinh tế và tác động đến nhiều tác giả, trong đó có Marx và Keynes.
François Quesnay qua cuốn "Biểu kinh tế" của ông cho thấy tiền bạc và hàng hóa phải lưu thông như thế nào để đảm bảo tăng trưởng kinh tế.
Trong số những nhà kinh tế học vĩ đại trong quá khứ, François Quesnay (1694-1774) ít nổi tiếng hơn Adam Smith. Nhưng công trình của ông là một trong những công trình quan trọng nhất. Công trình đó đã tác động đến Smith và nhiều người kế thừa lừng lẫy nhất của ông ấy. Là người sáng lập trường phái kinh tế học đích thực đầu tiên, trường phái trọng nông, với "biểu kinh tế", Quesnay đã cho ra đời mô hình kinh tế học vĩ mô đầu tiên.
Giống như tất cả các nhà kinh tế học vĩ đại, nổi tiếng cho đến thế kỷ XX, Quesnay trước hết là một nhà tư tưởng xã hội. Ông có một tầm nhìn toàn diện về hoạt động của xã hội. Tầm nhìn này được dựa trên niềm tin triết học được rút ra từ việc đọc những triết gia Hy Lạp, Descartes, Malebranche và Shaftesbury, kết hợp thuyết chủ trí của Descartes với thuyết duy cảm của người Anh. Dành phần lớn sự nghiệp của mình trong ngành phẫu thuật và y học, ông đã viết nhiều cuốn sách trong các lĩnh vực này. Thích tranh luận, ông can thiệp vào cuộc tranh cãi lúc bấy giờ đối lập thầy thuốc với nhà phẫu thuật, các bác sĩ xem các nhà phẫu thuật là như những kỹ thuật viên giống như thợ cắt tóc.
Print Friendly and PDF

1.4.15

Lí thuyết thống trị giống như một hệ thống tín ngưỡng


Steve Keen (sinh năm 1953)

“Lí thuyết thống trị giống như một hệ thống tín ngưỡng”

Từ những xét lại về mặt lí thuyết trong nhiều thập kỉ đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007, dường như không gì có thể làm lung lay niềm tin của lí thuyết tân cổ điển thống trị.
Giáo sư nói rằng về mặt nghiên cứu kinh tế, các nhà kinh tế nào không chấp nhận kinh tế học tân cổ điển thống trị đều bị thanh trừng khỏi đại học. Việc này xảy ra lúc nào và bằng cách nào?
Chuyện bắt đầu từ những năm 1960, khởi động với cuộc chiến giữa “hai trường đại học Cambridge”, giữa đại học ở Vương quốc Anh và đại học cùng tên ở bang Massachusetts, ở Hoa Kì. Đối với người không chuyên, cuộc tranh luận có vẻ bí hiểm, vì nó nhắm vào cách định nghĩa “tư bản” (xem khung). Lời qua tiếng lại căng thẳng đến mức là sự tức giận của các nhà kinh tế thống trị đối với những người phê phán họ gia tăng mạnh mẽ. Đến độ là nếu các nhà kinh tế ở bên kia bờ biển Manche đã giành thắng lợi trong cuộc chiến trí tuệ, như nhà kinh tế Mĩ Paul Samuelson đã thừa nhận, thì lí thuyết thống trị đã đơn giản không thèm biết đến luận chứng của những người chống đối trong việc xây dựng cách nhìn thế giới của lí thuyết này.
Sau này, mọi đề xuất bài nghiên cứu toan nghiêm túc đặt lí thuyết thống trị thành vấn đề lần hồi bị các tạp chí có ảnh hưởng nhất bác bỏ một cách triệt để. Những người chủ trương các tạp chí này còn không cung cấp những lập luận để phản bác cách tiếp cận của các bài nghiên cứu ấy: đơn giản là các bài này không được đưa vào quy trình đánh giá để được gởi đến lấy ý kiến của những chuyên gia khác!
Print Friendly and PDF

30.3.15

Ferdinando Galiani chống lại chủ nghĩa giáo điều kinh tế

Ferdinando Galiani chống lại chủ nghĩa giáo điều kinh tế

Là một học giả phát triển sớm, Galiani quan tâm rất sớm đến quy chế tiền tệ. Ông công kích các luận điểm ủng hộ chủ trương tự do kinh doanh. Và lên án "giáo phái" của những nhà kinh tế học tin vào sự tồn tại các quy luật phổ quát của nhân loại.
Đối với Ferdinando Galiani, sẽ là điều rất nguy hiểm khi đưa ra những kết luận chính trị từ những trừu tượng hóa mang tính phổ quát.
Ferdinando Galiani là một thiên tài bao biện. Quan tâm đến thần học, trong một số những ngành khác, là tác giả bài viết ca tụng Đức Giáo Hoàng Benedict XIV, nhưng ông chỉ là thầy tu trên danh nghĩa. Trong suốt sự nghiệp, ông giữ nhiều chức vụ quản lý hành chính quan trọng, trong đó có Bí thư Đại sứ quán Vương quốc Naples ở Paris, từ năm 1759 đến 1769. Là nhà La tinh học hoàn hảo, ông là tác giả của hai nghiên cứu về Horace, trong đó ông tự so sánh với Horace vì bản thân cũng sáng tác được thơ. Ông viết một cuốn sách về phương ngữ của Naples. Đam mê sử học, địa lý học và khảo cổ học, ông tham gia vào các cuộc khai quật Herculaneum. Thỉnh thoảng là nhà địa chất học, ông đã cố giải thích sự phun trào của núi lửa Vésuve, và suy đoán về nguồn gốc của điện và sấm sét.
Là người khéo nói chuyện, khéo kể chuyện, trào phúng và không trọng truyền thống, nên sự cao hứng, văn hóa và óc hài hước sắc bén của Galiani, như cá gặp nước, được đánh giá cao trong giới thượng lưu ở Paris của những năm 1760. Trong số những người thân thiết với ông có Diderot, nam tước d'Holbach, Grimm - người bảo hộ của gia đình Mozart - và quý bà Madame d'Epinay, người mà những thư từ của ông gửi cho quý bà được xuất bản thành năm tập. Diderot, người mà ông ấy đã hướng dẫn bước đầu về kinh tế học và chính trị học, đã viết về Galiani như sau: "Tôi yêu quý vị cha dòng này đến phát điên". Diderot là tác giả của hai bài viết bảo vệ ý tưởng của Galiani chống lại những người gièm pha ông ấy.
Print Friendly and PDF

28.3.15

Học thuyết cận biên



Học thuyết cận biên

Marginalism
Học thuyết cận biên ra đời vào khoảng những năm 1870, gây nên một cuộc cách mạng khoa học thật sự trong lí thuyết kinh tế. Cuộc đảo lộn này đã diễn ra trong lí thuyết giá trị. Cuộc cách mạng này bộc lộ hết ý nghĩa của nó qua việc đoạn tuyệt với lí thuyết giá trị gắn bó với trường phái cổ điển, đặc biệt là trường phái cổ điển Anh. Sau khi nhận diện ý nghĩa của lí thuyết cổ điển về giá trị, ta được trang bị tốt hơn để hiểu bản chất của cuộc cách mạng cận biên.  

Điểm xuất phát: lí thuyết cổ điển về giá trị

Xin nhắc lại rằng thuật ngữ lí thuyết giá trị được hiểu như là bộ phân của lí thuyết kinh tế nhằm giải thích những quan hệ giữa giá cả của những hàng hoá và dịch vụ. Lí thuyết được xem là giải thích cho chúng ta hiểu, ví dụ, quan hệ giữa giá một chiếc xe và giá một cân bơ. Cho mỗi hàng hoá, có một giá được xác lập trên các thị trường; toàn bộ những quan hệ giữa những giá khác nhau này, được thể hiện bằng đơn vị tiền tệ, hợp thành điều được gọi là hệ thống những giá tương đối. Lí thuyết giá trị không gì khác hơn là lí thuyết những giá tương đối và giữ một vị trí trung tâm trong lí thuyết kinh tế. Không phải lúc nào tầm quan trọng của lí thuyết này cũng đuợc nhận thức rõ ràng: đó là vì giá cả là những tín hiệu hướng dẫn và phương tiện định hướng nhiều hơn là những công cụ đo đạc. Nếu không có giá cả thì các tác nhân kinh tế sẽ được trang bị giống như người đi biển không có la bàn: các tác nhân chỉ phải vật lộn với những sản phẩm và dịch vụ hỗn tạp nên không thể xác định một cách duy lí việc phân bổ các nguồn lực của mình. Thế mà đối với các tác nhân sự cần thiết phải lựa chọn là một tất yếu trong tất cả những tình thế của đời sống kinh tế: làm thế nào một nguời tiêu dùng phân bổ chi tiêu của mình giữa thịt và cà chua? bằng cách nào một doanh nghiệp lựa chọn ga hay điện làm nguồn năng lượng? Chính hệ thống giá cả sẽ cho phép tiến hành những lựa chọn này một cách duy lí, bằng cách chuyển đổi những đơn vị vật lí thành đơn vị giá trị và nhờ đó mỗi chủ thể có khả năng áp đặt một tính chặt chẽ thật sự cho những lựa chọn kinh tế của mình.
Print Friendly and PDF

26.3.15

Antoine de Montchrestien, nhà phát minh kinh tế học chính trị



Antoine de Montchrestien, nhà phát minh kinh tế học chính trị

Là nhà kinh tế và nhà văn, Antoine de Montchrestien là một đại diện của trường phái trọng thương. Trong phân tích của ông, trong đó kinh tế và chính trị có vai trò ngang nhau, thương mại nổi lên là cách ưu tiên để đảm bảo quyền lực của nhà nước và sự ổn định của xã hội.
Công việc buôn bán lông thú ở thế kỷ XVI. Theo Montchrestien, thương nhân là gương mặt chính của nền kinh tế.
Cuộc đời của Antoine de Montchrestien[1] sóng gió như những vở bi kịch của ông, mang dấu ấn của bạo lực và tội ác. Mồ côi từ nhỏ, ông suýt chết trong một trận đấu tay đôi ở tuổi 20, trước khi làm giàu bằng việc truy tố kẻ tấn công ông ra tòa. Để thoát đoạn đầu đài sau khi giết chết con trai của Sieur de Grichy-Moinnes trong một trận đấu tay đôi khác, ông buộc phải lưu vong trong năm năm, khi đơn xin ân xá bị vua Henry IV bác. Cuối cùng, ông đã được ân xá nhờ sự can thiệp của vua nước Anh, Jacques I, khi diễn vở kịch Người phụ nữ Scotland. Nhà vua là con trai của Mary Stuart, nhân vật anh hùng nữ trong vở bi kịch của ông.
Là người quen thuộc tòa án, ông giúp một người phụ nữ kiện chồng, một "quý ông giàu có, nhưng xấu xí về ngoại hình và ngu xuẩn về đầu óc." Ông lấy bà ấy làm vợ sau khi chồng bà ấy chết và tài sản tiếp thu được cho phép nhà viết kịch trở thành doanh nhân và thương gia.
Print Friendly and PDF

24.3.15

Lợi ích



Lợi ích

Utility
® Giải Nobel: ALLAIS, 1988 ARROW, 1972 DEBREU, 1983 HARSANYI, 1994 HICKS, 1972 VICKREY, 1996
Khái niệm lợi ích xuất hin trong những năm 1870 và gắn liền với tên của ba nhà kinh tế được biết đến nhờ những công trình của họ về học thuyết cận biên: người Anh W. S. Jevons (1835-1882), người Áo C. Menger (1840-1921) và người Pháp L. Walras (1834-1910). Khái niệm này, tương ứng với việc biểu trưng mức độ thoả mãn một tác nhân kinh tế thu được từ việc có được một lượng nhất định của một sản phẩm, được gọi là lợi ích bản số. Cách tiếp cận tâm lí này về lợi ích nhằm đo cường độ của một thực thể định tính, sự thoả mãn, bị V. Pareto (1848-1923) phản bác và tỏ ra nghi ngờ nghiêm trọng đối với tính đo được cường độ này. Như thế xuất hiện một khái niệm thứ hai về lợi ích: khái niệm lợi ích thứ tự mà đối tượng chỉ là biểu trưng thứ tự của những sở thích trên một tập những phần tử được đề nghị cho một tác nhân kinh tế lựa chọn. Phải đợi đến giữa thế kỉ XX mới xuất hiện một khái niệm thứ ba về lợi ích. Được J.-von Neumann (1903-1957) và O. Morgenstern (1902-1977) đề nghị, khái niệm này dựa trên một hệ thống tiên đề toán học cho phép gán cho khái niệm cương vị của một độ đo. Lợi ích neumannian cho phép đo cường độ thoả mãn phân cách những chênh lệch lợi ích. Lợi ích này cũng là cơ sở của lí thuyết những lựa chọn trong tình thế bất trắc.
Print Friendly and PDF